N, 00-00-2011   00 :00:00

Quý Vị Đang Xem Tin - Bài Viết Trước Tháng 06 Năm 2014

LÀM SAO MỘT ĐỊA SỞ NƠI XỨ THƯỢNG ĐƯỢC THIẾT LẬP VÀ NẢY NỞ?
(06:12:2012 |08:33 AM)
Nhân dịp Đức Tổng Giám mục thăm các địa sở cũng như các họ đạo vùng cực bắc Giáo phận, Ban Truyền thông Giáo phận xin mạn phép đăng lại ; bản lược dịch: “LÀM SAO MỘT ĐỊA SỞ NƠI XỨ THƯỢNG ĐƯỢC THIẾT LẬP VÀ NẢY NỞ?“

Tài liệu này chúng tôi đã đăng vào năm 2006 khi  Cha Phêrô Trần Công Minh được Đức Giám mục gửi đến dựng lều tại Đak Mot, thị trấn huyện Ngọc Hồi, phụ tá cho Cha Tổng Đại diện Giuse Nguyễn Thanh Liên.   Hy vọng tài liệu nhỏ bé này giúp gia đình Truyền thông của Giáo phận nhà có được một cái nhìn toàn cảnh về “SỰ HIỆN DIỆN CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO” TẠI VÙNG CỰC BẮC CỦA GIÁO PHẬN, ĐỂ TẠ ƠN VÀ TIN TƯỞNG VÀO LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG LUÔN QUAN PHÒNG  ĐỐI VỚI CÁC CON CÁI CỦA NGƯỜI. Chúng tôi sẽ đính kèm bản đồ về địa sở ĐAK KƠNA  sau đây.

GPKONTUM (05.12.2012) KONTUM

XIN KÍNH MỜI

LÀM SAO MỘT ĐỊA SỞ NƠI XỨ THƯỢNG
ĐƯỢC THIẾT LẬP VÀ NẢY NỞ?

GIỚI THIỆU

Ngày 2-6-2006, Cha Phêrô Trần Công Minh được Đức Giám mục gửi đến dựng lều tại Đăk Mot, thị trấn huyện Ngọc Hồi, phụ tá cho Cha Tổng Đại diện Giuse Nguyễn Thanh Liên, chạy đi chạy về như con thoi! Mười ngày sau khi lên nơi cư trú giữa đoàn chiên đã nhiều năm vắng bóng linh mục trực tiếp mục vụ, Cha Tổng Đại diện cùng Cha Trần Công Minh bắt tay vào việc dựng một lán trại để che nắng che mưa đón tiếp giáo dân: Giáo dân gồm hai huyện trên dưới 10.000 giáo dân dân tộc: huyện Ngọc Hồi có 3.500 giáo dân và Dak Glei có 6.500 giáo dân. Đây là hai huyện cực bắc của giáo phận, có số bộ tộc nhiều nhất trong giáo phận. Cuối năm vừa rồi, các cha cố gắng dựng được nhà xứ theo dáng dấp nhà dân tộc, nhưng cũng chưa ở nhà mới này vì muốn sống giữa anh em dân tộc  như cảnh sống của người dân tộc. Khi Đức cha Micae gửi các cha đến trụ lại tại Đak Mot chẳng rõ Đức Cha, các Cha có nhớ năm 2006 là đúng 70 năm địa sở DAK KƠNA tách ra làm hai, trong đó có Đak Mot và Đak Chô không? Ôi thôi! Âu cũng là thời điểm được “quan phòng huyền nhiệm” đánh dấu sự quay về của các mục tử để sống với và ở giữa anh em tín hữu dân tộc đầy nhiệt huyết, hăng say, sốt sắng, can đảm giữ vững niềm tin trong mọi biến cố của thời cuộc, dù bị sóng gió bão táp đưa đẩy trôi nổi đến nhiều nơi và gặp nhiều sự cố éo le khó lường trước.

Năm nay năm 2007, Địa sở Đak Mot – là nói đến Đak Mot Kram VÀ Đak Mot Iop – đúng 75 năm, nếu tính năm tòng giáo (tòng giáo vào năm 1932). Và địa sở Đak Mot đã 71 năm tuổi đời với tước hiệu “ĐỊA SỞ” thực thụ tách từ địa sở Dak Kơna (1936-2007).

Vì liên hệ mật thiết như vậy giữa Đak Mot, Đak Chô (tòng giáo 1905) với ĐAK KƠNA, chúng tôi xin ghi lai đây bài phỏng dịch về địa sở DAK KƠNA có tiêu đề: LÀM SAO MỘT ĐỊA SỞ NƠI XỨ THƯỢNG ĐƯỢC THIẾT LẬP VÀ NẢY NỞ?.

Lược dịch theo Echos năm 1939:  “La Mission des Pays-Mois en 1939”

Lm. Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn

Phương Quý năm 2006

***

image001

TIỂU SỬ NHO NHỎ CỦA ĐỊA SỞ ĐAKKƠNA

Lời nói đầu

Có lẽ đọc giả sẽ cảm thấy thoải mái đọc bản sưu tầm ngắn về những địa sở của chúng tôi. Như vậy, nên có một cái nhìn chung chung về những khó khăn mà các vị thừa sai phải chịu đựng để thiết lập một cái gì vững chắc, bền vững trong các xứ ngoại giáo, và cũng nhận thấy Lời trong Kinh Thánh thật biết bao:

Những người gieo trong nước mắt, sẽ gặt hái trong hân hoan”.

Thực tế, khởi đầu địa sở này, trong 25 năm đầu rất vất vả, hầu như ngã lòng, đó là những gieo vãi trong nước mắt, nhưng sau đến mùa gặt hái trong hoan lạc. Trong vòng 4-5 năm, địa sở này đã lan rộng đến nỗi phải phân chia ra làm 2 địa sở mới: địa sở Đak-Môt phía tây, và địa sở Đak-Chô phía đông.

Vì việc trở lại đạo không phải là công trình của nhân loại, như vậy có nên thiết lập một địa sở mới không? Người ta muốn đạt được một cái gì? cần có Thiên Chúa giúp đỡ bằng những ơn lành toàn năng. Điều đó vượt quá con mắt của độc giả.

Năm 1891, làng Kon Hơring đông dân (800 dân), ở 30 cây số phía bắc Kon-Trang, một làng Công giáo cũ lúc đó thuộc Cha Irigoyen, trở lại đạo. Về sau, chỉ có Chúa mới biết Cha Irigoyen chịu bao nhiêu khổ cực trong những năm dài để biến làng này thánh làng Công giáo.

Năm 1904, nhiều làng lân cận khác trở lại đạo. Kon Hơring thành một trung tâm của một địa sở mới. Chính Cha Bonnal trẻ tuổi đã được chỉ định ở chỗ đó như người tiên khởi chính thức vào ngày 4-4-1904.

I. NHỮNG HY VỌNG PHẤN KHỞI ĐẦU TIÊN

Một năm sau, 1905, vào một ngày đẹp trời, đoàn người đại diện thượng Sêđăng gặp Cha Bonnal. Cha chẳng biết tí nào những con người này. Ngài rất đỗi ngạc nhiên khi nghe nói họ đến từ làng họ, làng Đak-Kơna, để xin ngài một đặc ân được nhận vào ràn chiên Giáo Hội. Chẳng có một tin nào có thể làm cho tâm hồn vị thừa sai trẻ tuổi vui mừng hơn. Lẽ tự nhiên, ý định đó được chấp nhận ngay với niềm vui chan chứa. Họ ấn định ngày giờ cho ngài đi thăm làng này, khoảng 15 cây số về hướng bắc.

Chúng ta hãy nghe Cha kể về sự thay đổi thật khích lệ này:

Thám hiểm truyền giáo thú vị

Thứ năm ngày 21-9-1905, chúng tôi đi phá huỷ những linh vật của làng Đak-Kơna. Dân Kon-Hơring muốn hộ tống tôi với vũ khí, họ sợ một cuộc tấn công của người Sêđang, vì biết rằng những người này nhìn ngó sự đóng binh của người Pháp trên xứ này bằng con mắt nghi ngờ; vả lại, vào năm 1901, họ đã tấn công và phá huỷ đồn Robert, làm bị thương đến chết ông đồn trưởng, đã giết một bà xấu số và đã cướp phá tất cả; vả lại đồn này chỉ cách đường 3 cây số thôi.

