N, 00-00-2011   00 :00:00

Quý Vị Đang Xem Tin - Bài Viết Trước Tháng 06 Năm 2014

75 Năm Chủng Viện Thừa Sai KonTum (1935-2010)(4)
(30:12:2011 |03:40 AM)
D. GIAI ĐOẠN 1995-2010
 ĐỨC CHA PHÊRÔ TRẦN THANH CHUNG
 1. Năm 1995-2003

GPKONTUM (18/01/2011) KONTUM. Vào ngày 13-4-1995, ĐỨC CHA  PHÊRÔ TRẦN THANH CHUNG, kế nhiệm Đức cha Alexis, với khẩu hiệu “DILEXIT ME” (NGÀI ĐÃ YÊU THƯƠNG TÔI) (Gl 2,20). Đức cha Phêrô tìm phương thế tiếp tục đào tạo linh mục tương lai trong các nơi thuận tiện với những môn học cần thiết cho công tác mục vụ sau này nhất là lòng đạo đức, tinh thần truyền giáo, thích hợp linh mục thừa sai, phục vụ cho những tín hữu vùng sâu vùng xa. Ngài đặt Cha Lui Gonzaga Nguyễn Hùng Vị làm BỀ TRÊN CHỦNG VIỆN THỪA SAI KONTUM (năm 1995) với mọi quyền hạn và trách nhiệm theo giáo luật. Cha G.B. Trần Quang Truyền, linh hướng cho chủng sinh (1995-2003) và ban giáo sư gồm một số cựu chủng sinh có văn bằng và nhiệt huyết. Việc học văn hoá của các chủng sinh có chất lượng, được đánh giá cao trong thi cử và học tập tại Đại Chủng viện.

2. Hướng đi: Đào tạo văn hoá và tinh thần đức tin cao

+ Các ứng sinh cần có một đức tin cương vững với tinh thần phó thác vào đường lối khôn ngoan và yêu thương của Chúa. Ngài thường huấn đức: Chúa viết thẳng trên những đường cong.

+ Phục vụ cho anh em người nghèo, nhất là anh em dân tộc.

+ Vấn đề văn hoá: chủng sinh phải qua hết cử nhân gồm 1 năm dự bị và 3 năm (hoặc 4 năm) đại học.

+ Các ứng sinh sống đời tập thể trong tinh thần cộng đoàn, đào sâu  giáo lý cũng như học La ngữ chuẩn bị cho giai đoạn lên Đại Chủng viện.

3. Khó khăn

Giai đoạn nào cũng có những khó khăn, nhưng đặc biệt trong giai đoạn này về: hộ khẩu và lý lịch. Theo truyền thống, Chủng viện Thừa sai Kontum quy nạp các ứng sinh từ các giáo phận khác tới phục vụ Giáo phận Kontum, một giáo phận truyền giáo. Nhưng theo quy chế nhà nước đòi hỏi, các ứng sinh từ các địa phận khác tới phải có hộ khẩu thường trú tại giáo phận, cần lý lịch rõ ràng và trong sáng. Đây là những rào chắn lắm lúc như không thể vượt qua. Năm 1998 đợt đầu vào Đại Chủng viện Huế: khó khăn vì hộ khẩu, lý lịch cá nhân, gia đình, cũng như 2 năm một lần vào đại chủng viện theo chu kỳ năm chẵn… Vì thế, một số chủng sinh đã bị kẹt  lại, 2, 3 năm hoặc 5, 7 năm mới được vào Đại Chủng viện. Tuy nhiên, chủng sinh những khoá đầu đã lớn tuổi, trưởng thành, học vấn căn bản, có tư cách và hướng đi vững chắc, nên đã được tiến chức linh mục tỷ lệ rất cao, phục vụ tốt trong thừa tác linh mục.

ĐỨC CHA MICAE HOÀNG ĐỨC OANH (2003-2010)


1. Ngày 28-8-2003, Cha Micae HOÀNG ĐỨC OANH, được tấn phong làm Giám mục Chính toà Kontum với khẩu hiệu “PATER NOSTER(LẠY CHA CHÚNG CON) (Mt 6,9), kế nhiệm Đức cha Phêrô TRẦN THANH CHUNG nghỉ hưu. Thời cuộc thay đổi khá nhiều mặt, số lượng linh mục trong giáo phận ít, không đáp ứng nhu cầu mục vụ ngày càng cao: số lượng dân nhập cư ngày càng đông, địa bàn mục vụ cho tín hữu Kinh cũng như dân tộc ngày càng rộng.

Số anh em lương dân nhập cư vào địa bàn Tây Nguyên, trong đó tại Giáo phận Kontum, đột ngột lên cao theo những trục lộ, tạo nên thế mất quân bình nhiều mặt. Đây là những vấn đề  được Giám mục luôn suy nghĩ và tìm phương thức giải quyết. Với tinh thần của một “Hội Thừa sai Bản xứ” đã được định hình từ thời Đức cha Jannin, Giám mục tiên khởi của Giáo phận, Đức cha Micae mời gọi các linh mục, tu sĩ nam nữ từ các nơi đến làm vườn nho giáo phận. Với ý chí và tầm nhìn loan báo Tin Mừng, ngài đã phần nào trải rộng số linh mục và các hội dòng vào những nơi xung yếu khắp giáo phận. Lúc đầu gặp nhiều khó khăn về hộ khẩu, cơ sở, chưa quen phong thổ…, bị chèn ép bên ngoài; nhưng với tinh thần mục tử với linh đạo truyền giáo và chứng nhân, các linh mục, tu sĩ dần dần tạm ổn, dù nay vẫn còn gặp chông gai, nhiêu khê và thập giá.

