N, 00-00-2011   00 :00:00

Quý Vị Đang Xem Tin - Bài Viết Trước Tháng 06 Năm 2014

Mồng Hai Tết Giáp Ngọ
(17:02:2014 |09:17 AM)

Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận xin giới thiệu một chuyến ra đi vào “NGÀY MỒNG HAI TẾT (Thứ bảy ngày 01.02.2014)”, ĐẾN VÙNG TÂY TÂY NAM THÀNH PHỐ KONTUM.


Ban mục vụ Truyền thông Giáo phận xin giới thiệu một chuyến ra đi vào


“NGÀY MỒNG HAI TẾT (Thứ bảy ngày 01.02.2014)”,


ĐẾN VÙNG TÂY TÂY NAM THÀNH PHỐ KONTUM.


KONTUM (17.02.2014) KONTUM



XIN KÍNH MỜI


NGÀY MỒNG HAI TẾT (Thứ bảy ngày 01.02.2014)


KÍNH NHỚ TỔ TIÊN ÔNG BÀ CHA MẸ



Chúng tôi xin chia ra 2 phần:


Phần một : A – Tường thuật ngắn gọn Thánh Lễ tại nghĩa trang Thánh Tâm 2;


B – Chuyến ra đi theo quốc lộ 14


Phần hai : Một vài nhận định sau chuyến ra đi.



PHẦN MỘT :


A – Tường thuật ngắn gọn Thánh Lễ tại nghĩa trang Thánh Tâm 2


7giờ sáng, Đức Giám mục Giáo phận cùng với chúng tôi đến nghĩa trang Plei Chuet hiệp thông cầu nguyện cho cha Antôn Vương Đình Tài.



Sau đó, chúng tôi đến nghĩa trang Thánh Tâm 2 dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho tổ tiên ông bà giáo xứ Thánh Tâm, đặc biệt 4 linh mục đang nằm tại đây: Lm. Phêrô-Phaolô Hoàng Văn Quy (1940-2003). Lm. Antôn Đinh Bạt Huỳnh (1942 – 2007); Lm Giuse Trần Sơn Nam (1935-2009); Lm. Đaminh Đinh Hữu Lộc (1937-2009). Đức Giám mục chủ tế, cha Đaminh Trương bảo Tâm chánh xứ Giáo xứ Thánh tâm cùng linh mục Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn đồng tế với đông đảo tín hữu giáo xứ vào lúc 7giờ 40.



Trong thánh lễ, Đức cha chia sẻ Lời Chúa:


“Chúng ta là người có phúc vì được biết Chúa. Hơn nữa, chúng ta có phước, vì được dạy dỗ tuyệt vời hơn ai hết.





Lời Chúa trong bài đọc I, trích sách Giáo huấn ca (Hc 44, 1. 10-15) :


“Giờ đây, chúng ta hãy ca ngợi những vị danh nhân, cũng là cha ông của chúng ta qua các thế hệ. (…) Nhưng các vị sau đây là những người đạo hạnh, công đức của các ngài không chìm vào quên lãng. Dòng dõi các ngài luôn được hưởng một gia tài quí báu, đó là lũ cháu đàn con. Dòng dõi các ngàì giữ vững các điều giao ước; nhờ các ngài, con cháu cũng một mực trung thành”.


Thái độ của những người con hiếu thảo, bỡi vì có những cha ông chúng ta đã biết Chúa và dạy chúng ta thương mến thờ phượng Người.


Trong bài đọc II, thánh Phaolô đã nói với giáo đoàn Êphêsô (Eph. 1-4. 18-23):


“Kẻ làm con, hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất, có kèm theo lời hứa: để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này”.


Trong bài Tin Mừng, Mathêô (Mt 15, 1-6)


Chúa Giêsu trả lời cho các người Pha-ri-sêu và kinh sư chấp vấn Người:


“Quả thế, Thiên Chúa dạy : Ngươi hãy cũng đã lặp lại Lời Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử (…)”


Vì mến Chúa yêu người là một. Nên Chúa đối xử với chúng ta trong ngày sau hết là thái độ tình yêu thương người của chúng ta. Ai cho một người nhỏ nhất, cho người nghèo nhất một ly nước lã là cho chính Chúa. Chúa phê phán chúng ta do thái độ chúng ta đối với anh em chung quanh chúng ta. Chúng ta được biết Chúa trong Giáo hội, thì chúng ta phải thờ cha kính mẹ nhất trần gian như lời dạy trong Kinh Thánh.


Có một lần tôi suy gẫm và đã nói: anh chị em là người thờ cha kính mẹ nhất trần gian. Yêu Chúa yêu người, mà người đó là cha mẹ, nên chúng ta phải thờ cha kính mẹ nhất. Tôi cũng đã trình bày với những anh chị em không cùng niềm tin, thì hôm nay tôi cũng nói với anh chị em ở đây. Tại sao đến giờ phút này còn có nhiều người muốn bước vào Giáo hội mà không dám bước vào?, không dám bước vào mà còn cản trở những người khác nữa ?. Có người cũng nhắc nhở các Giám mục dạy cho người tín hữu trong đất nước này biết đạo hiếu. Một người nông dân không có tiền đi bác sĩ nữa, dùng tiền dành dụm bấy lâu nay, cũng chỉ mua thuốc được 5, 7 viên thuốc thôi, không đủ tiền mua nhiều hơn được. Cho nên bệnh nhân cứ nằm chờ tại bệnh viện miết. Người ta mời một bác sĩ công giáo đến và vị bác sĩ này cho một toa thuốc và nói: ông cho người nhà đi mua thuốc với toa thuốc này, bất cứ ở tiệm thuốc nào, ông không phải trả tiền, tôi tìm cách thanh toán cho.


Sau đó, bác sĩ hỏi thăm người nhà bệnh nhân và được trả lời: cảm ơn bác sĩ, vì người bà con chúng tôi không chấp nhận như vậy, vì sợ người công giáo đòi hỏi họ phải theo đạo.


Họ nghĩ rằng theo đạo công giáo là bất hiếu, là bỏ ông bỏ bà bỏ cha bỏ mẹ. Có những đôi bạn trẻ đến hôm nay cũng khổ cực vì vấn đề này, sợ lấy người công giáo là bỏ ông bỏ bà.


Thứ nhất là vô hình chung hiểu lầm, vì chúng ta thờ một mình Thiên Chúa là cha duy nhất. Nhưng tiếng “thờ” đó làm cho người ta lộn xộn hiểu lầm. Người ta thờ cha kính mẹ, còn chúng ta chỉ thờ mình Thiên Chúa mà thôi. Chính từ “thờ” đó làm cho người ta hiểu lầm. Chúng ta không thờ cha mẹ ta với tư cách là một ông trời, là Thượng đế, là Thiên Chúa mà là thảo kính cha mẹ. “Thờ” theo nghĩa là tỏ lòng hiếu thảo biết ơn. Chúng ta không dùng chữ “thờ” đối với cha mẹ, họ hiểu lầm chúng ta bỏ cha bỏ mẹ. Cái từ đó làm hiểu sai chúng ta.


Thứ hai, người ta muốn tôn mình lên làm “trời”. Điều đó chúng ta thấy nhan nhản mọi nơi. Khi chúng ta còn nghèo thì không sao cả. Nhưng khi có tiền, có địa vị thì muốn cho người ta đúc tượng thờ mình, làm như mình là thần thánh vậy.


Thiên Chúa cho Con của Người xuống thế làm người. Vì lòng kiêu ngạo của con người tăng mình làm bằng trời. Điều đó không do niềm tin của chúng ta. Họ thấy niềm tin chúng ta không hợp với tính kiêu ngạo của họ, nên không chấp nhân niềm tin của chúng ta được.


Anh chị em biết niềm tin của chúng ta, lối sống đức tin của chúng ta như Chúa đòi hỏi, thì làm sao họ chấp nhận được?. Chúa đòi hỏi đời sống hôn nhân, chỉ có một vợ một chồng, thì làm sao ông vua có lắm cung phi mỹ nữ có thể chấp nhận được? Làm sao ông quan có chức có quyền, năm thê bảy thiếp, làm sao họ chấp nhận được, vì nó đòi hỏi quá. Cho nên họ cấm đạo. Họ không nói vì tình trạng năm thê bảy thiếp của họ, khi họ biết đức tin của chúng ta không cho phép li dị vợ và sống như thế. Ngày hôm nay cũng vậy, Giáo hội cấm li dị, cấm phá thai, không được tái hôn trong tình trạng li dị. Từ đó họ cảm thấy khó khăn, họ chống báng đạo chúng ta.