Tôi đi ngựa với chú giáo phu và một vài người nhà tôi. Tôi nhận thấy bên kia sông Psi mấy mươi chiến sĩ trẻ tuổi vũ trang bằng lao, đã đi trước tôi và thành đoàn người hộ tống tôi.

Các người chỉ huy đi trước, đến tôi và các người phóng lao đi sau. May phúc chúng tôi không gặp gì bất trắc; và đối với quân địch, chúng tôi chỉ gặp thấy vô số con vắt trên suốt lộ trình.

Sau 2 giờ đi, chúng tôi tiến sát đến sông Tôkan, khi một bầy nhỏ chúng tôi, không ngại những người Sêđang, nhưng một bầy khỉ xám, thoát thân mất hút qua những cành cây rừng với tiếng gãy đổ. Từ bên kia, mà chúng tôi phải qua bằng thuyền độc mộc như chúng tôi đã dùng, tại sông Psi, chúng tôi nhận thấy dân làng Đak-Kơna chờ chúng tôi, để dẫn chúng tôi về làng họ. Chúng tôi còn đi một giờ nữa và chúng tôi đã đến làng.

Tất cả mọi người đều ở đó. Không cần thương lượng, bàn cãi lâu, vì xét thấy tín hữu chúng tôi đã thực hiện được những điều cần thiết rồi, và thấy rằng lúc đó dân làng đã chấp nhận “cầu nguyện”, nghĩa là đã trở lại đạo. Lý do trở lại của họ là chính những người Sêđang Đak-Kơna này và những làng chung quanh đã có một điều gì xin lỗi về vấn đề thù nghịch chống đồn Robert. Sự quan phòng của Thiên Chúa đã dùng mọi phương thế để đem con người đến mục đích của Ngài.

Bàn luận đã xong, lúc đó tín hữu tháo gỡ các thúng đựng linh vật treo trên cột chính của nhà công cộng, họ ném xuống các sừng trâu đã chặt nhỏ do những cuộc tế thần xưa nay và được giữ lại như bằng chứng về lòng tin tường ngoại giáo của họ.

Trong các thúng đựng linh vật này, có những sừng nai, sừng dê con mang hình thù dị kỳ, những hòn đá lạ lùng tiêu biểu cho họ một bùa linh được thần trao ban; lại có những chiếc rìu bằng đá được xem như vật kiêng, nào là dao dùng tế lễ, chiếc bầu nhỏ, nanh heo rừng… Tất cả đều vô dụng, bị đốt, hay bị ném vào rừng.

Những người này cũng có một cặp ngà voi nhỏ, nhưng họ không giữ tại nhà công cộng, sợ bị mất cắp. Lẽ đương nhiên, cặp ngà này xem như một linh vật quyền năng; họ không dám giữ. Khi mặc cả xong, họ xin chú giáo phu đi vào rừng lấy. Chính họ không dám lấy, sợ phải dâng lễ xá tội.

Rửa tội cho các anh em nhỏ được ấn định chậm hơn một tí. Chú giáo phu bắt đầu công việc của mình, sau khi làng dời chỗ và sau khi đã cất xong ngôi nhà nguyện bằng tre.

Sự trở lại liên tục

Hai ngày sau, Cha Bonnal lòng đầy vui mừng có viết cho một trong những người bạn của ngài:

Chắc chắn bạn đã biết các làng tại thung lũng Đak-Tơkan muốn theo đạo. Đúng vậy, và còn nhiều làng khác cũng muốn theo phong trào này, một cách tự phát. Nhưng thiếu nhân lực và tài nguyên bắt người ta tự hỏi là người ta không khinh chê Phúc Âm hay sao, một Phúc Âm được rao giảng cho con người biết có bắt đầu mà không thể tiếp tục? Cha quản nhiệm trao cho tôi đi đốt các linh vật của những làng này, nếu họ thành thật. Ngài thêm rằng Thiên Chúa biết rõ cung cấp cho chúng ta những phương tiện nào để kiện toàn công việc của Người.

Đoạn, một vài ngày sau Cha đã viết cho người bạn trên:

Sau khi dân làng mới này, Đak-Kơna trở lại, tôi đã trao cho làng này nhiệm vụ bắt đầu những cuộc liên lạc trao đổi với làng Đak-Rơnu nằm về phía tây một tí. Vả lại, Đak-Kơna vừa dẫn đến tôi những người cầm đầu làng này; chính họ, họ cũng xin theo đạo. Chúng tôi cũng ấn định ngày để phá huỷ các linh vật. Có lẽ với sự phù trợ của Thiên Chúa và những người đại diện tôi sẽ thực hiện được những cuộc chinh phục khác.

Trước khi đến dân Sêđang trong tuần tới và khi đã hẹn gặp nhiều làng bên cạnh, với mục đích truyền giáo, tôi không biết phải làm sao để lôi cuốn những người dũng cảm này, và đừng để mất nhiều thời giờ quá lâu trong các nhà công cộng. Tài nói của tôi còn thiếu kém. Hộp âm nhạc, hộp đó tốt lắm, xin bạn cho tôi mượn hộp của bạn. Nếu bạn không thấy bất tiện, xin trao cho người mang thơ này. Đừng quên tôi trong lời cầu nguyện của bạn.

Kết quả công cuộc thám hiểm mới về truyền giáo, với hộp âm nhạc được 4 làng mới trở lại: Đak-Rơnu, Đak-Tô, Kon-Bring và Đak-Chô. Tất cả những người Sêđang kiêu hãnh đồng lòng quay lưng bỏ ma quỷ, từ nay trở thành con Chúa. Ơn lành dường nào đối với miền này, một miền đến lúc đó bị quỷ thần thống trị làm thầy.

Bổ nhiệm Cha Bonnal

Tháng 10-1905, Cha Quản nhiệm Vialleton, và là Cha Bề trên địa phận, đã quyết định những làng mới, vừa trở lại đạo từ nay thành một địa sở riêng, một địa sở tương lai, với Đak-Kơna làm trung tâm. Lẽ đương nhiên, chính Cha Bonnal lo tổ chức và điều hành địa sở mới. Chính ngài sẽ cho chúng ta biết ngài ở trong một xứ hoàn toàn mới này như thế nào:

Tôi đến Đak-Kơna với một số hành lý mà tôi đã có, như mới đến truyền giáo, không hơn không kém. Hai chú giáo phu người thượng, thuộc địa sở Kon Hơring được Cha Irigoyen để tôi tự do dùng, hai người giúp Việt Nam và một số em người thượng theo tôi. Chúng tôi ở trong một xứ hoàn toàn mới lạ, và vui sướng về sự sai phái đượm một tí vinh dự này.

Vừa đến nơi, cần phải nghĩ đến làm một chỗ nương thân bằng cách nào đó dù làm tạm thời. Điều đó không lâu, vì chẳng ai tỏ ra khó khăn cả; và đã có một nơi, không thể làm tốt hơn hay làm cách nào khác được. Tôi giữ lại với tôi một trong những chú giáo phu này, người khác phải ở làng Đak-Rơnu.

Ở trong một túp lều thượng mà mưa, nắng, gió đều lọt vào như vào chòi họ. Lại gần mép rừng, cây cối đe doạ mái chòi tôi. Tôi ngăn hãm được cơn sốt, mà từ lâu đã khỏi ít xảy ra (ghi chú: có lẽ là nguyên do bệnh phổi sau này của ngài). Lúc đó, chúng tôi thường đi thăm những làng khác. Trong mỗi làng người ta làm cho tôi một lều. Những người Đak-Kơna mau thuộc biết các kinh nghĩa, làng Đak-Rơnu cũng vậy.

II. GIEO TRONG NƯỚC MẮT

Từ khi Chúa chúng ta cứu chuộc nhân loại bằng thập giá, người ta chỉ có thể làm sinh sôi nẩy lộc những nhân đức Kitô giáo dưới bóng Thánh giá, đó là một chân lý. Tất cả các vị thừa sai đều biết điều đó. Cha Bonnal không phải là không biết. Chính vì thế trong 14 năm sống trong địa phận Đak-Kơna, người Cha đáng thương không ngừng chịu cay đắng rất nhiều. Cả những người kế tiếp ngài cũng vậy.