2. Hướng đào tạo chủng sinh

Việc đào tạo chủng sinh cho giáo phận vẫn là con đừơng dài và đầy thử thách, gian khổ tiếp nối gian khổ.

+ Mối tương giao với thế giới mang tính cách đa diện, nhất là giao tiếp với thế giới bằng Anh ngữ ngày càng bao quát trong nhiều phạm vi: kinh tế, xã hội, văn hoá, tôn giáo… Mặt khác, việc đào tạo linh mục phục vụ người nghèo, hiện diện và làm mục vụ trong nếp văn hoá vùng Tây Nguyên với những đòi hỏi thích hợp với cuộc sống cụ thể của dân sinh. Vì vậy, việc đào tạo và chuẩn bị cho linh mục tương lai cũng cần đặt lại một số khía cạnh vừa lâu dài vừa thực tiễn: không nhất thiết phải theo đại học chuyên ngành Pháp ngữ, miễn sao thông thạo một sinh ngữ khả dĩ tiếp xúc, nghiên cứu sách vở… hoặc theo các chuyên ngành hữu ích, thích hợp để phục vụ thiết thực nhu cầu Tây Nguyên, cần thông thạo tiếng dân tộc, có tinh thần truyền giáo cao, thông hiểu lịch sử truyền giáo của các vị đi trước, hầu học kinh nghiệm quá khứ, gắn bó với giáo phận, trao luyện cuộc sống giản dị,  nghèo với người nghèo…

+ Vấn đề đào tạo linh mục người bản địa: Nhờ những bài học đầy thuyết phục trong quá khứ, việc đào tạo linh mục người dân tộc cần kiên trì và theo cấp độ tiệm tiến thích hợp nhiều khía cạnh. Trường Yao Phu cũng có liên hệ mật thiết với chủng viện.

Thật thế, giai đoạn khởi đầu công cuộc truyền giáo, Đức Thánh Giám mục Cuénot Thể đã chuyển 40 chủng sinh lên vùng Tây Nguyên, và cho cất hai dãy nhà dài để đào tạo linh mục  tại Trung tâm Truyền giáo Rơhai (nay là khu vực nhà xứ Tân Hương), nhưng không đạt được kết quả như mong muốn. Có thể nói chương trình đào tạo này thất bại là do bệnh  tật và nhiều lý do khác. Năm 1904, hai dãy toà nhà này được chuyển về cơ sở xây dựng Trường Yao Phu Cuénot và xem đây như một nơi chẳng những đào tạo giáo lý viên người dân tộc mà còn nhằm đào tạo những con người ưu tú Kinh cũng như dân tộc để sau đó gởi đi đào tạo linh mục tại Chủng viện Làng Sông hay Đại Chủng viện Đại An, hoặc Pinăng.

+ Năm 2006, Cha Lui Gonzaga Nguyễn Hùng Vị đi du học. Đức cha Micae trao trách nhiệm cho Cha TÔMA NGUYỄN VĂN THƯỢNG, Chánh xứ Thánh Tâm và nay Chánh xứ Đức An, phụ trách chủng sinh Thừa sai Kontum.

3. Cơ sở đào tạo

Một mặt vẫn duy trì việc học tại Sài Gòn với những môn cần thiết, mặt khác, cơ sở đào tạo chủng sinh tại Giáo xứ Đức An, thành phố Pleiku, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu đào tạo ứng sinh dân tộc và người kinh trước tình hình ngày càng giảm thiểu. Chương trình đào tạo này đang còn manh nha trong hướng đi và thực tiễn đòi hỏi nhiều công sức và lời cầu nguyện.

­4. Thực trạng số lượng chiêu sinh

Số lượng ứng sinh vào chủng viện thay đổi tuỳ hoàn cảnh xã hội trong địa bàn giáo phận. Đây là một thực trạng đáng lo. Cách chiêu sinh dễ dàng, số lượng tăng, không phải là một giải pháp tốt. Ơn gọi sa sút vì tình trạng mất quân bình trong xã hội ảnh hưởng đến lòng đạo của gia đình. Chính vì vậy, điều quan trọng chẳng những cần tài chính để huấn luyện linh mục tương lai, nhưng cấp bách và thiết yếu là canh tân đời sống đạo trong gia đình. Đây là công việc của toàn thể dân Thiên Chúa trong giáo phận. Ray rứt trước thực trạng này, Đức Giám mục tái lập “GIA ĐÌNH PHANXICÔ XAVIÊ VÀ THÀNH LẬP GIA ĐÌNH ƠN GỌI” tại các giáo xứ, không những theo truyền thống HỘI THÁNH PHANXICÔ, nhằm tài trợ cho công việc đào tạo linh mục, mà còn nhắm đến việc XÂY DỰNG GIA ĐÌNH THẬT SỰ LÀ VƯỜN ƯƠM ƠN GỌI. Mới khởi đầu, cần Ơn Chúa với ý thức của mọi tín hữu và được các cha trong giáo phận cổ vũ thật sự.