Nó cũng đụng chạm đến miếng ăn của nhiều người. Niềm tin của chúng ta cấm bói toán, cấm lên đồng, trong khi đó Chúa dạy chúng ta tin tưởng vào Chúa quyền năng. Ngày nay, nhiều bác sĩ, nhiều cô y tá làm nghề phá thai, làm sao họ chấp nhận niềm tin chúng ta được. Bói toán lên đồng cũng thế, không chấp nhận niềm tin của chúng ta. Họ nhìn thấy lối sống chúng ta, và vì lợi nhuận của họ, nên không chấp nhận niềm tin chúng ta, chống đối chúng ta, nại lý chúng ta không thờ cha kính mẹ.


Chúng ta tin Thiên Chúa là Cha của hết mọi người, là Thiên Chúa độc nhất. Chúng ta có bị chém đầu, chúng ta cũng không sợ. Chúng ta thờ cha kính mẹ là biết ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ khi cha mẹ còn sống; chúng ta yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ khi các ngài đau yếu. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta cầu nguyện cho các ngài và sống tốt với anh em trong gia đình, giúp đỡ những người chung quanh. Sống như thế, chúng ta sống đạo hiếu cách tuyệt vời, không ai bằng chúng ta được. Chúng ta sống với cha mẹ như thể sống đối với Chúa chúng ta.


Thứ ba: Xin anh chị em lưu ý điều này và biết cách nói cho những người khác. Tại sao chúng ta để những người khác hiểu lầm miết như thế nầy? Tại sao chúng ta không biết cắt nghĩa cho họ. Có lần tôi nói với anh chị em: có đôi vợ chồng trẻ cho tôi biết không thể theo đạo được, bỡi vì theo đạo là bỏ thờ cha kính mẹ. Tôi có hỏi thờ cha kính mẹ thực tế của anh như thế nào? Họ cho biết, hằng năm làm mâm cơm cúng cha mẹ quá cố.


Thưa anh chị em, không phải một mình ta thờ cha kính mẹ, mà cả Giáo hội, Đức Giáo hoàng và cả những người công giáo khắp năm châu hằng ngày cầu nguyện cho họ. Cả triều thần thánh trên trời dâng lời cầu nguyện cùng với của lễ thánh là Mình Máu Thánh Chúa Kitô thờ cha kính mẹ với chúng ta, chứ không chỉ có thắp nén hương, đốt bó nhang, làm một mâm cơm, mới gọi là thờ cha kính mẹ đâu.


Không có ai thờ cha kính mẹ truyệt vời như đạo công giáo chúng ta.


Trong năm tân phúc âm hóa gia đình, chúng ta thể hiện một gia đình yêu thương nhau hơn, lo cho cha mẹ khi các ngài còn sống. Anh chị em yêu thương nhau, tha thứ cho nhau, biết tôn trọng nhau và tôn trọng những người chung quanh. Trong năm mới, chúng ta cầu chúc cho nhau và biết chia sẻ tình yêu thương bằng thờ cha kính mẹ, và biết trình bày cách thức thờ cha kính mẹ cho những người khác, để họ chân nhận Thiên Chúa là Cha chung hết mọi người và yêu thương phục vụ cho nhau trong năm mới này.


Thánh lễ kết thúc, Đức cha rảy nước thánh và xông hương trên mộ 4 cha và các mộ trong nghĩa trang giáo xứ Thánh Tâm 2.


Lễ xong, cầu chức anh chị em ra đi bình an và được hưởng nhiều ơn lành trong năm mới.


Thánh lễ kết thúc lúc 9 giờ.


B – CHUYẾN RA ĐI THEO QUỐC LỘ 14.


Chúng tôi xin ghi lại đây bản đồ đã đăng hôm qua (ngày mồng một tết). Chúng tôi đã điều chỉnh bản đồ lấy từ vệ tinh này. Tỉnh lộ từ xã Ia Băng đến xã Ia Mơ là TL. 665 (không phải 675, có sự lẫn lộn với tuyến tỉnh lộ 675 từ thành phố Kontum đến xã Rơ Kơi). Đồng thời chúng tôi thêm vào bản đồ này các nơi thờ phượng như nhà thờ, nhà nguyện, để quí vị dễ theo dõi hành trình chúng tôi hơn. Trong phần hai, chúng tôi sẽ đối chiếu các lộ trình xưa và nay trong địa hạt các huyện Chư Sê, Chư Prong và Ia Grai.


Chúng tôi trình bày chuyến đi chúng tôi dựa trên các lộ trình ghi trên bản đồ này.


Bản đồ số 1



Chúng tôi về dùng buổi sáng và chuẩn bị lên đường đi thăm giáo dân.


Vì thấy thời gian không nhiều lắm, Đức Cha chọn con đường vòng ngắn hơn dự định, nhưng thực tế vòng vo dài hơn, vất vả hơn, nhưng vui hơn, biết nhiều chuyện hơn. Chúng tôi trình bày theo lộ trình và sau đó một vài cảm nghĩ.


Ngồi trên xe, Đức Cha cho xe theo quốc lộ 14 đến Giáo xứ Phú Quang. Chúng tôi đi ra khỏi nơi đô hội, tham quan vùng sâu vùng xa vào ngày Mồng Hai Tết như vậy quá là vui vẻ, nhưng cũng không nắm được lộ trình cách cụ thể …. Không sao! Đến đâu hay đến đó, ba bữa tết chẳng ai nỡ từ chối cho ăn khi vào chúc tết !. Một đặc thái tâm hồn là vô tư. Vô tư là tuyệt. Đức Cha cũng lắm lúc “Để cho Chúa xoay vần đi đâu?”. Ngài cũng như thế, nhiều lúc là như thế. “Xoay vần đi đâu” làm những người cùng đi lắc lư chóng mặt muốn chết!


1 – Chúng tôi đến gần ngã ba Hàm Rồng, Đức cha cho xe rẽ vào Giáo xứ La Sơn thăm cụ già trên 90 tuổi lâm bệnh nặng đang thở Oxy.



Chúng tôi vào. Đức Cha thăm hỏi chúc tết gia đình và cầu nguyện cho ông cụ được bình an, phó thác trong tay Chúa.


2 – Khu Du Lịch Sinh Thái “Hoàng Vân”. Chúng tôi tiếp tục lên đường, ra khỏi ngã ba núi Hàm Rồng. Đức cha nói chúng ta sẽ thăm Khu Du Lịch Sinh Thái “Hoàng Vân” (xã Ia Rin) mới xây dựng, nằm bên tay trái, cách đường quốc lộ 14 độ trên cây số. Rất đẹp!. Đặc trưng Khu Sinh Thái “Hoàng Vân” là hồ nước và đồi núi quyện lại với nhau, có những nhà thủy tạ độc đáo.





Chúng tôi dừng chân khoảng hơn nửa tiếng và hẹn sẽ tái ngộ vào ngày đẹp trời.


3- Chúng tôi vào thăm nhà thờ giáo xứ Phú quang (xã Ia Hrú, huyện Chư Sê) cách thành phố Pleiku khoảng 46 cây số. Nhà thờ, nhà xứ mới xây dựng cách đây vài năm. Không ngờ cha Marcô Bùi Duy Chiến (CSsR) tài giỏi xây dựng được nhà thờ, đặc biệt nhà xứ quá ư đẹp với thiết kế và danh mộc độc đáo, không chê chỗ nào!. Ngài cho biết giáo dân đóng góp công của nhiều cho công trình chung của giáo xứ, đặc biệt nhà xứ do thợ địa phương và một số công đoạn nhờ các thợ nơi khác đến làm.







Chúng tôi dùng cơm trưa ngày mồng hai tết, tại nhà xứ Phú Quang. Cha xứ không được báo trước, chưa chuẩn bị thức ăn. Mấy ngày tết, cha sở ăn kiểu dân tộc, đi thăm các làng. Tắt bếp!. Đức Cha cũng dễ tính, có gì ăn nấy. Cần đôi đũa, chén bác, ly tách uống nước! Chúng tôi cảm thấy dạ dày báo động. Quá 1 giờ trưa rồi, còn gì nữa. Cha sở báo tin giáo dân gần đó đem thức ăn vào. Quýnh quíu! Nhưng rất vui, thoãi mái như nhà mình vậy. Sau bữa trưa dã chiến, chúng tôi chỉ cần ngã lưng nghỉ mươi phút.