Những năm đầu tiên trong khổ não

Cánh đồng mới của người cha gia đình trong xứ sêđăng vừa được khai hoang. Từ nay cần cày xới, gieo xuống trong các luống cày những hạt giống đức tin sống động. Chính lúc đó bắt đầu mồ hôi, nước mắt của vị thừa sai. Đây là bản phác hoạ:

Trước tiên, Thiên Chúa nhân lành đã thử thách Cha rất nhiều trong thân xác ốm đau của ngài. Người ta có thể nói rằng, trong 14 năm này, không có một ngày nào sức khoẻ của ngài được mạnh mẽ hoan toàn. Cơn bệnh không ngừng hành hạ ngài, tìm cách tiêu hao sức lực ngài. Người Cha đáng thương cố sức thực hiện công cuộc truyền giáo của mình đầy đủ như ngài có thể, nhưng không được như ngài mong chờ. Điều đó làm ngài khổ não. Biết bao lần, kiệt sức, người ta phải đem ngài về Kon Hơring và KonTum, để nghỉ dưỡng một đôi chút và thử lấy lại đôi tí sức lực mới. Người Cha yêu dấu luôn luôn đau đớn với bao nhiêu kiên nhẫn.

Những lao tâm không thiếu cho ngài mà còn hãi hùng hơn nữa. Xin kể một vài đau khổ:

Lao tâm đến cho ngài những người mới theo đạo. Rất nhiều người trong họ tỏ ra khó bảo và khó thương. Nó nằm trong chính tính kiêu hãnh của dân Sêđang, nó hình như nói cho Cha biết:

Chất liệu mà tôi làm, tự giá trị nó không có liên quan với kim cương, nhưng nó cứng giống như kim cương. Sương trời chưa thấm vào.

 Những người thân cận làm ngài cũng đau khổ lo lắng rất nhiều, ngài viết vào năm 1916:

Mấy đứa ở người thượng của tôi chết, đứa này, kế tiếp đứa khác. Sau thằng Pho, tôi lại mất thằng Hau. Mấy đứa trẻ Sêđang ở với tôi từ 2-3 năm nay không muốn ở nữa. Không thể chúng ở lại. Chẳng còn ai ở với tôi để giúp lễ…

Hạnh kiểm của một số làng có đạo cũng làm cho ngài vất vả:

Làng Đak-Chô ở cách xa chỗ tôi nhất mà người ta quan sát đúng đắn và chính xác thấy họ đã tham dự những vụ cướp bóc, mà đến ngày nay đã quen thói, từ khi đó đã tỏ ra ít sốt sắng theo đạo đàng hoàng. Tôi đem chú giáo phu tôi tại Đak Rơnu về, sai đến Đak Chô. Thấy những lạm  dụng đã có trong làng này, với tất cả lễ độ, nhã nhặn theo bản chất, chú cố làm cho họ hiểu rằng cuộc sống và tập tục họ không tương hợp với giới luật của đạo. Họ không chấp nhận lời chỉ giáo đó. Tôi phải rút chú và đặt nơi khác, nơi mà chú làm việc tốt đẹp nhất. Theo Chúa quan phòng, người con của chú là làng Kon Trang, một thanh niên trẻ tuổi, thông minh, can đảm, biết đọc, tận hiến hy sinh làm chú giáo phu cho làng này. Trước nhất, những người làng tỏ ra ít cảm tình, nhưng từng bước một, nhờ sự biết sống của mình, chú đã thành công làm cho họ chấp nhận; và bây giờ, hình như chú đã đổi được tâm hồn làng này.

Đây còn trần trọng hơn. Năm vừa qua dân Sêđang trong thung lũng Tơkan trù định, cướp phá nhà tôi và giết tôi, như chúng đã làm với đồn trưởng Robert. Tôi chỉ thoát chết nhờ lòng nhiệt tâm của 2 ông già chủ làng Đak Rơnu, kịch liệt phản đối ý định của Sêđang, và ngăn cản họ.

Về sau, người cha đáng thương không ngừng sống trong canh chừng giữ miếng sẵn sàng, một tình trạng căng thẳng khó chịu. Trong hầu hết mọi lúc ở Đak kơna, ngài không ngừng sống trong lo sợ bị tấn công bất ngờ do những bọn Sêđang này, như Cha Kemlin ở Đak Đrei (3) đã bị. Biết bao đêm thức trắng nằm trong chòi canh! Đời người cha đáng thương là thế ấy. Và nỗi lo sợ được chứng thực vì người ta báo cáo cho biết bọn cướp tàn phá khi thì góc này, lúc nơi khác, đốt làng, giết những người mà chúng gặp, bắt thiếu niên bán làm nô lệ…

May mắn hoàn cảnh hiện nay đã thay đổi! Nhờ chính quyền Pháp trấn áp quyết liệt mà miền này nay đã yên ổn. Nhưng, tôi quả quyết cho quý vị là thời Cha Bonnal đã không như thế đâu.

Trước khi Cha ở tại Đak-Kơna, không có một người âu nào đến vùng này. Chính quyền Pháp chưa có thiết lập ở Kontum cũng như nơi khác, mãi đến năm 1908. Và Chúa biết điều mà vị thừa sai gánh chịu trong 5-6 năm từ phía 2 viên cai đồn đầu tiên! Nhưng đây không phải chỗ kể lại cuộc bách hại này.

Vì lòng ái quốc, các vị thừa sai sẵn sàng giúp đỡ các viên chức. Chính vì thế mà khi lập một đồn dân quân nơi người Sêđang, Cha Bonnal chịu bao khổ cực để tìm một nơi thích hợp và lợi cho đồn này. Cuối cùng, chính ngài đã tìm thấy và sai tín hữu ngài khai phái một chỗ tuyệt đẹp hiện nay của trại Đak-tô. Nói chung, công việc phục vụ của chúng tôi lúc đó chỉ được đáp đền bằng buồn phiền. Như vậy, đối với Cha Bonna cũng thế. Hãy nghe kể:

Ông đội trưởng đầu tiên của đồn, vừa thiết lập, vừa nghe biết có 5 làng đã theo đạo, vội vàng ra lệnh cho chủ làng vội vã đến đồn ngay. Ở đây, người ta nói với họ là họ có thể tiếp tục mệt mỏi, vất vả làm nhà cho ông Cha này và tiếp tục đọc kinh, nếu họ muốn. Nhưng điều chính của họ là phải thường xuyên mang đến đồn hoa quả của họ, dưới hình thức đóng thuế (ghi chú: đến lúc đó, không có người thượng nào phải nộp một loại thuế nào cả). Nên chính những người tân tòng là những người đầu tiên phải đóng thuế cho nhà nước. Cách thức cư xử như thế không khuyến khích các làng bên lương trở lại đạo. Thực tế, những làng còn bên lương và xa đồn không hề phải đi họp theo loại này. Tân tòng của chúng tôi lúc đó tự hỏi tại sao chỉ có những làng Công giáo phải trình diện tại đồn? Họ coi việc này như một sự nhũng hại và họ nghĩ ngợi vẩn vơ, còn tôi, tôi ức hận.

Những tia sáng mặt trời

Cha Bonnal suốt những năm tháng tại Đak-Kơna sống trong một bầu không khí đen tối và luôn bị đè nặng. Điều đó không muốn nói rằng Chúa nhân lành chẳng ban cho ngài những ngày vui mừng và an ủi. Trước tiên đó là những ngày anh em cùng thiên chức đến thăm ngài trong cơ sở xa xôi của ngài; và những cuộc gặp mặt như thế thường xảy ra, vì chính Cha cũng đã đón tiếp tử tế!… Nhưng ngày vui mừng hơn cả là ngày đoàn rước Đức cha Jeanningros (Đức Cha Vị) năm 1913. Nhận chức thánh vừa xong, Đức Cha đi thăm tất cả mọi địa sở xứ thượng. Tại Đak-Kơna, chẳng bao giờ người ta thấy vị Giám mục. Cũng vậy, những người tân tòng Sêđang đón tiếp vị Đại diện Tông toà của mình, với một cuộc đón tiếp đẹp đẽ biết bao! Mọi nơi đều vui mừng! Đức Cha với Cha chính Kemlin qua một ngày trọng đại và vui mừng với Cha Bonnal. Người ban Bí tích Thêm Sức cho 70 người, những tông đồ đầu tiên của Chúa Kitô trong những vùng này tại Đak-Kơna.