5. Những khó khăn

Khó khăn trong giai đoạn này tiếp nối những khó khăn từ giai đoạn vừa qua: khó khăn là hộ khẩu thường trú của các đại chủng sinh. Ngay cả khi thụ phong linh mục rồi, một số tân chức còn lấn cấn công tác mục vụ vì chính quyền địa phương không chấp nhận cho thường trú, nại ra nhiều lý do. 

BAN PHỤ TRÁCH CHỦNG SINH KONTUM (1992-1995)

Cha Giuse Đỗ Viết Đại: Phụ trách chung, huấn đức.

Cha Louis Gonzaga Nguyễn Hùng Vị: Phụ trách điều hành, dạy Pháp văn.

Cha Phaolô Đậu Văn Hồng: dạy Pháp văn (1993-1994).

Thầy Giuse Trần Văn Bảy: quản lý, dạy Pháp văn.

Thầy Phanxicô Xavie Lê Tiên: dạy Pháp văn.

Thầy Gioan Nguyễn Đức Trường: dạy Pháp văn.

Thầy Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Quyền: dạy nhạc lý.

Anh Phaolô Nguyễn Quốc Bảo (Hạnh): dạy Pháp văn.

Anh Phaolô Nguyễn Anh Võ: dạy Pháp văn.

Anh Đaminh Nguyễn Tiến Trung: dạy Pháp văn (1992-1996).

Từ năm 1995-2006: Cha Lui Gonzaga Nguyễn Hùng Vị: giám đốc, dạy Pháp văn và Latinh.

Cha GB. Trần Quang Truyền: linh hướng (1995-2003)

Cha Antôn Nguyễn Cao Siêu (SJ): linh hướng (2004-2005)

Cha Giuse Bùi Đức Vượng: linh hướng (2006-2009)

Thầy Giuse Trần Văn Bảy: quản lý (1992-2001)

Cha Đaminh Nguyễn Tiến Trung: dạy Pháp văn, nhân bản, nhạc lý  và quản lý (2001-2008)

Anh Gioan Baotixita Nguyễn Xuân Hà: dạy Anh văn.

Anh Phaolô Nguyễn Quốc Bảo (Hạnh): dạy Anh văn.

Anh Phaolô Nguyễn Anh Võ: dạy Pháp văn.

Chị Têrêxa Bùi Thị Nguyệt: dạy Pháp văn.

* Mỗi năm có thuê thầy ôn toán cho lớp dự bị.

- Tuyển sinh

Cha Lui Gonzaga Nguyễn Quang Vinh (1992)

Cha Phaolô Đậu Văn Hồng (1993)

Cha Phanxicô Xavie Lê Tiên.

Từ năm 2006-2010

Cha Tôma Nguyễn Văn Thượng: giám đốc.

Cha Đaminh Nguyễn Tiến Trung: quản lý, dạy Pháp văn, nhạc lý, nhân bản.

Cha Phanxicô Xavie Trần Anh Duy: phụ tá, dạy Pháp văn (2007-2008), Latinh (2008), quản lý (2008).

Cha Phêrô Lê Văn Thắng: phụ tá (2007-)

Thầy Gioan B. Nguyễn Minh Đức, phụ tá (2009-2010)

Thầy Phêrô Lê Văn Hùng: phụ tá (2009-2010)

Thầy Bảy đi Pháp chuyển Cha Trung quản lý (2001-2008)

Thầy Lui Nguyễn Quang Hoa: phụ tá (2010-)

IV – THỐNG KÊ  – PHỤ CHƯƠNG

BẢNG IV. SỐ TIỂU CHỦNG SINH (từ 1955-1975)

NIÊN KHOÁ đệ  nhất cấp đệ nhị cấp Tổng
1955-1956 40 30 70
1956-1957 45 32 75
1957-1958 30 59 89
1958-1959

141
1963-1964

174
1964-1965

225
1965-1966

263
1969-1970 241 76 317
1971-1972 208 68 276
1972-1973 203 85 288
1973-1974 196 73 269
1974-1975 186 69 255

NIÊN KHOÁ Đà Lạt Huế – Đà Nẵng Giúp xứ Rôma Tổng
1962-1963 8 35 13
56
1963-1964 9 41 7
57
1965-1966 12 34 3+ 1 bệnh
50
1968-1969 12 11 3
26
1972-1973 14 16 15 4 49
1973-1974 13 19 9 2 43
1974-1975 13 12 17 2 44

 

BẢNG V. ĐẠI CHỦNG SINH THEO HỌC CÁC TRƯỜNG

(Tổng số từng năm, từ 1962-1975)

NIÊN KHOÁ Đà Lạt Huế – Đà Nẵng Giúp xứ Rôma Tổng
1962-1963 8 35 13
56
1963-1964 9 41 7
57
1965-1966 12 34 3+ 1 bệnh
50
1968-1969 12 11 3
26
1972-1973 14 16 15 4 49
1973-1974 13 19 9 2 43
1974-1975 13 12 17 2 44

 

Bảng kê trên dựa vào một số tài liệu đã trích hoặc theo lịch Công giáo Kontum. Qua đó chúng ta thấy số tiểu chủng sinh cũng như đại chủng sinh biến đổi theo thời cuộc.