4- Lên đường lúc 14 giờ. Đức cha hỏi cha sở : Chỗ nào rẽ lên hướng Ia Mơ (Tây tây nam) giáp quốc lộ 14C ?.


Thưa Đức cha, xe vào gần chợ, cách đây hơn vài cây số, rẽ phía tay mặt và theo đường cấp phối.


* Hai bên trục lộ thuộc xã Ia Hrú đã có nhiều nhà đã lập nghiệp khá vững chắc có vườn tiêu 2, 3 sào, có vườn trên một, hai mẫu tây. Nhiều vườn tiêu còn xanh tươi, nhưng cũng một số vườn tiêu bị sâu bệnh, hư nặng.




Càng đi sâu vào, đường càng xấu.



Chúng tôi đến xã Ia Hla, và đến thăm một số gia đình người Tày từ tỉnh cực bắc mới đến lập nghiệp, còn chật vật vất vả trên mảnh vườn mới mua trồng mì, làm ruộng nước




Chúng tôi đi qua phía nam xã Ia Vê. Lúc đầu, Đức cha muốn thăm nhà nguyện tại xã Ia Lâu trực thuộc cha Giuse Nguyễn Minh Ngọc (SDB), chánh xứ Phú Mỹ, xã Ia Băng huyện Chư Prong phụ trách. Thỉnh thoảng cha vào dâng lễ như dịp tết vừa rồi.




May cho chúng tôi được một cô “thiếu nữ Trường Sơn” vừa từ Ia Lâu về Mỹ Thạch, mời chúng tôi ghe thăm Ia Lâu. Đức Giám mục cảm ơn cô gái tốt bụng. Để cảm ơn, được Đức cha lì xì mấy đồng bạc mới, cô rất vui vì đầu năm được lì xì, chắc nhiều điều tốt lành cho năm mới.



Chúng tôi đang đứng tại Ia Hla, không vào đường dẫn đến Ia Ve và tiếp tục về hướng xã Ia Ga sắp đến trục liên tỉnh lộ 665.



Nhưng còn thời gian, Đức cha đổi hướng đến thăm Ia Mơ, vào tuyến đường liên tỉnh lộ 665 trên địa bàn xã Ia Ga, vượt qua đồi “chiến tích Plei Me”, trực chỉ về cầu treo Ia Mơ. Nhiều vườn tiêu rất tốt.


* Chúng tôi thăm một số gia đình có con em đang học tại Đànẵng. Lúc đầu cả nhà bỡ ngỡ, nhưng sau họ vui vẻ khi biết chúng tôi đã quen biết con em họ tại Đà Nẵng, nay đến thăm chúc tết. Họ rất hân hạnh tiếp đón chúng tôi.


* Chúng tôi hỏi đường đi đến xã Ia Mơ. Lúc đó đã về chiều. Một quãng đường dài chung quanh là rừng, trọc cây, thỉnh thoảng có những thân cây bị đốt cháy nằm ngổn ngang vùi dưới đống tro vất bừa bãi bên mé đường. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp làng dân tộc và một vài lán trại cho nông trường trồng cao su. Nhiều khu rừng đã phát hoang trồng cây cao su.


* Đường rất xấu, bị các xe chuyển gỗ cày nát, đùn đất chỗ này, cày mặt đường chỗ kia, tạo thành những rãnh, những lỗ gà lỗ voi trên mặt đường. Tuyến đi vất vả.



Chúng tôi đang đi trên liên tỉnh lộ 665, cách quốc lộ 14C 8 cây số nữa.



Chúng tôi đã đến cầu treo Ia Mơ, đã về chiêu.



Chúng tôi đã đến cầu treo Ia Mơ. Mấy trẻ đang vui đùa dưới sông.



Mặt trời sắp khuất núi, như chấm to màu đỏ, tạo quan cảnh một màu đỏ với những dải tua pha trộn ánh sáng màu trắng đỏ vàng và màu lam xám nhợt trên nền trời hoặc ẩn hiện trong rừng cây còn sót lại.





Trời đã lạnh. Chúng tôi đi tiếp vài cây số nữa đến quốc lộ 14C trụ số 0 Km



Đây rồi, quốc lộ 14C, phía sau lưng chúng tôi.


Lúc đó là 17 giờ 45 chiều, chúng tôi đến quốc lộ 14C, đứng bên trụ số 0km.


5 – Tiếp tục theo tuyến quốc lộ 14C, theo hướng bắc về quốc lộ 19, huyện Đức Cơ.


Càng đi, trời càng tối. Trời xám xịt. May không mưa. Để tránh lạc đường, chúng tôi dựa vào các cây cột điện và trụ cây số.


Chúng tôi vượt qua cầu Ia Drăng.



Chúng tôi đến cầu Ia Cot,



rồi qua cầu Ia Kreng,



đến cầu Ia Pnon.



Vượt qua ranh giới huyện Chư Prong, vào địa hạt huyện Đức Cơ.


Còn một tí nữa chúng tôi lạc đường. Hỏi thăm xin các người ở vùng này chỉ đường. Họ bảo rẽ phía tay phải, đi độ 2 cây số, gặp đường cắt ngang, rẽ phía tay trái, rồi đi tiếp là được. Rẽ đi hơn 3 cây số trong rừng cao su, tối u, không bóng người qua lại, không có trụ điện, chẳng thấy cột trụ số. Đức cha bảo quay lại ngay và theo truyến đường 14C như trước.


Đi một quãng đường rất xa, vắng người, thỉnh thoảng có vài mái nhà sáng đèn điện, tiếp đến những khu rừng trồng cao su trên vùng đất huyện Đức Cơ. Và cuối cùng chúng tôi đến được vùng cư dân xã Ia Nan. Nghỉ chân, vui vẻ với người quen biết.



Đến tụ điểm dân cư xã Ia Nan, lúc đó hơn 20 giờ, chúng tôi vào nhà nguyện giáo điểm Giuse tạ ơn Chúa.


Chân còn đau, quì như thế, cố gắng lắm rồi!



và thăm hỏi chúc tết số giáo dân người kinh tại đây.



Đức Giám mục đã từng dâng lễ tại tụ điểm người công giáo này khi còn đảm trách Giáo xứ Thánh Tâm. Hiện nay, cha xứ Plei Rơngol Khóp (thị trấn Chu Ty, Đức Cơ) đến nhà nguyện Giuse dâng lễ vào những ngày Chúa nhật,


6- Chúng tôi đến thăm giáo xứ Plei Rơngol Khóp lâu đời, tín hữu người dân tộc tại thị trấn Chư Ty huyện Đức Cơ, do cha Giuse Trần Minh Chính (CSsR) chánh xứ cùng cha Tadêô Võ Xuân Sơn phụ tá.




Hương vị Lễ Giáng sinh còn đây




Chúng tôi về thành phố Pleiku lúc 22 giờ.


Không bị lạc đường, bình an vô sự. Nhiều đoạn đường vắng người, thỉnh thoảng có những làng mới đến lập nghiệp hoặc vào làm công nhân trồng cao su.


Tạ ơn Chúa, đã cho chúng tôi một chuyến ra đi bình an và hữu ích.


PHẦN HAI : MỘT VÀI CẢM NGHĨ SAU CHUYẾN RA ĐI.


Chuyến ra đi theo quốc lộ 14 lần này gồm 7 người.


Chỉ có Đức Cha Micae đã đi một vài lần theo các tuyến đường này, nhưng không xuyên suốt như lần vừa qua. Đối với chúng tôi là lần đầu tiên, rất vui vẻ, rất mới lạ và nhiều ấn tượng.


1- Nhiều người chưa gặp nhưng rất chân tình như gia đình người Tày, như các em gặp trên đường đi, như cô “thiếu nữ Trường Sơn”.


2- Nhiều cảnh mới lạ, chúng tôi ghi lại nhiều kiểu hình rất độc đáo. Có những con đường và hầu như vậy (trừ đoạn đường quốc lộ 19 từ thị trấn Chư Ty về thành phố Pleiku) hầu hết là con đường đất, gồ ghề, đầy bụi, nhiều ổ gà ổ voi, khó đi.


Bị thấm mệt do đường xấu, gồ ghề vừa qua, chúng tôi có cảm giác mạnh, liên tưởng đến thời xa xưa đã có những người thám hiểm và các vị thừa sai đã đi theo những lối mòn lên Kontum theo hướng ngã này, khi chưa thông thoáng đoạn đường quốc lộ 14 từ Pleiku về Kontum.