Vả lại, Cha vui thoả vì biết Cha ở chỗ mà Thiên Chúa muốn, và thực thi Thánh Ý Người. Một nguồn vui thoả khác cho ngài, chính là tình thương thật sự đầy tràn tâm hồn của ngài đối với các linh hồn tín hữu yêu dấu của mình. Ngài viết:

Dẫu sao, tôi sung sướng nhận thấy rằng các tân tòng của tôi không ác tâm; nói chung họ là những con người đơn thật và sẵn sàng; tôi thương mến họ như họ sống trong tình trạng của họ, dầu họ còn nhiều điều cần cố gắng thực hiện để thành Kitô hữu vững vàng và xác tín. Đó là công việc của thời gian và Ơn sủng”.

Vả lại, Cha mến họ qua lòng tốt của mình biết giúp đỡ họ trong mọi nhu cầu của họ. Như vậy, tháng 2-1906, làng Đak-Kơna bị thiêu huỷ. Cả gian nhà ngài cũng bị cháy do lửa rơi trên mái tranh. Một trong những người giúp việc Cha can đảm trèo lên mái nhà và đã dập tắt được. Nhưng chiều đến, khi dân làng từ rẫy về, họ thấy nhà mình đã trở thành một đống tro tàn. Mọi người đều buồn khổ. Cha khuyên bảo: “Đây là Thiên Chúa thử thách đức tin của các con; hãy can đảm! đừng thất vọng, đừng quá buồn!”. Ngài vội vã giết một con heo lớn, và chia cho những người xấu số dùng bữa. Ngài cũng phát cho họ mền, muối. Dân chúng cũng nói: Thật là ngài thương chúng ta chân thành!

Thỉnh thoảng Cha gặp những người xấu nết thích làm tổ cho ma quỷ hay cho bọn chúng, như trong lịch sử về Phia Xai thời Danh năm 1916. Hãy để Cha quản nhiệm Kemlin thuật lại cho chúng ta câu chuyện này:

Người thượng chúng tôi rất hay dễ tin điều gì lạ lùng, là miếng mồi cho bọn bịp bợm. Hiện nay, không phải tất cả mọi xứ thượng Sêđang có tin đồn về một con người lạ thường, làm cho người ta tưởng ông là đấng bảo tồn mọi sinh mạng và là đấng ban phát mưa trời, hay sao. Ai tôn kính ông, được sung túc; ai khinh dễ sẽ gặp tai hoạ, đói túng. Nhất là ông sẽ trừ dẹp tất cả những người Pháp khỏi xứ này. Đa số làng ngoại giáo dựng ở cổng làng một cái miếu nhỏ để kính ông. Chúng tôi bắt đầu xem ông như một thần thoại, lúc chúng tôi đã biết một tên lừa bịp người Lào đã ở trong làng, nhưng chưa nhập vào làng Đak-Ria, tên lưu manh này ở đằng sau tấm vải cửa; người ta nghe tiếng của hắn; thỉnh thoảng người ta thấy tay hắn khõ lên chiếc trống; theo kiểu khõ trống, điềm sẽ lành hay dữ; hắn nói hắn đến để giải thoát dân chúng khỏi nộp thuế. Hắn tự cho mình được thần linh sai phái đến để đuổi bọn Pháp và các Ông thừa sai. Mọi ngày, từng đoàn khách kéo đến không ngớt. Tất cả những điều đó không làm chúng tôi lo lắng phiền hà lắm, vì ma quỷ thật sự bóp nắn tâm não của dân này, để họ thành những con người bị lừa của bất kỳ ai. Nhưng một khi dị đoan pha trộn, chẳng biết người ta dẫn thượng đi về đâu. Tôi không lấy làm ngạc nhiên sẽ xảy ra nguy hiểm cho Cha Bonnal; ngài cần có con mắt quan sát và đôi tai thính”.

Và thật Cha đã có đôi mắt sáng, đôi tai thính, chính nhờ ngài biết làm mà câu chuyện về lão bịp bợm đóng vai tiên tri xách động khởi nghĩa này kết thúc bằng chê cười chế nhạo. Xem, nó như thế này: Tức giận vì không thấy làng Công giáo đến thờ cúng ông, Phia Xai hăm doạ dân làng sẽ bị biết bao là tai ương khủng khiếp nhất; hắn xấc xược đến nỗi thốt ra chính hắn sẽ tham dự vào việc phá huỷ Đak-Kơna. Thật vậy, một ngày kia, 30 tên tuỳ tùng của Phia Xai đến Đak-Kơna, chúng đến trước và báo tin mây sẽ đem chính Phia Xai đến sau một ít. Chúng cắm lều gần lò rèn làng, và tụ tập dân mau đem của lễ đến: Lu, nồi niêu… Trong lúc đó, Cha đặt cách đó không xa 5-6 anh thanh niên đã chỉ định trước để quan sát tận mắt cái gì sẽ xảy ra và chờ đợi. Người ta nhìn lên trời đến chiều mà chẳng ai trông thấy đám mây mang ông Phia Xai đâu cả. Đêm đến, Cha lệnh cho làng tắt mọi đèn đuốc; và lúc đó, về nửa đêm chiếc trống phép thần vang lên. Nhờ những lời chỉ bảo của Cha, dân làng giữ bình tĩnh, không động đậy. Nhưng những chàng thanh niên phóng đến, giữ lấy chiếc trống, và tìm thấy một anh chàng nằm quấn trong lớp vỏ cây mà từ đó anh ta nói lời điềm báo. Thấy bị khám phá như thế, Phia Xai và bộ hạ của hắn ta thẹn thùng tẩu thoát. Câu chuyện đồn đại cả vùng. Và thế là chấm dứt mẫu hài kịch về thiên sai của các thần linh, đã kéo dài nhiều tháng làm sôi động hàng trăm làng.

Những năm đen tối

Với thời gian, sức khoẻ của Cha Bonnal suy sụp. Như thế, ngài phải sống cả năm 1917 tại các nhà tĩnh dưỡng, nhà thương Qui Nhơn, Sài Gòn, Hồng Kông, hầu lấy lại sức khoẻ.

Ngài trở lại đầu năm 1918, cũng xanh xao gầy mòn. Đã rõ, từ nay việc đảm nhiệm địa sở Đak-Kơna khó khăn vượt quá sức ngài. Nên Cha Bề trên đặt ngài ở Phương Quý, đối với ngài đây là một địa điểm để tĩnh dưỡng. Mất mát rất nhiều khi Cha lìa bỏ dân Sêđang yêu dấu tại Đak-Kơna, nơi Cha đã đem Ánh sáng Chúa Kitô đến cho dân làng. Thực sự, trước khi ngài đến, thung lũng Tơkan hoàn toàn tăm tối; không một linh hồn nào có ý tưởng về Thiên Chúa và về hồng ân lạ lùng của Ngài. Khi ngài xa lìa nơi đây, ngài để lại gần 500 linh hồn, đã được tắm gội trong Ánh sáng chiếu soi con đường đưa đến Thiên quốc.

Thời gian sau khi ngài ra đi chính là những năm tháng tối đen cho địa sở đáng thương này. Địa phận thiếu nhân lực, không ai thay Cha Bonnal. Cha Irigoyen lúc đó đã già, mệt mỏi, đảm trách địa sở quan trọng Kon Hơring rồi, thỉnh thoảng mới thăm Đak-Kơna đôi lần, khi thì ở thời gian lâu, lúc thì trong chốc lác, nhưng Cha không thể lo lắng một cách hiệu quả cho các tân tòng này được.