BẢNG VI. LINH MỤC – XUẤT THÂN TỪ CHỦNG VIỆN THỪA SAI

TRONG NƯỚC (42 vị)

(Từ 1975 đến 2009)

STT DANH TÁNH N.sinh Vào CVK Lm năm Địa chỉ
1 Giuse Đỗ Hiệu 1945 1958 1975 Tân Hương
2 Phaolô Nguyễn Văn Oanh 1947 1958 1975 Đak Mut
3 G.B. Nguyễn Thanh Tâm 1948 1958 1975 BMT
4 Giuse Trần Ngọc HữuuHu 1945 1957 1975 Phú Cường
5 Giuse Phan Thành Thuyết 1946 1957 1975 Dòng Boscô
6 G.B. Nguyễn Minh Thiện 1947 1959 1977 BMT
7 F.X. Phạm Bá Lễ 1949 1959 1977 BMT
8 Giuse Nguyễn Việt Huy 1949 1962 1990 Phan Thiết
9 Phaolô Đậu Văn Hồng 1950 1961 1990 TGM
10 Lui Gon. Nguyễn Hùng Vị 1952 1963 1990 P. Nghĩa
11 Lui Gon. Nguyễn Quang Vinh 1950 1961 1991 Phương Hoà
12 Giuse Đỗ Viết Đại 1947 1959 1992 Xuân Lộc
13 G.B. Trần Quang Truyền 1951 1962 1994 TGM
14 Eduardo Trần Ngọc Hoan 1953 1966 1997 Dòng  Xito
15 Giuse Nguyễn Xuân Tĩnh, CM
1969 1997 Đồng Nai
16 Đôminicô Mai Xuân Nam 1950 1963 1998 BMT
17 Giuse Nguyễn Văn Uý 1953 1965 1998 BMT
18 Phanxicô Xavie Lê Tiên 1953 1965 1999 Phú Bổn
19 Giuse Trần Ngọc Tín 1954 1964 1998 Plei Jơdrập
20 Gioan Nguyễn Đức Trường 1959 1970 1999 Phú Thiện
21 Đaminh Nguyễn Tiến Trung 1954 1966 2000 Hoa Lư
22 Tôma Aquinô Trần Duy Linh 1953 1964 2000 Lệ Chí
23 Antôn Nguyễn Văn Binh 1957 1970 2003 Kon Mah
24 Giuse Trần Văn Bảy 1950 1963 2004 Gx. Phú Thọ
25 Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Quyền 1958 1969 2004 MăngLa
26 Bênê. Nguyễn Văn Bình 1970 1992 2006 Kon Du – Đăk Hà
27 Giuse Võ Văn Dũng 1966 1992 2006 Tea Rơxá
28 Giêrônimô Lê Đình Hùng 1962 1992 2006 Đăk Mot
29 P. Assisi Phạm Ngọc Quang 1956 1969 2006 Ninh Đức
30 Phêrô Nguyễn Ngọc Thanh 1970 1992 2006 Chính toà
31 Giacôbê Trần Tấn Việt 1975 1993 2006 Kon Jơdreh
32 Phêrô Trần Quốc Hải 1972 1992 2008 Kon Mah
33 Phêrô Nguyễn Văn Hiền 1973 1993 2008 Du học
34 Micae Nguyễn Tuấn Huy 1976 1995 2008 Ninh Đức
35 G.B. Hồ Quang Huyên 1968 1992 2008 Đăk Mot
36 Giuse Hà Văn Hường 1970 1992 2008 Hà Mòn Kơtu
37 Antôn Vũ Đình Long 1972 1992 2008 Kon Du  Dăk Psi
38 Tađêô Nguyễn Ai Quốc 1975 1994 2008 Plei Pơđư
39 Phêrô Ngô Đức Trinh 1972 1993 2008 Phú Túc
40 Đaminh Trần Văn Vũ 1973 1992 2008 Kon Rơbang
41 Gioan Nguyễn Quốc Vũ 1977 1995 2008 Tiên Sơn
42 TRần Đình Huệ
1975
Ngôi Lời


 

BẢNG VII. DANH SÁCH LINH MỤC Ở HẢI NGOẠI

XUẤT THÂN TỪ CHỦNG VIỆN THỪA SAI KONTUM (19 vị)