Để hình dung được những lối mòn xưa, chúng tôi xin ghi lại bản đồ thời kỳ Pháp sau đây:


Bản đồ số 2



Bản đồ số 3



Như ông Võ Chuẩn cho biết từ năm 1928-1933 mới khai thông các quốc lộ chính trong miền truyền giáo Kontum. Chúng tôi xin trình bày những lộ trình của các vị thừa sai loan báo Tin Mừng từ giữa thế kỷ XIX cho đến năm 1928 đã đi lối mòn nào?.


Chúng tôi xin chia ra phân đoạn:


Phân đoạn I : Từ giữa thế kỷ XIX (thời kỳ cha Hòa từ M’Nong về Kontum)


Phân đoạn II : Giai đoan phân chia hai địa sở :


Plei Rơngol khop và Thanh Bình (1914 – )



Phân đoạn I


TỪ GIỮA THẾ KỶ XIX (thời kỳ cha Hòa từ M’nong về Kontum)


Theo các bản đồ trên:


(1) Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chưa có trục lộ từ Pleiku lên Kontum. Theo tác giả Võ Chuẩn, những con đường vùng Gialai Kontum mới mở đường từ năm 1928 đến 1933[1].


(2) Trong Lời giới thiệu tác phẩm “Người Ba-na ở Kontum”[2] của Nguyễn Kinh Chi & Nguyễn Đổng Chỉ, Hà Nội xuất bản năm 2011 có trích một số ghi chú của nhà thám hiểm Henri Maitre cho biết Kontum đã phát triển thế nào cho tới đầu thế kỷ XX.


“Cách Kontum chín kilômet, chúng tôi đi theo con đường cái được mở tới đây; nó chạy qua khu rừng chồi trên đất cát, rồi qua khu rừng thưa; cuối cùng, đến cây số 2, đột nhiên chúng tôi nhìn thấy một cánh đồng bằng phẳng rộng lớn, nền đất xám phủ một lớp cỏ thấp và khô, những thửa ruộng cạn và đồng cỏ, một rặng tre cao xanh ngắt cắt ngang; khắp bố phía, những ngọn đồi bao quanh những dãy núi trơ trọi, sau rặng tre những mái nhà tranh và mái ngói nổi lên trên nền cây xanh: đấy là khu dân cư Kontum, rải rác bên kia sông Bla; con sông rộng từ 50 đến 60 mét lặng lẽ trôi chầm chậm, giữa hai bờ dốc và cát cao từ 4 đến 5 mét; từng doi cát và sỏi nổi lên, và không ở đâu nước sâu quá năm bộ (…). Chúng tôi qua sông bằng phà. (…)”.


“Cây số 180, Trà Huỳnh, trạm, nơi gặp nhau của đường 145 đến từ Plei Ku, Plei Tur, Buôn Ma Thuột. Con đường chạy dài qua rừng thưa trên đất cát.


Cây số 197, con đường vượt qua sông Sê San bên dưới Tòa Công Sứ và đi vào Kontum.”


(3) Qua những ghi nhận của các tác giả như chúng tôi trích dẫn trên, và theo bản đồ [3], chúng ta nhận thấy lộ trình của Henri Maitre[4] cũng như những người đương thời của ông đi từ phía nam (Buôn Ma Thuột) đến Kontum không đi ngang qua vùng cư dân Jrai Hơdrung (vùng Pleiku ngày nay). Ông đã đi qua 2 tuyến đường: hoặc phía đông (theo ngã làng P. Triu qua Đăk Đoa đến Trà Huỳnh lên Kontum) và phía tây (từ phía nam qua Plei Tur, P. Kueng đến làng P. Pi gặp tuyến đường từ P. Bôkham (bên Campuchia qua ) tại làng P. Pi trên dòng sông Sê San (sông Krong Tal hoặc K. Pocô) và hướng về núi Mô Rai (huyện Sa Thầy), vượt qua sông Pơcô về Kontum ngày nay.


(4) Nhưng các linh mục thừa sai giữa thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX về Miền Truyền giáo Kontum theo lộ trình nào? (Ở đây chúng tôi giới hạn vùng phía tây vì chúng tôi đương trình bày chuyến ra đi mồng hai tết).


A/- Linh mục bản xứ. Năm 1856, cha Hòa được lệnh Đức Cha Cuenot Thể phải về Vùng Truyền Giáo Kontum đầy nguy hiểm và mệt nhọc qua các làng. Nhờ địa danh một số làng này, chúng ta có thể phỏng định được lộ trình các ngài đã đi qua:


Gia đình bà Chính đã theo giúp cha Hoà và cha Vận từ những năm 1840 đến 1849 khi các ngài còn truyền giáo tại Thạch Thành (tỉnh Phú Yên). Người dân tộc Hroi ở nơi này bị chết rất nhiều do dịch khí. Vì sợ chết nên họ xin các cha cho họ cúng Yang, nhưng các cha không đồng ý. Họ nổi dậy chống đối và đuổi các ngài cùng với một số người làm đang ở với các ngài ra khỏi buôn làng. Các ngài đành đi dần lên vùng Đăklăk và lập cơ sở truyền giáo cho người M’nong Bu-Tong (từ năm 1850 đến 1855) tại Tinh Su, không xa sông Srépok, trong vùng B. Jen Drom (x. A. Monfleur, Monographie de la Province du Darlac (1930), Hà Nội 1931, tr.7-8). Các ngài ở đây trong một thời gian ngắn và cũng gặp khó khăn do những tập tục mê tín, nhất là một số người giàu có trong buôn làng lại ức hiếp dân; và vì các ngài thẳng thắn phê phán về những hành động độc ác này nên họ đã doạ dẫm các ngài.


Trước khi rời khỏi vùng M’nong, cha Hòa đã tường trình cho Đức Cha biết các khó khăn không thể vượt qua tại Miền Truyền giáo này. Vì thế, Đức Cha đã muốn thuyên chuyển cha về cư dân Bahnar. Thư Đức Cha đến vào lúc dân làng này toan tính ám hại cha, toàn thể người nhà cha. Do đó việc Ngài rời bỏ M’nong phải được thực hiện càng sớm càng tốt. Ngài đã sửa soạn cuộc ra đi một cách kín đáo và an toàn. Ngài cho đem chôn tất cả những đồ quí giá như ghè, nồi… những đồ cồng kềnh không thể mang theo được chôn vào nghĩa trang gần đó. Kế đó cha cũng tìm được một người dẫn đường tên là CHƠRE, ông ta đi buôn bán qua lại và biết rõ GOÔNG, nơi cha Vận đã giảng đạo, mà việc truyền đạo nơi này đã bất thành.


Mọi việc đã sửa soạn xong, nửa đêm, cha và mọi người trong nhà cùng 8, 9 người M’nong thành thực theo đạo âm thầm rời làng. Các Ngài đến làng GOÔNG sau hai tuần di chuyển khó khăn và mệt nhọc. Đến làng GOÔNG ông CHƠRE không còn muốn hướng dẫn nữa dù cha khuyên nhủ hoặc bát lý lẽ thế nào thì CHƠRE cũng không nghe. Cuối cùng cha trả tiền công cho ông ta bằng các hiện vật quý giá được cha chôn giấu tại nghĩa địa. Tại làng GOÔNG cha được một người Lào tên là LAK làm nghề săn bắn voi chịu hướng dẫn cha đến miền Bahnar vì anh ta đã biết làng Rơhai và đã gặp những người Việt Nam lạ ở đó. Hôm sau, cha lại lên đường đến làng Hơreng. Làng Hơreng thấy đoàn người nhiều của cải làm bộ mời các Ngài vào làng để giết người cướp của. LAK căn dặn mọi người phải đề phòng. Dân làng Hơreng thấy âm mưu bất thành lại bắt vạ cha vì đã ngủ nghỉ tại nơi “kiêng” của họ, cha phải mất hai trâu để chạy tiền phạt vạ. Các ngài lên đường đến làng Bơdăn vào chiều tối. Các ngài vào xin trọ đêm, nhưng tối hôm đó, đứa con ông chủ làng bị đau chết bất ngờ, họ đổ lỗi cho cha đem đến tai nạn dịch. Để cho yên chuyện và để đi cho nhanh, cha đành phải chịu phạt vạ mất một con trâu nữa. Sau cuộc hành trình đầy khó khăn, ngài đến bờ sông Bơbành. Trong lúc vui mừng, ngài cho bắn súng lớn ra hiệu cha về. Cha Do tưởng giặt đến nơi, nên cha sai người canh chừng cẩn mật. Nhưng khi biết đoàn người của Cha Hòa, cha Do cũng đáp lệnh chào mừng. Cuộc hành trình kéo dài suốt một tháng, cực kỳ khó khăn, nguy hiểm, và cuối cùng họ đã về tới Trung tâm Truyền giáo Rơhai.