Về phần Cha này, sức khoẻ cạn kiệt, năm 1920 ngài được sai đến một địa sở gần Kontum ít khó nhọc hơn Kon-Hơring. Cha Hutinet thay. Cha Hutinet dù hăng say dũng cảm lại bị thua thiệt vì không biết thứ ngôn ngữ hoàn toàn đặc biệt ở tại địa sở Đak-Kơna. Chính vì thế mà trong đây gần 5 năm phục vụ tại đây hoạt động của Cha Hutinet không mấy hiệu quả.

Ma quỷ đã lợi dụng tình thế này để làm sống lại các thứ thờ vơ tín nhảm thuở xưa, nhất là những cái liên hệ đến tế trâu.

Cha Bonnal được thay thế

Tháng 2-1921, chính Cha Kemlin, Cha Bề trên địa phận cảm thông với địa sở xấu số Đak-Kơna này. Người đã rút Cha Lardon khỏi địa sở KonBơban và sai đến Đak-Kơna với sự bằng lòng của Cha Hutinet. Và như vậy, Cha Hutinet không còn trách nhiệm trong địa sở đáng thương này nữa.

Cha Lardon cũng không có một sức khoẻ dồi dào; sống ở miền rừng núi Kon Bơban gần 20 năm làm ngài kiệt sức. Đứng trước một hoàn cảnh không mấy lạc quan, ngài vẫn can đảm nhìn thẳng vào thực tế, và bắt tay vào việc.

Cha Lardon ở trong địa sở Đak-Kơna không đầy 2 năm; thời gian không đủ để ngài chú ý hết đoàn chiên mới của ngài.

Bắt đầu năm 1923, Cha kiệt quệ xanh xao, hết sức phải qua Pháp hy vọng tìm nơi quê hương một sinh lực mới. Thiên Chúa nhân từ lại phán đoán cách khác. Người gọi Ngài về ngày 26 tháng 4 năm 1924 tại Montheton.

Sự gieo vãi trong mồ hôi nước mắt đã bắt đầu và còn kéo dài lâu nữa. Những năm tháng không chủ chăn trở lại.

Cha Louison, lúc đó phải lo địa sở Kontrang nhiều lần hy sinh đi làm các phép bí tích thiêng liêng trong địa sở bỏ trống này.

Chính trong những lần đi này làm mục vụ mà Cha suýt phải chết. Một ngày nước lớn, Cha dùng thuyền độc mộc qua sông Tơkan; sắp đến bờ, thuyền bị úp, vì Cha lại không biết bơi bị cuốn theo dòng nước chảy xiết.

May mắn thay, một giáo hữu, chú Nơi theo Cha, thấy cha nguy kịch, can đảm lao mình xuống sông; nhưng nhiều cố gắng, hầu như hết hơi, chú đã đuổi ôm ngang lưng và đem ngài đến lùm tre bị nghiêng dễ bám ở mé sông. Cha được cứu! Chú giáo phu can đảm được chính phủ tặng một huy chương bạc “cấp cứu” đối với hành động tận tuỵ và can đảm này.

Cha Louison có công rất lớn lo lắng cho địa sở xa sôi này đến năm 1924. Hạt giống truyền giáo luôn chôn vùi dười đất. Nó có vẻ bất động, hầu như chết. Nhưng không, không như thế; mầm Đức tin luôn sống động, chỉ vì giờ Chúa chưa đến.

Một chủ chăn mới

Ngày 13-7-1923, vị thừa sai trẻ tuổi, Cha Phaolô Crétin, đến Kontum.

Ngài 31 tuổi. Thiên Chúa nhân lành đã sửa soạn cho ngài một tác vụ truyền giáo nặng nề xứ thượng qua cuộc lưu tù khổ sở gần 4 năm tại Đức quốc. Đến đây, tâm hồn Ngài triển nở, nhất là khi thấy một sự gắn bó giữa tâm hồn của các bạn cùng một chí hướng, và thấy họ hăng say trong tác vụ sứ đồ.

Sau một vài tháng học tiếng Bahnar, ở Kon Sơlang, và tiếng Rơngao tại Kon Hơring, ngài được chỉ định đến địa sở Đak-Kơna. Vào ngày 24-4-1924, ngài đến sống ở mái nhà củ của Cha Bonnal, đã bỏ hoang từ nhiều năm. Cha đã sống những năm đầu của việc truyền giáo dưới dấu hiệu đau khổ, một dấu hiệu chắc chắn về một công cuộc truyền giáo mai sau đầy hoa trái.

Cơ thể Ngài còn cảm thấy nhiều thiếu thốn kinh khủng và sự đối đãi tệ bạc mà Ngài chịu trong lao tù; cũng vậy, sức khoẻ ngài tàn lụi dần, vì phải chống lại bệnh sốt rét rừng, những vết lỡ loét, chứng khó cử động, bệnh trĩ… Những ngày nghỉ bệnh ngắn ngủi ở VN tại Đà Lạt, sức khoẻ Ngài gần như đã trở lại bình thường. Dẫu vậy, có một lần, muỗi chích làm ngài bị bệnh, phải đem về Kontum chữa trị.

Với lòng nhiệt huyết nung nấu, ngài bắt đầu công tác mục vụ, một công tác không mấy dễ dàng trong hoàn cảnh đang sống. Từ năm đầu, số người rước lễ lên gấp 3 lần. Điều đó không chứng minh được đời sống đạo đã trở nên mảnh liệt. Đó chỉ là một bếp lửa bắt đầu đốt lại. Khi đó Cha viết:

Một phần ba bổn đạo đến xem lễ ngày Chúa Nhật. Trong tuần không có một ai dự. Kinh chiều chỉ đọc ở các nhà công cộng, nhưng chỉ có các em bé và thanh niên thôi. Dị đoan quá nhiều, sống bất hợp pháp vô kể. Tất cả điều đó là do địa sở này bỏ quá lâu năm”.

Cha còn cẩn thận ghi chú:

Tôi rất sung sướng những sự giúp đỡ đầy tận tâm nơi các thầy giảng và cũng như các cựu học sinh tôi thay thế khi các thầy vắng mặt. Nhưng vô phúc, giáo dục gia đình còn ngoại giáo đã phá hoại một phần nào giáo huấn Công giáo đã hấp thụ được”.

Nhờ những cố gắng và kinh nguyện của Cha, đời sống Kitô giáo lần lần đã tiến triển. Số lần rước lễ tăng không ngừng trong 4 năm đầu chứng minh điều đó:

Năm 1924 1925 1926 1927
Rước lễ 323 927 1454 1699

 

Còn một bằng chứng về sự hồi sinh đầy khích lệ này, Cha ghi:

Tôi sung sướng biết rằng tại Đak-Kơna, khi vắng tôi, một số đông trẻ em và thiếu nữ đã tẩu thoát vào rừng hay ở tại nhà tôi hơn là tham dự vào cuộc tế trâu và bôi máu vật sát tế”.

Mong chờ những ngày tốt đẹp sao còn kéo dài mãi

Thấy những thành quả tốt đẹp này, chắc chắn quân thù tìm cách cản trở. Đây là một ví dụ Cha viết năm 1927:

Cũng tại năm này, người ta sửa soạn lễ nghi giết trâu trong làng Đak-Kơna. Cũng như những năm qua, khoảng 20 trẻ em Công giáo ở nhà tôi. Để mua vui cho chúng, tôi cho chúng đi bắt cá; ở Pháp cấm, nhưng trong xứ này đến nay làm ngơ. Ông đồn trưởng ở Đak-Tô, ma quỷ xui khiến, ngờ vực chặn bắt chúng. Cuộc tra vấn dài 12 trang ở đồn. Sáu em lớn nhất bị cột từng 2 người một như những tên bất lương dẫn về trại giam tại Kontum, cách đó 53 cây số, không ăn, không uống dưới trời nắng như đốt. Người lương trong làng vui lắm… Tại Kontum, ông cai ở đây, có tâm hồn rộng lượng hơn thấy ngay điều phải làm và mọi sự kết thúc đều êm đẹp…  

Tôi cũng thêm rằng Chúa đoái thương nhìn đến chúng tôi: Cơn bệnh buộc người bắt bớ những con chiên nhỏ của tôi phải về Pháp trong lúc ông không ngơ”.