1. Th. HOAN Nguyễn Đức Sách, CVK 55, LM. 1972,  (Australia)
2. Gioan B Huỳnh Hữu Khoái, CVK 55, LM 1975 (Australia)
3. Giuse Hoàng Minh Thắng, CVK 1958, LM 1978,  (ROMA)
4. Phanxicô X. Nguyễn Ngọc Tâm, CVK 1962, LM 1982, Christ The King Church (Tulsa, USA)
5. Phêrô Lê văn Thắng, CVK 1967, MEP, LM 1982 (Hồng Kong)
6. Rev Trần Trung Dung, CVK 1965, OP, LM 1986, CANADA, VNmese Dominicain Fathers 1405, 8th Ave. S.E Calgary, ONI AB T2G E-mail: paultranop@yahoo.ca
7. Gioan Nguyễn Văn Đích, CVK 1964, MEP, LM 1988 Church of Saint Vincent de Paul 301, Yio Chu Kang Road. Singapore 805910 Tel: (65) 64820959
8. Gioan B Phạm Quốc Hùng, CVK  1963, LM 1989  (Wichita, USA)
9. Greg. Nguyễn  Văn Giảng, CVK 1962, MEP (LM 1993) OLPS Church (Singapore)
10. Phêrô Nguyễn Văn Huấn, CVK  1969, MSC (AUSTRALIA)
11. Phaolô Bùi Đình Thân, CVK 1966, LM 1990 (Vancouver, CANADA)
12. Giuse Nguyễn Ngọc Thanh, CVK 1969, LM 1994, (USA)
13. Philipphe Nguyễn Hữu Tiến, CVK 1965, MEP, LM 1999 (Đài Loan)
14. Phêrô Hà Thanh Hải, CVK 1967, Sacred Church, (Australia)
15. Simon Nguyễn  Đức Thắng, CVK 1969, LM 1999, (Anh)
16. Võ Hồng Khanh, CVK 1965 (CA, USA)
17. Phaolô Nguyễn Văn Thạch, CVK 1966, DCCTVN. LM2001, (USA)
18. Phêrô Nguyễn Thế Tuyển, CVK 1973, (Ontario,  CANADA)
19 Phanxicô Xaviê Trần Anh Duy, CVK 1992, PSS, LM 2006 (Du học Pháp)


BẢNG VIII. BẢNG BÁO CÁO TRÌNH LÊN TOÀ THÁNH

SỐ LIỆU CHỦNG SINH NHỮNG NĂM QUA[1]

Các Trung tâm đào tạo ứng sinh Lm triều

 

Chủng sinh

Năm 2002 2003 2005 2006 2007 2008 2009
A-  

Tiền ĐCV


40 43 54 43 Sv ở Sài Gòn, 

15 dự bị

Tổng:   58

59 75
B –Triết 20 9 11 25 Triết 2          12 20 14
C –  

Thần

7 18 18 22 Thần S.Biển: 4 

Thần II: 8

Thần IV:      11

Tổng  23



D –  

đi thực tế



9
Triết 3        12 0 14
Tổng  

B

+

C

+

D

27

27

38

48

 

47

43

47

 

BẢNG IX. BẢNG TỔNG KẾT CÁC KHOÁ CVK (1992-2010)

(Lưu học tại Sài Gòn)[2]:

(không tính các ứng sinh không qua tuyển sinh từ các nơi khác đến)

STT 

NĂM
(dự bị)

TUYỂN

HIỆN NAY

(năm 2010)

GHI CHÚ

1 1992–1993 18

12


2

1993–1994

15

4
3

1994–1995

11

4
4

1995–1996

13

4
5

1996–1997

7

2


6

1997–1998

5

3


7

1998–1999

8

4


8

1999–2000

16

6
9

2000–2001

8

2


10

2001–2002

9

4


11

2002–2003

15

5
12

2003–2004

13

2
13

2004–2005

14

7
14

2005–2006

16

6
15

2006–2007

8

5


16

2007–2008

8 7
17

2008–2009

14

13


18

2009–2010

24

21

Sài Gòn: 11 

Nơi khác: 10

19

2010–2011

28

27

Sài Gòn: 8 

Đức An: 9

Nơi khác: 10


CỘNG: 

19 khoá

250

138


 

BẢNG X. CÁC CHỦNG SINH KONTUM[3]

VÀO ĐẠI CHỦNG VIỆN HUẾ

KHOÁ (KT) NĂM SỐ THẦY HIỆN NAY (2010)
I 1998–2006 7 thầy 6 linh mục /1 phó  tế
II 2000–2008 12 thầy 11 linh mục
III 2002–2010 10 thầy 7 phó tế và 2 thầy còn đợi 

1 đổi hướng

IV 2004–2012 10 thầy thần III: 10 thầy
V 2006–2014 11 thầy thần I: 10 thầy/1 đổi hướng
VI 2008–2016 9  thầy triết III: 9 thầy
VII 2009–2017 4 thầy triết II: 4 thầy
VIII 2010–2018 10  thầy triết I: 10 thầy

+ TỔNG CỘNG: 70 chủng sinh

– ĐÃ RA TRƯỜNG: 27 chủng sinh

– ĐANG HỌC: 43 chủng sinh


BẢNG  XI.