Cha Hoà dẫn một số người nhà của cha và vài người M’Nong đã tòng giáo theo ngài về Kontum, trong số đó có gia đình ông Kuk và vợ là bà Chính, cùng đứa con trai là Tai. Ông Kuk là ông nội của cha Giuse Châu, thuộc gốc người M’Nong (Đăklăk), và bà nội tên Chính (người Kinh gốc Phú Yên).


Nông trường Kontum lúc đó đang được khai phá và xây dựng, cha bề trên Phêrô Combes (Bê) chỉ định cha Hoà phụ trách nông trường này, quy hoạch vùng đất, quy tụ dân cư và bố trí nhân sự có chỗ ăn chỗ làm, nhất là ổn định đời sống tôn giáo cho vùng đất mới. Vợ chồng ông Kuk, bà Chính và đứa con trai là Tai đã tận tình phụ giúp cha Hoá rất nhiều trong việc xây dựng nông trường kiểu mẫu nào.


B/ Những linh mục khai mở cánh đồng truyền giáo vùng Tây Tây Nam Pleiku.


Những bước chân của các vị thừa sai vẫn tiến bước trên cánh đồng truyền giáo vùng tây tây nam Pleiku để Tin mừng được lan khắp các buôn làng.


(1) – Cha Guerlach cảnh (1898 – 1902 )


Linh mục thừa sai, cha Guerlach Cảnh là một con người hăng say việc rao giảng Tin mừng các người dân tộc trên vùng Tây nguyên. Nơi nào khó có ngài đến như người chiến sĩ Phúc âm tiên phong với ý hướng miễn sao danh Chúa được rạng sáng.


Truyền giáo Plei Pơnuk.


Sau khi cha Guerlach Cảnh và ông Quới đến Bon Uin (Bon Vinh) vào đầu năm 1898, vì gặp nhiều khó khăn không thể vượt qua, ở được 3, 4 tháng, các ngài rời khỏi nơi nầy trở về Rơhai vào ngày 27 tháng 3 cùng năm. Sau khi dưỡng bệnh một năm, từ năm 1899 đến năm 1902, cha Guerlach phụ trách Rơhai.


Bản đồ số 4



Trong thời gian đó, ngài có dịp đến truyền giáo tại Plei Pơnuk và cũng gặp những khó khăn như ở Bon Uin (Bon Vinh). Sau đây là vài dòng tóm tắt công tác truyền giáo của cha trong thời gian nan nầy như sau :


“ Thực tế, sứ vụ mới nầy (đến Bon Uin) đã trao cho ngài, nhưng vì những khó khăn quá phức tạp, việc thiết lập cộng đoàn hứa hẹn nhiều đã không mang lại kết quả. Cha Guerlach phải trở về vùng Bahnar. Ngài ở cũng gần như vậy tại một điểm khác mà ngài đã thiết lập sau đó, tại Plei Klub. Giữa dân tộc Jrai” [5]


(2) – Linh mục thừa sai Nicolas Cận – JB . Décrouille Tôn (1908 – 1913 )


Trong những thập niên cuối thế kỷ trước, vì thiếu linh mục trong vùng truyền giáo Tây nguyên, nên một số linh mục thừa sai như cha Guerlach, cha Kemlin Văn phải di động đến nơi nào cần thiết để rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, khi tạm đủ nhân sự, vấn đề truyền giáo và xây dựng cộng đoàn tín hữu lâu bền được đặt ra: không thể chỉ đến phát hoang vùng đất truyền giáo mà còn tổ chức cộng đoàn tín hữu thành một họ đạo thuận tiện nuôi dưỡng đức tin trong phụng vụ Thánh Thể, củng cố đời sống đạo bằng giáo lý .


Từ năm 1905, khi điểm truyền giáo Ha Bâu được hình thành, tuyến đường phía bắc thành phố Pleiku nối từ Kontum đến Ha Bâu (theo đường Đăk Đoa), qua Tiên Sơn, đến Bầu Cạn và thông suốt đến vùng Plei Rơngol Khó và cả vùng giáp ranh với Campuchia.


Linh mục thừa sai Nicolas Cận.


Cha Nicolas lên vùng truyền giáo Bahnar, phụ trách trung tâm truyền giáo Rơhai từ năm 1902 đến năm 1905, thay cha Guerlach đang dưỡng bệnh.


Năm 1905, Cha bề trên Vialleton Truyền đã thuyên chuyển cha Nicolas đến người dân tộc Jrai Habâu (1905 – 1908 ). Hai làng xin tòng giáo : Plei Ko và Plei Dâl vào năm 1906. Cánh đồng truyền giáo người Jrai dẫn bước ngài tiến xa hơn, đến vùng tây tây nam Pleiku. Vào năm 1908 trao lại cho cha Corompt Hiển vùng Habâu phía bắc thành phố Pleiku, cha Nicolas Cận đến vùng Plei Rơngol .


Plei Rơngol.


Plei Rơngol cách thành phố Plei Ku 50 km nằm trên trục lộ 19 nối dài phía. Họ là người dân tộc Jrai Cơbuan, một cư dân sống trải rộng đến Bôkham, Bôkeo bên Campuchia. Họ rất hiếu khách vì nằm trên trục giao lưu với các dân tộc Khơme và Lào. Họ có một đời sống trung tín, luân lý cao, Vì thế, họ giữ vững niềm tin từ khi xin tòng giáo năm 1908 đến nay dù qua những giai đoạn thử thách và đen tối .


Plei Ia Ba


Plei Ia Ba nằm phía nam trục lộ 19 vùng người Jrai Pơuh. Cha Nicolas đến truyền giáo Plei Ia Ba. Nhiều anh em dân tộc có thiện cảm với đạo.


Cha Nicolas Cận truyền giáo cả vùng Tây tây nam Pleiku đến năm 1911, cho đến khi có vị thừa sai khác đến giúp là cha Gioan Baotixita Décrouille Tôn.


Linh mục thừa sai JB. Décrouille Tôn (Người dân tộc gọi ngài bằng một tên thân thương, đầy kính trọng là Ơi Biang) . Năm 1911, cha đến phụ giúp cha Nicolas và tạm trú tại Plei Hơlâm, nơi cha Nicolas vừa làm xong ngôi nhà nguyện bằng tranh vách nứa. Quang cảnh đón mừng cha mới nhộn nhịp và thắm tình, mang đầy sắc thái dân tộc tại vùng Plei Hơlâm (tiền thân Thanh Bình):


“Cha mới, người em của cha Đệ, tên là cha Biang ( a ). Ngày 17 tháng trước (b), ngài đã đến với người rồi.Cha Bề trên ( c ) sai ngài ở tại làng Hơlâm ( d ). Cha Đệ cũng giúp em mình chuyển đồ đạt của người em đến đó. Tất cả người dân Jrai nghe cha mới vừa đến, họ tụ tập tại làng Hơlâm chào thăm ngài với rượu, gà và heo . Ngày đó, cha Nicolas luôn lên nhà thờ mới, đẹp cùng ăn ba trâu và rất nhiều ghè rượu. Khách được mời chổ nầy làng nọ đến rất đông. Ngày đó là ngày thật vui vẻ của mọi người Jrai mới xin tòng giáo” [6].


Các giáo phu – thầy giảng.


Chúng ta thấy lộ trình di chuyển từ Mangla đến Plei Rơngol Khop.


Các giáo phu người dân tôc cũng như một số thầy giảng người kinh được huấn luyện tại trường Cuénot [7] tham gia công cuộc truyền giáo cách tích cực và có kết quả tốt: họ hăng say, tâm hồn phó thác cuộc đời mình cho Chúa, thiện chí phục vụ cách năng nổ. Tình thần truyền giáo cao và vui tươi được thể hiện qua lá thơ của chú Loa như sau:


“Chú Phêrô Lao từ Mangla đã xin cha gửi mình được đi dạy giáo lý cho anh em bên lương. Nên cha Nhứt sai chú đi theo cha Biang (cha Tôn ) đến dạy đạo cho anh em người Jrai ở xa. Cũng có một người khác, tên cũ là Klim, từ làng Kon Hara cùng theo cha đi dạy đạo cho anh em ở dưới đó các giáo phu cũng đi dạy giáo lý tại vùng đất xa xôi, cho các người dân tộc bên lương muốn biết đạo, nên họ vui vẻ thật sự. Chúng tôi mong nhiều người có tâm hồn hăng say như chú Lao. Theo Chúa, cầu chúc họ sẽ được phúc trời”


“Chú Lao đã đến vùng đất xa xôi ấy, có viết thư cho chúng tôi như sau:


“Kính thưa cha, hai con xin kính chào cha.