Chúa nhân lành còn tỏ ra quyền năng của Ngài qua sự hộ phù đáng ghi nhớ cho dân thượng. Lữa đã đốt cháy làng Đak-Chô, tất cả bị cháy. Nhà của thầy giảng làm bằng tre khô, ở sát một dãy nhà to tướng đang cháy chỉ cách 3 thước thôi. Gió thổi mạnh về phía đó. Thế mà nó không bám lửa. Cũng, chính trong làng đó, một tín hữu xấu nết, dù người ta hết lời khuyên nhủ, ngăn cản cũng săm cưa chung sống ngoại tình còn làm tiệc trong dịp này nữa. Một vết thương thình lình làm đùi ông ta lên giòi. Ông ta chết trước khi hoàn thành hành động tội lỗi của mình”.

Thánh giá làm vị thừa sai khổ hạnh, thì đôi khi cũng có những tia sáng nâng đỡ, an ủi ngài sâu đậm đến tận tâm tư. Đó là những sự an ủi dịu hiền mà Chúa đỗ tràn cho Cha trong 2 tuần nhân dịp đi thăm mục vụ tại vùng Đak-Kơna năm 1925. Cha viết:

Một biến cố quan trọng hơn cả trong năm chính là Cha Bề trên địa phận đi thăm mục vụ. Đối với ngày xưa, người thượng một phần nào thoát khỏi cơn mơ tinh thần, những người biếng nay chịu các Bí tích nhiều hơn, những người đạo đức trở nên hăng say hơn.

Cha Bề trên đã ban phép thêm sức 162 tín hữu. Đây là lần thứ 2 ban Bí tích Thêm Sức tại địa sở Đak-Kơna; lần trước cách đây 14 năm.

Lần thăm mục vụ cho cả các họ đạo này được các thầy giảng có khả năng chuẩn bị nên mang nhiều thành quả tốt đẹp. Cũng vậy, ban Bí tích Thêm Sức vào ngày Chúa Nhật, khi các tân tòng của tôi đến từ các họ đạo khác nhau, đã tụ hợp tại Đak-Kơna, một lần nữa tôi vui sướng nhìn thấy nhà thờ tôi quá hẹp”.

Những ngày an ủi như vậy rất ít tại Đak-Kơna. Trong 7-8 năm đầu Cha sống ở đây, hầu như cảnh vực sống luôn luôn đen tối và cực nhọc. Ngài có cảm giác giẫm chân tại chỗ. Thực vậy, phía các xứ ngoại luôn luôn đóng kín, cũng không thể nào đem Ánh sáng Đức tin vào được, địa sở luôn luôn chỉ gồm có 5 làng đã trở lại đạo cách đây 25 năm (1905). Lo lắng, Cha tự hỏi hoàn cảnh này sẽ kéo dài mãi sao? Đó là một nguyên nhân làm cho tâm hồn vị thừa sai rất đau khổ.

III. Cuối cùng, MÙA GẶT HÁI TRONG HOAN LẠC

Đầu năm 1932, cuối cùng Chúa thương đến nỗi lo âu của vị thừa sai của Người.

Luật muốn cứu thoát các linh hồn là phải mua bằng lời kinh và đau khổ, được minh chứng một lần nữa. Sau bao nhiêu tháng năm gieo vãi trong nước mắt, thình lình, người ta thấy ló rạng trên những miền vô phúc này bình minh đầy hứa hẹn. Trên mặt đất khô cằn cho đến nay, phút chốc, người ta thấy trên luống cày, những hạt giống Đức tin, đã được các vị thừa sai gieo xuống nhiều, đâm mầm, nảy lộc, lớn lên thành một cánh đồng rộng và tươi đẹp của người Cha gia đình.

Đây là Lời của Thiên Chúa đáp lại những van xin, từ lâu đã cầu khẩn trong những ngôi thánh đường, và trong những tu viện trên hoàn cầu cho các lương dân trở lại. Làm sao giải thích được về phong trào trở lại lạ lùng xảy ra trong vùng này?

Đây là những điều xảy ra:

Thực vậy, trong suốt 25 năm dài mong đợi, tâm não trong các làng lương dân vùng này thay đổi dần dần thuận lợi cho đạo. Họ thấy các vị thừa sai quá tốt, quá tận tình đối với tín đồ của mình! Mặt khác, các cụ già ủng hộ giữ đạo ngoại giáo người này kế tiếp người nọ chết dần. Giới trẻ mong ước cái mới, đang vươn lên làm cho phong trào cứu rỗi dễ dàng.

Kích động đầu tiên

Một ngày nọ trong tháng 3 năm 1932, làng bên lương Đak-Rơman Iop, nằm cách Đak-Chô 5 hay 6 cây số đang lễ lạy. Một trong số các chú giáo phu sốt sắng, Phêrô Drê đến đó. Buổi lễ làm tại nhà công cộng, tất cả gia trưởng đều tập họp ở đó cả. Chính ở đó, chú lên tiếng khuyến giục họ theo đạo. Rất đỗi ngạc nhiên, họ chỉ đặt cho chú những vấn nạn tầm thường không đâu; đó là không còn là lời từ chối quyết liệt mà ngõ với các Cha, mỗi lần các ngài đến nói với họ về đạo. Một cuộc bàn cãi đầy thiện cảm thân hữu nối tiếp, chỉ kéo dài vài giờ, và cuối cùng, tất cả người làng sẽ theo đạo thật tình đúng đắn.

Quá đổi vui mừng, chú Drê chạy về nhà Cha cách đó 10 cây số để báo cho ngài tin vui. Trước tiên, Cha cố gắng lắm mới tin được những tin lời thầy giảng mình nói. Mới đó, chính Ngài đã đi 2 lần đến làng này để khuyên họ trở lại đạo và mỗi lần như thế, họ đều chối khéo. Nhưng trước những khẳng định của chú, Cha bằng lòng ấn định ngày đi gặp với câu biện của Cha để nhận định như thế nào.

Ngày đã đến, cuộc đón tiếp không ngờ và tất cả mọi người đều lặp lại rằng làng họ thật sự muốn “đọc kinh”. Chú giao phu vui thoả. Khi mọi sự đã xong xuôi, các ông câu biện tháo khỏi cột chính những thúng linh vật của làng. Lẽ đương nhiên, tất cả mọi sự được chấm dứt nơi người thượng chúng tôi, nghĩa là bằng lễ nghi đơn sơ có nhiều ghè rượu ngon mua vui cho mọi người.

Những nhánh cây đã mọc

Như đã nói trên, nhờ những khổ đau lâu dài của các vị thừa sai tại Đak-Kơna, nhất là kinh nguyện mọi nơi mà Chúa nhân từ đã gởi đến cho những miền này một trận Mưa Thánh cho mọi nơi nảy mầm, phát triển hạt giống thánh. Trong mới tháng, từ 5 làng Công giáo vọt đến 12 làng: dân số tất cả từ 700 linh hồn lên tới 2064 gồm tín hữu cũng như những người mới trở lại đạo.

Trước những thành quả này, vị thừa sai lòng đầy vui mừng chỉ ca bài Magnificat để tạ ơn.

Tên các làng trong những tháng đầu của năm 1932 đầy diễm phúc này, được ân sủng thông ban và trở lại; nghĩa là họ bằng lòng cho rửa tội liên tiếp cho con em họ dưới 7 tuổi, bằng lòng làm một nhà nguyện trong làng họ và đa số ghi tên vào dự tòng: trước là Đak-Rơman Iop, đã nói trên; sau là tới Đak-Rơman-Peng; Đak-Long; Đak-Mot; Đak-Tơmbiu; Đak Rơlang và cuối năm có 3 làng khác trở lại: Đak-Tong, Đak-Mot-Kram; Đak Brao.

Những năm kế tiếp, 20 làng nữa ghi tên vào danh sách cứu rỗi với 1844 tín hữu và 1005 dự tòng.

Chúa Thánh Thần tiếp tục thổi trên những vùng này. Luồng gió Ân sủng ngừng ở đâu? Thật khó mà nói được.