CHỦNG SINH KHÔNG QUA TIỂU CHỦNG VIỆN KONTUM (51 Chủng sinh)

I/ HỌC TẠI ĐẠI CHỦNG VIỆN HUẾ: (1 linh mục và 13 Chủng sinh)

II/ ĐCV SAO BIỂN NHA TRANG: 3 thầy phó tế + 1 giúp xứ

III/ ĐANG TÌM HIỂU – GIÚP XỨ: 3 ứng sinh

(3 đã học xong ĐCV Huế và 30 ứng sinh giúp xứ)


BẢNG XII [4] DANH SÁCH CÁC CHỦNG SINH KONTUM

ĐÃ HỌC XONG ĐẠI CHỦNG VIỆN HUẾ

(tính từ năm 1992 của CTK)

 

TT TÊN THÁNH – HỌ & TÊN SINH KHOÁ GHI CHÚ
1. Bênêđictô Nguyễn Văn Bình 21-6-1971 1998-2006 Lm
2. Giuse Võ Văn Dũng 27.11.1968 1998-2006 Lm
3. P.X. Trần Anh Duy 09.03.1968 1998-2006 Lm
4. Giêrônimô Lê Đình Hùng 15.06.1962 1998-2006 Lm
5. Micae Đỗ Huy Nhật Quỳnh 01.09.1975 1998-2006 Ptế
6. Phêrô Nguyễn Ngọc Thanh 05.01.1970 1998-2006 Lm
7. Giacôbê Trần Tấn Việt 08.02.1975 1998-2006 Lm
8. Phêrô Trần Quốc Hải 13.03.1972 2000-2008 Lm
9. Phêrô Nguyễn Văn Hiền 14.05.1973 2000-2008 Lm
10. Giuse Hà Văn Hường 15.03.1970 2000-2008 Lm
11. Micae Nguyễn Tuấn Huy 01.08.1976 2000-2008 Lm
12. G.B. Hồ Quang Huyên 06.05.1968 2000-2008 Lm
13. Antôn Vũ Đình Long 10.10.1972 2000-2008 Lm
14. Tađêô Nguyễn Ai Quốc 04.01.1975 2000-2008 Lm
15. Giuse Nguyễn Duy Tài 11.11.1970 2 năm ĐCV Lm
16. Antôn Nguyễn Đình Thiện 12.07.1973 2000-2008 Đổi hướng 09.06
17. Phêrô Ngô Đức Trinh 14.11.1972 2000-2008 Lm
18. Gioan Nguyễn Quốc 01.07.1977 2000-2008 Lm
19. Đaminh Trần Văn 25.07.1973 2000-2008 Lm

 

20. Giuse Vũ Quốc Bình 15.10.1975 2002-2010 Ptế
21. Luy Nguyễn Quang Hoa 01.01.1966 2002-2010 Ptế
22. Tôma Thiện Lê Công Huy Khanh 03.09.1978 2002-2010 Ptế
23. Phêrô Vũ Trọng Hà Nguyên Khôi 31.01.1977 2002-2010 Ptế
24. Phil. Nguỵễn Sỹ Nghị 16.01.1979 2002-2010 Đổi hướng 10.06
25. Gioan Nguyễn Nhơn 31.05.1958 2 năm 

ĐCV

Giúp xứ
26. Tađêô Võ Xuân Sơn 25.12.1978 2002-2010 P.tế
27. Giêrônimô Trần Văn Trạch 22.04.1971 2002-2010 Giúp xứ
28. Giuse Võ Văn Trường 10.11.1977 2002-2010 Ptế
29. G.kim Nguyễn Hữu Tuyến 09.12.1978 2002-2010 Ptế

 

BẢNG XIII:  CÁC THẦY PHÓ TẾ TẠI GIÁO PHẬN (11 phó tế)

STT TÊN

NĂM SINH

NĂM P.TẾ NĂM LM
1 Giuse Vũ Quốc Bình 1975 2010 03/12/2010
2 Luy Nguyễn Quang Hoa 1969 2010 03/12/2010
3 Tôma Thiện Lê Công Huy Khanh 1978 2010 03/12/2010
4 Phêrô Vũ Trọng Hà Nguyên Khôi 1977 2010 03/12/2010
5 Antôn Hoàng Văn Lợi 1960 2010 03/12/2010
6 Phêrô Nguyễn Đình Lộc 1959 2010 03/12/2010
7 Phanxicô Xavie Hồ Văn Phương 1968 2010 03/12/2010
8 Tađêô Võ Xuân Sơn 1978 2010 03/12/2010
9 Giuse Võ Văn Trường 1977 2010 03/12/2010
10 Gioakim Nguyễn Hữu Tuyến 1978 2010 03/12/2010
11 Micae Đỗ Huy Nhật Quỳnh 1975 2006 X

 

BẢNG XIV

DANH SÁCH ĐẠI CHỦNG SINH KONTUM

ĐANG HỌC TẠI ĐẠI CHỦNG VIỆN HUẾ NĂM HỌC 2010-2011

THẦN HỌC 3

TT

TÊN THÁNH – HỌ & TÊN

SINH

GIÁO XỨ

1. Phaolô Trần Quốc Bảo 24.02.1981 Đức An, Pleiku
2. Phaolô Phan Huy Dũng 15.11.1979 Phú Bổn, Pleiku
3. Giuse Giang Tử Dương 01.09.1980 Mỹ Thạch, Pleiku
4. Phêrô A Đên 10.10.1976 Mang La, Kontum
5. Gioan B Nguyễn Đình Ngọc Huy 08.10.1981 Phú Thọ, Pleiku
6. Martinô Lê Hoài Nhân 01.12.1980 Phương Nghĩa, Kontum
7. G.Boscô Trần Thanh Phương 26.09.1981 An Mỹ, Pleiku
8. Phêrô Nguyễn Xuân Anh Tuấn 16.02.1981 Phương Hoà, Kontum
9. Anrê Lê Thành Trung 01.12.1980 Thánh Tâm, Pleiku
10. Gioakim Lương Đông Vỹ 26.10.1981 Phương Hoà, Kontum