Thưa cha, hai con đã đến vùng Jrai bình an. Nhưng lúc đầu hai chúng con cũng vui vẻ. Cha đã nói hai chúng con đi dạy giáo lý cho dân làng Jơrao nằm sát đất Lào, xa thật.


Nhưng khi chúng con đi, chúng con cũng không vất vả lắm. Chúng con từ trường đi bộ đến Habâu. Nhưng sau đó chúng, cha cho chúng con đi ngựa đến miền đó. Ô đẹp tuyệt ! chúng con nghỉ bốn lần trên đường đi : một lần nghỉ ở Kon Xơlang ; một lần ở Habâu; một lần ở làng Tiên sơn, một lần nữa tại làng Hơlơm. Sau đó chúng con đến làng Rơngol, làng của cha Biang ở” .


Xong đâu đó, ngài cho chúng con cây súng bắn chim. Chúng con đi bắn chim mổi ngày, có lúc được có lúc không được con nào. Trong khi đó, ngài còn sai chúng con đến làng Jơrao và bảo tìm một người đi theo để lo cơm nước. Chúng con đi lạc đường, vào làng của những người lương; chúng con lúng túng quá. Chúng con đọc kinh lần hạt, hết lần hạt rồi hát :


“Ơ các thiên thần, xin giữ gìn chúng con trên đường đi” hết hát, đả đến làng Jơrao rồi .


Thưa cha, Chúa thương hại chúng con nhiều. Hai chúng con dịch ra tiếng Jrai câu : Xin ngài thương xót chúng con ; Xin ngài đoái thương nghe lời chúng con” họ muốn được rửa tội. Hai chúng con dạy họ chua đủ, mới có bốn tối thôi” .


“ Thưa cha , con xin cha chỉ dẫn cho con với . Xin kính chúc cha được bình an mạnh khoẻ.


Phêrô Lao viết” [8]


Đường giao thông thiếu, vất vả và nguy hiểm.


Đường giao thông khó khăn, vất vả cũng không cản được bước chân các chú giáo phu hăng say nước Chúa. Con đường giữa làng nầy qua làng nọ là đường mòn, chỉ một trận mưa cũng làm mất dấu vết không thể sử dụng được, chưa kể bãi chông, bẫy đánh thú rừng đủ loại nguy hại đến sinh mạng. Phương tiện di chuyển là lội bộ, nhất là trong những vùng hẻo lánh cũng không sử dụng ngựa được. Thú rừng rình rập, trộm cướp không thiếu, mưa lũ cuốn hút mọi vật trên dòng nước. Sau trận mưa là trơn trượt, đạo quân kiến nhọt, đen, to đâm bổ vào chân người đi đường, lôi những miếng thịt nhức nhói, hoặc bầy “ vắt” cong lưng bún cao tận cổ tay hút máu . . . . Trục lộ 19, 14 mới tạm xử dụng được cuối thập niên 20, và từ thập niên 30 của thế kỷ trước mà thôi.


“ Ngay các cha đến cắm phòng, chỉ có một cha bị nạn, đó là cha Tôn. Trong khi ngài đi, vướng dây bẩy đánh thú vật. Nhưng bây giờ vết thương đã lành rồi, nên ngài đã trở về làng Plei Rơngol, một làng rất xa” [9] .


Năm 1912 – 1913


Cha Tôn cùng với cha chú Lao và anh Klim ở Plei Rơngol phụ trách cả vùng phụ cận như như Hơlâm (Trại Đầm, tiền thân của họ Thanh Bình) trong khi đó Nicolas Cận và thầy Dư đến vùng người Jrai Pơuh, Plei Me nằm về phía nam.


Thành lập họ Thanh Bình ( 1913 ).


Bên cạnh làng Hơlâm, một số người kinh lên sinh sống, gọi là Trại Đầm. Năm 1913, họ đạo người kinh nầy được thành lập; năm 1914 , họđạo được đổi tên là họ Thanh Bình (nằm phía tây so với nhà thờ ngày nay ). Danh xưng nầy vẫn còn dùng đến ngày nay.


(3) – Kinh lý của Đức Giám Mục địa phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn ) Đức Cha Jeannigros kinh lý vùng Tây nguyên vào năm 1913.


Những lộ trình truyền giáo năm 1913.


Cuối năm 1912, cha bề trên Kemlin Văn và cha Nicolas Cận qua Hồng Kông chữa bệnh [10]. Đầu năm 1913, cả hai cha khỏe [11] và chuẩn bị trở về Việt Nam, gặp Đức Cha để tháp tùng Ngài đi kinh lý vùng truyền giáo Tây Ngyên.


Đầu tháng 3 năm 1913, Đức Cha có Cha Bề Trên Văn đi theo, rời Làng Sông, đến Kim Châu. Ngày 11, các ngài đến An Khê và sau đó đến thăm vùng Bahnar [12] . Để chia sẻ những thử thách cũng như thành quả, nhất là nhận định những nhu cầu mục vụ cho vùng truyền giáo người dân tộc, Đức Cha đã đến thăm các người miền dân tộc Sơđăng, Jơlơng, Bahnar, Rơngao và cuối cùng người đến Plei Rơngol, Plei Me. Chúng tôi xin phỏng dịch chặng đường kinh lý này trích trong tờ nguyệt san Hlabar Tơbang năm 1913 số 17 từ trang 39 đến 40. Lòng mến thắm tình của dân làng, nhiệt thành tông đồ của các chủ chăn được thể hiện rõ nét trong cuộc gặp gỡ hiếm này:


“ Ngày Angele, Cha Bok Ang đưa Đức Cha đến làng Hơlâm. Trước tiên, Ngài đi theo con đường chính đến Pleiku, từ đó Ngài đi dọc theo rọc chàm dân làng Mơnham, làng Gào thôi. Vì thế, bị lộn đường một tí, nhưng nhanh chóng, Ngài quay lại tìm thấy đường đi. Vào buổi trưa, ngài nghỉ ngơi, dùng bửa trưa, hút thuốc tại làng Gao. Ngày hôm sau, Ngài khá mệt nhọc ; Ngài đến làng Hơlâm và bị nhứt đầu nhiều. Dân làng này chuẩn bị, dọn đường đón ngài. Đêm đó, Cha Nicolas vội vã từ Plei Me, đến đón ngài. Cho nên, 4 vị linh mục tiếp ngài tại làng Plei Rơngol. Dân làng chưa bao giờ thấy các cha nhiều như vậy đến thăm làng của họ. Người Jrai có đạo vui vẻ chuẩn bị đón rước : họ không thể chuẩn bị đường như người Bahnar. Đức Cha nghỉ chân dọc đường. Dân làng Plei Rơngol đi đón Đức Cha đã chờ ngài từ lâu : do đó một chú giúp người kinh của cha bị choáng váng, té xỉu. Nhưng sau khi dùng nước lã giã đầu, chú đã tỉnh lại. Nhiều người dân làng này lên nhà cha Biang (cha Tôn ) vào ngày hôm đó. Dân trong vùng cũng đến giúp đỡ cha và đến chào Đức Cha vui vẻ.”


“ Dân làng Plei Rơngol mới theo đạo, chưa rửa tội, Chú Lao mới bắt đầu qui tụ trẻ em, dạy chúng đọc kinh và hát bằng tiếng Jrai. Dân làng cũng muốn một lòng một dạ, nên khi họ dự lễ, Đức Cha cũng có thể hiểu một phần nhỏ họ hát những gì. Nghe họ hát, Ngài mong mỏi nhiều chú như chú Lao như vậy. Có nhiều làng ở xa cũng mong mỏi theo đạo, như họ không biết giáo lý. Có những người hiểu biết giáo lý giúp dạy họ, chắc họ sẻ mau hiểu biết.”


Đức Cha đến làng Plei Me.