Cộng thêm những làng mà Cha đã nhận vào Giáo Hội, còn rất nhiều làng khác đã muốn nhận cùng một Ân sủng lành. Điều làm cho vị thừa sai dừng bước và ép ngài hãm lòng tham riêng, đó không phải, vì thiếu can đảm, nhưng vì thiếu các chú giáo phu có khả năng, vì mỗi làng trở lại, không thể không có một thầy ngay; mặt khác vì chính sức khoẻ con người có giới hạn và như vậy không thể cho vị thừa sai làm gì vượt quá sức mình cho phép. Đó là trường hợp của vị thừa sai tại Đak-Kơna. Trước một công tác lao lực như của ngài, mọi vấn đề khác đã hoãn lại. Nhưng đây không phải là ý định ngài. Thật, đây là những điều Cha viết lúc đó cho Đức Cha:

Mặc dù vất vả phải dạy dỗ một số tân tòng, con tin là con có bổn phận không được từ chối những làng khác. Thực ra, chúng ta rèn thép gang khi nó còn nóng; không được để những hoàn cảnh thuận lợi mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta trôi qua vô ích lại không đào một chỗ thũng sâu trong lòng lãnh địa ma quỷ – Không thể chấp nhận, chúng ta vị thừa sai, chúng ta không thể từ chối một cách quyết liệt những làng xin trở lại; chúng ta đã giẫm chân qua lâu sau phòng tuyến của chúng ta: Vậy, như câu kết luận, xin Đức Cha gởi cho con những chú giáo phu và những chú giáo phu; thắng tiếp”.

Tổ chức xứ đã chính phục

Vị thừa sai không chỉ là người chinh phục mà còn người tổ chức nữa. Trở lại đạo không được là một ngọn lửa rơm, mà mỗi làng còn phải trở nên như than lửa hồng tình yêu Thiên Chúa, ở đó linh hồn của những người hiện thời và sau này sẽ sưởi ấm, và lấy lại sinh lực thiêng liêng.

Nhưng để làm nền tình yêu Thiên Chúa, trước tiên vẫn đốt sáng trong những tâm hồn khao khát chân lý này, một ngọn đuốc Đức Tin; và để cho ngọn lửa đó cháy sáng như thế, cần giáo huấn.

Mà những giáo huấn những dự tòng là cả một công việc nặng nề của vị thừa sai đã được diễm phúc có người trở lại đạo. Mọi nơi mọi ngã, sự giáo hoá này thật nặng nề, nhất là trong những miền như nơi chúng tôi, không ai biết đọc biết viết, nhưng chỉ dạy bằng cách đọc đi đọc lại mà thôi. Vã lại, ở đây cũng như nơi khác: verba volant; bắt đọc đi đọc lại 10 lần cùng một điều trước khi in được, một vài điều nhỏ nhặc trong đầu óc có giới hạn; công việc nặng nhọc, tôi quả quyết cho các vị như vậy, nếu như thế công tác của các chú giáo phu tuyệt đối cần thiết; và của các vị thừa sai không kém phần quan trọng. Người Cha ở Đak-Kơna, một Phaolô khác do lòng hăng say, hiểu biết và thực tế đã thực hiện rộng rãi các công tác đó.

Thầy Chí Thánh khi gởi các tông đồ đi khắp mặt đất đã cho một huấn lệnh không những dạy dỗ mà còn rửa tội. Hiện giờ, các vị thừa sai có cùng một huấn thị như thế.

Nhưng, để rửa tội những người lương dân đã trưởng thành, không kể đến những giáo huấn cần thiết, các vị thừa sai có một ấn tượng, là ít nhất các Ngài cần bắt biến tâm não của họ thành một tâm não Kitô giáo. Để thành đạt, trước tiên cần thời gian, một yếu tố để thanh đổi tâm não; đó là tất cả những điều Cha đã làm:

Tôi sẽ bắt đầu rửa tội các dự tòng trong những làng mới trở lại sau khi để họ chờ như thế ít nhất 2 năm rưỡi. Qua kinh nghiệm, tôi nhận thấy rằng, nếu trong thời gian này, Đức tin chưa đâm rễ sâu trong tâm hồn họ, thì cũng rõ ràng mọc mầm và lần lần lớn lên sau đó.”

Vì để đạt đến một tâm tư Kitô giáo này; cần phải đổi tập tục ngoại giáo thành tâp tục Kitô giáo. Nhưng, đối với vấn đề đó, ma quỷ cám dỗ cũng như môi trường ngoại giáo họ đang sống, gây nên một trở ngại rất lớn mà các vị thừa sai cần phải diệt trừ. Hầu hết các năm tháng, Cha trở lại vấn đề này trong Compte-Redus.

Năm 1935 – Thiện chí các làng mới để đón nghe giáo huấn, và sửa mình cũng khá hài lòng. Dẫu vậy, chỗ nào cũng thế, ma quỷ cố gắng kìm hãm một số dự tòng của tôi hoặc vì tính kiêng nể người khác hoặc cứng đầu.

Năm 1936 – Đời sống Kitô giáo của những dự tòng tôi hình như còn sơ đẳng và không vươn cao. Có nhiều lý do: Giáo huấn cho họ quá ngắn ngủi, thiếu gương sáng, họ sống với làng xóm ngoại giáo, chỉ nghe những câu chuyện thô lỗ tà tà mặt đất. Mỗi ngày tháng, tôi đến thúc đẩy họ một ngày, chú giáo phu cũng vậy. Tôi cố gắng chống bệnh mù chữ. Nhưng tôi can đảm thấy quá nặng nề vì phạm vi công việc quá rộng lớn và khó khăn trong ngôn ngữ. Tôi cũng cảm thấy Chúa thánh thần hình như ít giúp tôi.

Năm 1937 – Đừng tin ma quỷ đã bỏ địa sở tôi! Than ôi, không! Nó dùng gia trưởng vừa là những ông tổ dị đoan của gia đình. Chính gia trưởng bày những trâu, gạo, chiên, trống, và sau đó đã nắm tất cả những yếu tố hạnh phúc của làng họ. Tín hữu ta bị hắn đày đoạ dày vò còn kiềm hãm nữa. Nhưng trông cậy vào Chúa, Đấng quyền năng hơn nhiều.

Năm 1938 – Sự cứu rỗi các linh hồn không kết thúc ở phép rửa tội -  ma quỷ còn lâu mới buông tha. Nó quan tâm nhất đến những người già cả để ngăn cản công trình của Thiên Chúa. Chỗ nào cũng vậy, mánh lới trọng yếu của nó làm, hứa tín đồ của hắn hạnh phúc trần tục, và đe doạ những người bỏ bê hắn sẽ gặp hoạn nạn. Dù nhiều lần minh chứng rằng mê tín dị đoan vô hiệu để tạo những hạnh phúc, thế mà những người còn có đầu óc ngoại giáo vẫn tin, để tránh những tai ương nặng nề, nếu họ bỏ những phong tục cha ông họ. Ma quỷ khai thác những tâm tinìh nơi các tổn hại của họ.”

Địa sở Đak-Kơna kết thúc cách tốt đẹp

Như người ta đã thấy trước đây, địa sở này trong 25 năm dài, như là một cây nho đáng thương, không phát triển được và hầu như không sinh hoa quả nào, mặc dù những vun tròn đã cố gắng nhiều. Và dầu vậy, trong một thời kỳ lâu dài, không không trơ trơ như vỏ bề ngoài của nó, mà gốc rễ nó âm thầm mạnh mẽ dần và càng đâm sâu hơn vào lòng đất Sêđang.

Cũng vậy, từ năm 1932 trở đi, khi sương trời tưới xuống, lập tức sức sống nó phát triển và bắt đầu lớn to thấy được, đâm cành ra tứ phía, đến độ tàng nó che phủ cả một mảnh đất rộng mênh mông.

Trước sự lớn, huy hoàng này, một công trình của Thiên Chúa hơn là của nhân loại, chúng ta chỉ ca tụng, cám ơn và góp phần hợp tác đơn sơ của chúng ta vào thôi.