THẦN HỌC 1

TT

TÊN THÁNH – HỌ & TÊN

SINH

GIÁO XỨ

1. P.Xaviê Phan Đại Dương 30.03.1982 Phương Nghĩa, Kontum
2. Giuse Nguyễn Minh Đức 10.01.1980 Đức An, Pleiku
3. Gioan B Nguyễn Minh Hoàng 30.09.1977 Duy Hoà, Buôn Mê Thuột
4. Phêrô Lê Văn Hùng 10.04.1982 Thánh Tâm, Pleiku
5. Gioan Vũ Duy Ngữ 11.12.1981 Thánh Tâm, Pleiku
6. Giuse Nguyễn Thái Nguyên 07.10.1977 Vinh Hoà, Buôn Mê Thuột
7. Phaolô Nguyễn Hùng Sơn 07.05.1978 Vinh Bình, Nha Trang
8. Đaminh Vũ Văn Tín 18.04.1977 Báo Đáp, Bùi Chu
9. Vinhsơn Nguyễn Đình Trọng 03.03.1983 Mỹ Thạch, Pleiku
10. P.Xavie Phan Văn Trung 05.10.1981 Lệ Chí, Pleiku

TRIẾT HỌC 3

TT

TÊN THÁNH – HỌ & TÊN

SINH

GIÁO XỨ

1. Đaminh Hoàng Xuân Anh 08.08.1984 Tam Hải, TP. HCM
2. Micae A Blir 08.01.1981 Măng La, Kontum
3. Gioan B. Trần Minh Đức 31.05.1968 Vinh An, Buôn Mê Thuột
4. Antôn Võ Văn Hải 25.12.1984 Thánh Tâm, Kontum
5. Gioan Lê Hưng Hiệp 09.02.1984 Tân Hương, Kontum
6. Gioan B. Đỗ Thanh Tùng 17.02.1976 Bãi Chàm, Mỹ Tho
7. Phêrô Ngô Thanh Tùng 02.11.1980 Hoà Yên, Nha Trang
8. Antôn Lê Bảo Văn 01.01.1976 Fatima Tân Quới, Mỹ Tho
9. Phêrô A Xoang 11.12.1978 Kon Xơmluh, Kontum

TRIẾT HỌC 2

TT TÊN THÁNH – HỌ & TÊN SINH GIÁO XỨ
(Cha Mẹ)
1. Giuse Nguyễn Thời Danh 05.04.1984 Thánh Tâm, Pleiku
2. Gioan B. Nguyễn Anh Duy 16.07.1985 Đức An, Pleiku
3. Máccô Trần Quý Phương Linh 23.04.1979 Võ Lâm, Kontum
4. Ignaxiô Lê Hoàng Bảo Quỳnh 10.03.1983 Long Thuận, Xuân Lộc

TRIẾT HỌC 1

TT

TÊN THÁNH – HỌ & TÊN

SINH

GIÁO XỨ

1. Phaolô Trần Quốc Cường 02.05.1986 Phương Nghĩa, Kontum
2. Giuse Trần Ngọc Doanh 04.11.1975 Cốc Thành, Bùi Chu
3. Gioan B Hồ Thái Hải 24.08.1983 Võ Lâm, Kontum
4. Phaolô Ali Khâm 16.09.1986 Plei Jơ Drâp, Kontum
5. Đaminh Nguyễn Quang Nghị 25.10.1968 Quần Lạc, Bùi Chu
6. Giuse Nguyễn Xuân Phong 19.02.1986 Gx Lam Sơn, 

Bà Rịa- Vũng Tàu

. Đaminh Vũ Trường Phúc 28.06.1973 Thánh Gia,Xuân Lộc
8. Đaminh Mai Cao Tâm 06.06.1986  

Gx Hải Lâm, Gp Bà Rị

9. Phaolô Nguyễn Công Trương 29.02.1983 Rú Đất, Hạt Bảo Nham, Vinh
10. Giuse Nguyễn Đình Tuấn 09.02.1986 Phú Thọ,Gp Kontum

 


Đã 75 năm tính từ năm thiết lập Chủng viện Thừa sai Kontum (1935-2010), số linh mục xuất thân từ mái ấm Chủng viện Thừa sai tương đối ít và phân tán nhiều nơi. Theo thống kê, số linh mục người dân tộc lại là con số rất nhỏ hơn nữa, tuy nhiều cố gắng của các Đức Giám mục cũng như các linh mục trực tiếp đảm trách việc đào tạo chủng sinh trong những giai đoạn đã qua. Đây là điểm nhức nhối làm cho các Giám mục luôn phải lo lắng. Nhưng đâu là đường hướng và giải pháp cho công việc huấn luyện con em người dân tộc để họ trở thành những linh mục đạo đức, hội đủ điều kiện về học thức, phẩm chất của người chứng nhân trong thiên chức linh mục cho đồng bào mình? Tuy nhiên, cũng như trong bất cứ công trình của Thiên Chúa, một huyền nhiệm tình thương của Ngài cao thẩm mà con người khó lòng thấu suốt.