“ Ngày kính thánh Giuse, đức Cha ban Bí Tích Thêm Sức cho các chú của cha Nicolas và quay về nghỉ tại làng Hơlâm. Từ đây, ngài dậy sớm đi đến Plei Me vào ngày Chúa Kitô lên trời. Làng này ở rất xa; nhưng có cha Nicolas tìm đường tắt vượt núi đồi lội sông suối, nên cũng mau tới nơi. Thầy Dư đã chuẩn bị hết mọi sự rồi : dọn đường, dọn nhà cho chúng tôi. Cho nên, cả những người ở ngoài cũng đẹp đẽ nữa. Nhà của cha cũng đã xong rồi, to lớn thật. Đó là một nhà sàn, vách dất, nhưng sàn nhà làm bằng danh mộc. Ngôi nhà này toạ lạc giữa làng Plei Me và Ia Ba. Dân trong vùng mới tòng giáo, chưa được rửa tội. Tuy vậy, họ cũng một lòng. Khi nghe Đức Cha đến, họ đến chào ngài. Đức Cha cảm thấy sung sướng. Ngài đến thăm các già làng tại nhà họ.


Ngày 5-5, Đức Cha trở về, nghỉ đêm tại Plei Pơo ( . . . )” [13]


(4) – Cha Bề trên Kemlin Văn (1912 – 1924)


Đức Cha địa phận quan tâm đặc biệt vùng truyền giáo dân tộc, đặc một vị Bề trên vùng là Cha Văn, một con người xuất chúng về mặt học thức, nhất là thiết tha lo lắng cho người dân tộc về tôn giáo cũng như nhiều phương diện khác như tìm hiểu phong tục, tập quán, lễ hội . . .


Trong giai đoạn từ đầu năm 1911 số linh mục tại vùng truyền giáo tương đối: 20 linh mục thừa sai Pháp và 1 linh mục Việt Nam [14]. Nhưng nhờ tinh thần hy sinh của các vị Bề trên, không kể cha Guerlach Cảnh, còn cha Kemlin Văn thay vị Bề trên tiền nhiệm vào năm 1912 rất thiết tha, mến yêu với một trái tim nhân hậu với anh em người dân tộc, đăc biệt với người Jrai. Điều đó được ghi lại trong tiểu sử của Ngài như sau:


“ Sau một thời gian nghỉ dưỡng 6 tháng tại Bêtania, cha Kemlin trở lại xứ truyền giáo với Đức Cha Jeanningros thăm vùng dân tộc để kinh lý lần thứ nhất của Đức Cha.


“ Sau khi lấy lại được sức khoẻ sức khoẻ một ít, Cha Bề Trên tháp tùng Đức Cha đi khắp nơi đến thăm những làng rừng núi xa xôi hẻo lánh nhất. Cuộc hành trình dài bằng ngựa và cực nhọc trên những vùng cao nguyên trơ trọi của cư dân Jrai. Đôi khi đoàn người nhỏ bé này ngồi ven bờ suối để nghỉ ngơi. Đó là một mùa đẹp và những tốp người Jrai với chiếc lao trên vai rảo qua những con đường mòn, rồi dừng chân nghỉ chốc lát. Cha Kemlin tốt lành như tự nhủ luôn nói đi lặp lại : cụ già người dân tộc này bạo dạn và can đảm. Chàng trai kia, tôi thấy anh ta lương thiện và thông minh. Người khác kia kìa có dáng thông minh. ”


“ Một người bạn kêu lên : nhưng thưa Cha Bề Trên, những con người này ngài đâu có biết họ sao mà Cha biết họ lương thịên, thông minh tốt lành. Cha bề trên chỉ trả lời bằng thinh lặng và nụ cười. Những con người dân tộc tội nghiệp, Ngài thấy nơi họ những tâm hồn cần được chinh phục và điều đó cũng đủ để cho Ngài lý tưởng hoá một phần nào bằng tình yêu siêu nhiên.


“Những con người dân tộc tốt lành”. Ngài có thói quen gọi như vậy. Ngài yêu mến họ bằng một tinh yêu hiền mẫu. Cũng vậy, Ngài tìm cách xoá quên đi các khốn cùng, những yếu đuối, tâm tính bất định, cả những bội bạc của họ nữa. Khi người ta đưa ra những lời chỉ trích, các nhận định khắc khe về cung cách sống của họ, Ngài cũng đau khổ. “Người dân tộc tội nghiệp”. Ngài nói: “họ không hiểu biết gì, họ không được chỉ giáo đủ”. Nếu người ta càng chỉ trích, Ngài thinh lặng hoặc như Ngài bận tâm đọc sách – quyển Pélerin hay một nhật báo nào đó mà trong những trường hợp khác Ngài không bao giờ đọc. Đó cũng là cách làm chứng trong sự thinh lặng thái độ thinh lặng của Ngài (…)


“ Cha Kenlim, chính Ngài có một trái tim rộng mở, thương yêu và siêu nhiên đủ để ôm ấp người kinh cũng như người Bahnar trong cùng một lòng từ ái ví Chúa Kitô vậy” [15].


Cha Kenlim Văn đảm nhận trách nhiệm Bề trên vùng dân tộc vào một thời điểm khó khăn. Một trong những khó khăn, đó là một mặt nhiều làng xin tòng giáo chẳng những người Bahnar, Sơđăng mà còn người Giarai vùng tây tây nam Pleiku, mặt khác, thế chiến thứ nhất nổ ra, số linh mục thừa sai thiếu hụt vì phải xung phong vào chiến trường theo chế độ quân dịch. Cha xin thêm các linh mục Việt Nam từ các tỉnh miền duyên hải như Bình Định, Phú Yên. Và chính bản thân Ngài cũng phải đảm nhận nhiều họ đạo xa xôi hẻo lánh vùng Sơ đang. Nhưng công việc tiến hành trong đường lối an bài của Chúa. Vùng truyền giáo tây tây nam Pleiku đơm hoa kết trái.



PHÂN ĐOẠN II :


GIAI ĐOẠN PHÂN CHIA THÀNH HAI ĐỊA SỞ :


PLEI RƠNGOL VÀ THANH BÌNH ( 1914 – ).


Đức Giám Mục địa phận đi kinh lý vùng Tây Nguyên biết được những nhu cầu cũng như những cố gắng của các Linh mục, thầy giảng, các giáo phu trong công tác rao giảng Tin Mừng cho người dân tộc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra gây nên những cấp thiết khác, và được Cha Bề Trên Kemlin Văn trình bày các nhu cầu, đặc biệt thiếu nhân sự trầm trọng. Do đó, Đức Cha quyết định gởi thêm linh mục Việt Nam, đạo đức, khôn ngoan, và kiên cường trong sứ vụ truyền giáo cho vùng truyền giáo Kon-Tum. Đó là Cha Ban và Cha Phan được gởi lên vùng Tây Nguyên vào năm 1914.


A – LINH MỤC VIỆT NAM ĐẾN: CHA PHAN (1914 – 1923 )


1 - Cha Nicolas rời khỏi vùng truyền giáp Plei Me – Linh mục Vịêt Nam đến.


Năm 1914. Cha Nicolas cùng hai linh mục thừa sai Pháp khác là Cha Louison (chánh xứ Kon Sơmluh ), và Cha Ducateau (chánh xứ Kon Trang Mơnei ) về Pháp dưỡng bệnh. Để đáp ứng nhu cầu vùng truyền giáo Tây Nguyên, nhất là ngày càng nhiều cộng đoàn người Kinh, Đ. G. M địa phận gởi lên Tây – Nguyên 2 linh mục Việt Nam: cha Ban lên Rơhai và phụ trách vùng Hamong, cha Phan phụ trách vùng tây tây nam Pleiku. Cha bề trên Văn sai cha Phan đến phụ giúp cha JB. Décrouille Tôn tại Plei Me, nơi cha Nicolas đã xây dựng nay ngài đi dưỡng bệnh .[16].


2- Năm 1915 Cha JB Décrouille Tôn thuyên chuyển về phụ trách P. Jơdrâp vùng Rơngao, nên cha Phan trực tiếp đảm nhận cả vùng truyền giáo người Jrai phía Tây Tây nam nầy. Ngài đặt trụ sở tại họ chính là Plei Rơngol, trung tâm cả miền : nhiều làng cực tây như Bokham, cực bắc như Plei Jơrao; những làng chung quanh như Plei Ia Ba, Pơnuk , Kơxum, làng người kinh mới hình thành như Phước Thiện, Thanh Bình ; cực nam như Plei Me . . .