Qua các chứng từ của những con người xuất thân từ Chủng viện Thừa Sai Kontum – là linh mục hay sống ơn huệ giáo dân – tất cả đều ý thức vai trò ơn gọi mà mỗi người lãnh nhận qua Bí tích Rửa Tội, đã thật sự cố gắng trở nên chứng nhân và phục vụ Nước Chúa.

Chủng viện Thừa sai Kontum đã đóng góp rất nhiều cho các địa phận có những con người đã hấp thụ được nền giáo dục, tinh thần truyền giáo dưới mái ấm Chủng viện Thừa sai Kontum. Anh em cựu chủng sinh Kontum đã và đang là những con người đóng góp tích cực và đầy sáng tạo với tinh thần cao, tham gia mục vụ giáo xứ: Giáo lý viên, hoặc trong ban chức việc. Họ tham gia công tác từ thiện như giúp đỡ những nạn nhân do thiên tai lũ lụt. Ngoài ra, họ còn quan tâm mặt y tế, gây quỹ xây dựng trạm xá Cố Cao. Mặt khác, các cựu chủng sinh tổ chức KMF, để xin cầu nguyện và gây quỹ truyền giáo, nhất là sống tinh thần loan báo Tin Mừng.

Cách sống và tinh thần dấn thân phục vụ tại giáo phận truyền giáo Kontum của các anh em linh mục xuất thân từ Chủng viện Thừa sai vẫn mang được một âm hưởng, đã trở nên dấu chứng đặc biệt, đó là con người bình dị, đến với muôn dân trong tâm tình yêu thương và phục vụ, nhất là cho anh em nghèo khốn, hướng về anh em dân tộc bằng hy sinh và lời cầu nguyện hằng ngày.

Chúng tôi vừa tóm tắt những hoàn cảnh thúc bách các vị bề trên vùng Truyền giáo Kontum thiết lập một Hội Thừa sai Việt Nam mà khởi đầu là xây dựng và đào tạo chủng sinh dưới mái Chủng viện Thừa sai Kontum. Biết bao hy sinh vật lực công sức để xây dựng công trình kiến trúc thời danh là Chủng viện Thừa sai và mãi mãi ghi nhớ những con người đóng góp vào đề án và thi công đầy sáng tạo công trình chung này. Điều quan trọng còn vượt lên trên cơ sở vật chất, đó chính là xây dựng những con người linh mục để họ ra đi loan báo Tin Mừng cho các anh em dân tộc. Số lượng linh mục như chúng tôi tạm ghi nhận qua BẢNG KÊ  III, VI cũng như danh sách các linh mục ở Hải Ngoại tuy không nhiều – trung bình mỗi năm chủng viện đào tạo được 1 linh mục – nhưng thực tế họ đã trở nên những người thợ gặt cần cù trong mọi vườn nho của Chúa. Phải chẳng đó là mục đích của Chủng viện Thừa sai Kontum:

EUNTES ERGO DOCETE OMNES GENTES”

(Vậy các con hãy ra đi giảng dạy muôn dân) (Mt 28,19­)

Với niềm xác tín ấy, chúng ta xin tri ân và cất hát  bài ca Tạ Ơn Thiên Chúa đã thương ban cho Giáo phận biết bao HỒNG ÂN trong suốt 75 năm HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦNG VIỆN THỪA SAI KONTUM vậy.

 


[1] Xin xem Bảng báo cáo hằng năm trình Toà Thánh (năm 2010), lưu tại Toà Giám mục Kontum.

[2] Dựa vào tài liệu của Cha Tôma Nguyễn Văn Thượng, Giám đốc Chủng viện Kontum, cung cấp.

[3] Như trên.

[4] BẢNG XII – XIV: Do thầy Phó tế Lui Nguyễn Quang Hoa cung cấp, làm tại Đức An, ngày 19-9-2010.

 

Kontum 2010

Lm. Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn

 


Các Tin Linh Mục-Tu Sĩ Khác:
(30:12:2011 | 04:07 AM)
Ðức Cha Jean Liévin Khâm:
(30:12:2011 | 04:06 AM)
Ðức Cha Stêphanô Cuénot Thể (Stéphane Théodore Cuénot):
(30:12:2011 | 04:05 AM)
Ðức Cha Martial Jannin Phước, Giám Mục Tiên Khởi Giáo Phận Kontum:
(30:12:2011 | 03:40 AM)
75 Năm Chủng Viện Thừa Sai KonTum (1935-2010)(4)
(30:12:2011 | 03:38 AM)
75 Năm Chủng Viện Thừa Sai KonTum (1935-2010)(3)
(30:12:2011 | 03:36 AM)
75 Năm Chủng Viện Thừa Sai KonTum (1935-2010)(2)
(30:12:2011 | 03:33 AM)
75 Năm Chủng Viện Thừa Sai KonTum (1935-2010)

Xem Thêm...