Trong khoảng thời gian phụ trách (1914- 1923 ), cha Phan hăng say rao giảng tin mừng cho anh em người dân tộc với sự đóng góp tích cực và năng nổ của các giáo phu và thầy giảng. Cha dần dần xây dựng và củng cố các cộng đoàn thành họ đạo, có ban chức việc theo phương thức truyền thống của địa phận cũng như mỗi nơi có nhà nguyện để qui tụ đọc kinh, sinh hoạt giáo lý và dâng thánh lễ.


3 - Tình hình chính trị.


Trước năm 1929, Pleiku là một phần đất tỉnh Kon Tum. Năm 1911, Viên Công Sứ Pháp ở Kon Tum cho người điều tra về tình hình an ninh và kinh tế vùng này. Viên quan sứ pháp đầu tiên (1907 – 1911 ) lên trấn nhận KonTum là phái Tam điểm, chống đạo hơn là lo việc trị an. Tên quan sứ là Guénot đã thắt cổ tự vẫn chết tại toà sứ Kon Tum[17].


Năm 1913, chính quyền Pháp đặt tại Pleiku một Toà Đại lý giải quyết mọi công việc hằng ngày về hành chánh. Tháng 2 – 1929, Pleiku tách khỏi Kontum để thành lập một Tỉnh riêng.


Vấn đề khó khăn không phải chủ yếu do bất công hay do tổn hại quyền lợi của người Dân tộc mà chính là các quan thực dân Pháp muốn hất cẳng các vị thừa sai ra khỏi vùng Tây nguyên để cho họ dể bề thao túng trên chính trường Việt Nam, mà tây nguyên là món mồi ngon của họ, trong ý đồ biến Tây nguyên thành vùng tự trị trực thuộc Pháp.


Trước tình trạng đó, cha Phan một mặt khôn ngoan và can đảm giữ vững sự đoàn kết giữa người kinh và người dân tộc, giáo dục sự công bằng và tương hộ lẫn nhau. Do đó, nhiều người dân tộc và người kinh dần dần tôn trọng thông cảm và mến phục nhau.


Thời gian cha phụ trách là giai đoạn chuẩn bị tách vùng nầy thành 2 địa sở sau nầy.


B – CÁC LINH MỤC THỪA SAI ĐẾN THAY (1923 – 1927)


Thị xã Pleiku bấy giờ trở thành trung tâm hành chánh chính trị. Các tuyến lộ từ Kontum đến Pleiku và ngược lại đều qua trung tâm thị xã này.


1 – Vì nhu cầu tại Pleiku cấp bách và cần có một vị linh mục Việt Nam để ứng phó những vấn đề tại một trung tâm hành chánh là Pleiku có nhiều người kinh, Bề trên thuyên chuyển cha Phan làm chánh sứ địa sở Pleiku thay cho cha Demeure ngự vào năm 1923. Cha Hutinet Nhì phụ trách địa sở Plei Rơngol từ năm 1923 đến năm 1925.


2- Cha Rohmer thay cha Hutinet Nhì từ năm 1925 đến năm 1928.


Số người kinh ngày càng lên lập nghiệp nhiều trên trục lộ 19, nhất là tại những đồn điền vùng Bầu Cạn Thanh Bình, Plei Rơngol Khop.




Như phần kết luận.


Chuyến ra đi của chúng tôi vào ngày Mồng Hai Tết gây âm vang trong tâm khảm của chúng tôi. Năm 1856, cha Hòa được lệnh Đức Cha Cuénot Thể phải về Vùng Truyền Giáo Kontum đầy nguy hiểm và mệt nhọc qua các làng, như một chuyến ra đi về ĐẤT MẸ “VÙNG TRUYỀN GIÁO KONTUM”, đến năm 2014 “NĂM TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH NHƯ” MÓC THỞI GIAN LÊN ĐƯỜNG


Hơn 166 năm (1848 – 2014) truyền giáo trên vùng đất Tây Nguyên, những con đường mòn mà các vị thừa sai đã đi qua không biết mỏi mệt để Loan Báo Tin Mừng. Phần chúng ta, thế hệ con cháu, nối tiếp những bước chân của các bậc đàn anh đi trước, chúng ta nghĩ như thế nào?, trong lúc chúng ta có nhiều phương tiện hơn, thuận lợi hơn nhiều mặt.


Hãy vui tươi, những con người ra đi đến với lương dân:


“ĐẸP THAY, ÔI ĐẸP THAY NHỮNG BƯỚC CHÂN RAO MẦM CỨU RỖI.


“ĐẸP THAY, ÔI ĐẸP THAY NHỮNG BƯỚC CHÂN RẢO KHẮP NẺO ĐƯỜNG”



Kontum, ngày 14 tháng 02 năm 2014


Lm. Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn


                                                       


[1] Theo tác giả Võ Chuẩn, “Kontum Tỉnh Chí”, Nam Phong số 191, décembre 1933, trang 542 cho thấy “Những công cuộc mở mang đường lộ từ năm 1928 đến 1933.


[2] Lời giới thiệu của Andrew Hardy về tác phẩm “Người Ba-na ở Kontum” của Nguyễn Kinh Chi & Nguyễn Đổng Chỉ, NXB. Hà Nội 2011 trang 60 và trang 62.


[3] Xin xem bản đồ đính kèm.


[4] Về con người Henri Maitre, xin xem “Cao Nguyên Miên Trung”, Cửu Long Giang – Toan Ánh, 1974 trang 127tt


[5] Xem Annales, MEP năm 1912 số 89 tr. 298; Echos de la Mission tháng 3 và 4 năm 1949.


Plei Klub cũng được gọi là Pơnuk.


[6] Xem Hlabar Tơbang năm 1911, số 2 tr. 12.


( a ): cha Tôn em ruột chaa Giuse Décrouille Đệ.


( b ) tháng một : ( c ) : cha bề trên vùng Truyền giáo lúc đó là cha Guerlach


( d ) : vùng Thanh Bình ; Hơlâm ( hoặc Halơm ) làng dân tộc bên cạnh có làng người kinh là Trại Đầm là tiền thân của họ đạo Thanh Bình.


[7] Xem , sđd . Thầy Dư người kinh gốc Đại an, chú Lao ở Manla vào trường năm 1908


[8] Hlabar Tơbang năm 1912, tr. 70 – 71.


[9] Ibidem năm 1913 tr.12


[10] Ibidem năm 1912 số 21 tr. 71


[11] I bidem năm 1913 số 24 tr. 13


[12] Id số 26 tr. 26 tt.


[13] Xem Hlabar Tơbang, năm 1913 số 27 trang 39 – 40 (tức làng dân tộc gần Giáo xứ La Sơn ngày nay).


[14] x. id. năm 1911 số 4 tr.27.


[15] Xem “ Le Père Kemlin , 1875- 1925” nhà in thừa sai Qui Nhơn, tr.8


[16] Xem Hlabar Tơbang, năm 1914 số 37 tr. 12 .


[17] Từ tháng 7 năm 1911 đến tháng 2 năm 1913, vị uỷ viên tạm thời thay ông Guénot lại càng khích thêm đông người dân tộc chống người kinh, bằng cách thức họ đòi đất lại. Nhiều người kinh phải bỏ đi nơi khác như về Trung châu, qua Lào hoặc qua Campuchia (xem Document số 2 “ Le prolème de l’Immigration sur les haut plateaux” năm 1922. Trang 29. bản đánh máy lưu tại Toà Giám Mục Kontum, bài viết của Cha Corompt.


Các Tin Tức Khác:
(12:05:2014 | 11:12 AM)
Ngày Phong Cùi Tại Giáo Phận Kontum (10.05.2014)
(12:05:2014 | 10:46 AM)
Pater Tháng 2 & 3 & 4 Và Tháng 5 Năm 2014
(06:05:2014 | 10:06 AM)
Thánh Lễ Làm Phép Nhà Nguyện Plei Don – Kontum (02.05.2014)
(02:05:2014 | 12:22 PM)
Ngày Gặp Mặt Tân Tòng năm 2014 MIỀN PLEIKU (28.04.2014)
(02:05:2014 | 11:51 AM)
Thánh Lễ Làm Phép Dầu tại GX. Đăk Mot (16.04.2014)
(02:05:2014 | 11:40 AM)
Bài nói chuyện của Đức Cha Micae tại ĐCV Huế
(02:05:2014 | 11:39 AM)
Chuyến Du Hành Mục vụ của Đức Giám Mục Gioan Sion Khâm đến Attopeu-Paksé (năm 1944)
(17:03:2014 | 07:08 PM)
Thánh lễ bổ nhiệm Chánh xứ Kontrang Mơnei (17.03.2014)

Xem Thêm...