Để đà lớn này lan rộng hơn nữa, chắc hẵn một vị thừa sai không thể lẻ loi lo lắng cho một địa sở như thế được; ngài phải lo lắng quá nhiều cho 4000 linh hồn không cùng một nơi mà còn phân tán trong 20 làng cách xa nhau. Vậy cần phải chia địa sở được chúc phúc này ra làm đôi.

Cha Renaud, linh mục trẻ tuổi, hăng say, đến địa phận tháng 10-1934, xin phép Đức cha nghĩ đến việc thực hiện dự định này. Nhưng người chính thức, thực hiện chương trình vào tháng 3-1936. Lúc đó, mới có quyết định chia địa sở Đak-Kơna ra làm hai:

1. Một ở phía đông, có quốc lộ 14, xuyên từ đầu này qua đầu khác mà họ Đak-Chô như trung tâm điểm.

2. Và địa sở ở phía tây ngã sông Pơkô, có làng Đak-Môt quan trọng làm trung tâm.

Thực tế, trung tâm cũ Đak Kơna đã trở nên một họ đạo lẻ sát nhập vào địa sở Đak-Môt.

Cha Phaolô Crétin nhận địa sở phía tây gồm trung tâm cũ Đak-Kơna và 8 họ hoàn toàn mới, với 917 giáo hữu và 952 chầu nhưng.

Cha trẻ Phaolô Renaud đặc trách địa sở phía đông gồm 13 họ đạo, có 4 họ đạo cũ và 9 họ đạo mới, với 1108 tín hữu và 894 chầu nhưng.

Địa sở Đak-Kơna chấm dứt được kể là trong vui sướng, và thực tế, đã sung sướng hạnh phúc rồi, vì Đak-Kơna khởi đầu cho việc truyền bá Phúc Âm trong vùng này, bằng một lịch trình biến hoá không kém phần vui mừng hạnh phúc. Xin đọc giả giúp chúng tôi cảm tạ tác giả của mọi sự đẹp đẽ.

Chúng tôi có thể ngừng bút ơi đây, vì lịch sử của địa sở Đak-Kơna đã hết. Dẫu sao, chúng tôi cũng thêm một vài hàng nói về những khởi đầu của hai địa sở mới, tiếp tục công trình đã khởi đầu quá đẹp đẽ này.

KHỞI ĐẦU ĐỊA SỞ ĐAK-MOT

Trung tâm địa sở phía tây đặt tại một địa điểm đẹp tại một làng lớn nhất cả vùng, và hầu như nằm ở tâm địa hình của địa sở. Làng này nằm trên những sườn đồi đẹp gần sông Pơkô. Các mái nhà nhô lên trên đỉnh đồi như ngọn đèn soi sáng cho cả góc trời này biết Đấng tác thành sự sáng.

Cha thiết lập trước tiên nơi đây một túp lều thượng nghèo nàn, nhưng rộng rãi để ở và có thể bắt đầu dạy giáo lý cho các người mới trở lại. Vậy trước nhất, là làm một nhà nguyện nhờ tiền cúng giới từ Pháp đến, khang trang, sạch sẽ hết sức có thể cho Thánh Thể ngự. Một khi Chủ đã có chỗ ở ngài mới nghĩ đến những người giúp việc, thượng cũng như kinh và ngài xây cho họ một mái nhà đơn sơ nhưng vững chắc. Đối với ngài, ngài luôn luôn ở trong lều cũ. Chỉ 2 năm sau, ngài mới nghĩ đến mình xây một ngôi nhà không xa lạ với chúng ta, nhưng xếp đặt tiện dùng.

Quý vị chắc hỏi chúng tôi làm sao có thể xây những toà nhà này trong hoang dã được? Xin hãy nhớ không phải ngày nay người ta mới nói: “ai xây cất phải chịu vất vả”. Cha có kinh nghiệm đôi chút về vấn đề này, và chỉ có Chúa mới biết Cha đã chịu lao khổ, dày vò, mồ hôi để đến thành quả như đã đạt, bất kể mọi bất trắc xảy ra.

Nhưng, cộng đoàn Kitô giáo trong vùng này thăng tiến, thật tuyệt đẹp. Nếu quý vị đến đây cách 4 hay 5 năm thôi, quý vị đã không gặp một Kitô hữu, năm 1936, đã gần 1000.

Hiện nay, cuối năm 1939, địa sở còn tăng tên nhờ bình an nội gới và ngoại cảnh của 3 làng mới: Đak-Rao, Đak-Tang và Đak-Phun; có 12 họ đạo chiếm bên hữu ngạn sông Pơkô, và 3 bên tả ngạn sông, với 1328 tín hữu và dự tòng, tổng số lên tới 2256 linh hồn, mà Cha phải dẫn họ đến đường Đức tin về Thiên Chúa và hạnh phúc. Cha hăng say thực hiện; con số 5335 lần rước lễ năm 1939 là một bằng chứng.

Cuối tháng 3 năm này, Đức cha Jannin đã đi thăm chính thức địa sở mới này và ban cho 410 người chịu phép Thêm Sức. Như thế, công trình của Thiên Chúa tích cực tiếp nối mãi.

KHỞI ĐẦU CỦA ĐỊA SỞ ĐAK-CHÔ

Đak-Chô là một làng gồm 250 dân nằm cách tây bắc Kontum 60 cây số, ven quốc lộ 14, con đường giao thông quan trọng tại Việt Nam nối Sài Gòn –  Đà Nẵng – Huế qua các cao nguyên xứ thượng.

Dân cư trong địa sở này gồm những người Sêđang, một chủng tộc thiện chiến, có những phong tục khác với người Bahnar một ít, và chẳng may có một thứ ngôn ngữ riêng biệt, với bao nhiêu là thổ ngữ khác nhau từ làng này đến làng khác.

Địa sở mới còn đâm chồi nẩy lộc nhờ sự trở lại đạo của làng mới: Đak-Hrâp, Đak-Brei gồm những xóm Đak-Kơna, Đak-Kơmo và Đak-Rơia iê. Vậy năm 1939, dân số lên tới 2313 người gồm 1324 tín hữu và 989 dự tòng. Tất cả những sứ ngoại lân cận chính họ tự ý xin trở lại nữa. Nếu chúng ta có nhân lực và vật lực như ý muốn, còn có thể thành lập một địa sở tốt đẹp tại nguồn sông Tơkan.

Cha Renaud đến Đak-Chô vào Phục Sinh 1936, ở trong một túp lều tranh, do bàn tay các tín hữu sở họ tương lai của ngài làm nên; rất đơn sơ, gồm 2 phòng nhỏ, 1 dành cho cha sở, một dành cho người giúp việc. Cách đó 100 thước là một nhà nguyện nhỏ, đơn sơ như trong bao sở họ khác. Cha sống chật chội, nhưng ngài vui sống trong hoàn cảnh của ngài. Dẫu vậy, cơ sở đó không hợp và không đủ cho một trung tâm của một địa sở lớn; cần làm khá hơn nữa.

Cha đầy hăng say và đủ khả năng bắt tay vào việc một cách dứt khoát, xây cất một ngôi thánh đường – nhà vuông, rộng rãi và chắc chắn. Làm nhà nguyện và nhà Cha sở cùng một mái nhà, rẻ tiền hơn và thực dụng hơn. Một gác chuông nhỏ, ít có trong địa phận chúng tôi với một ngọn tháp, đơn sơ thẳng hướng trời cao. Cha đã thành công trong việc này với bao mỏi mệt… chỉ mình Chúa thấy rõ. Qua những bản đồ trang sau, độc giả có thể nhận định được việc này như thế nào. Họ sẽ thấy như chính Cha đã thấy công trình này sau khi đã gọi đến lòng thiện chí của bổn đạo, những người đồng một lòng góp công góp sức xây cất nhà nguyện theo khả năng, nhất là họ đem từ rừng về hàng ngàn khúc gỗ cần thiết cho việc kiến trúc này.

Thứ tư Phục Sinh 1939, Đức Cha Jannin với các Linh mục khác đến để làm phép trọng thể ngôi thánh đường này, Hai ngày sau, Đức Cha ban Bí tích Thêm Sức cho 314 người. Đây là một dịp chưa hề nghe thấy cho xứ này.

Hy vọng những ngày tốt đẹp chỉ khai mào cho một tương lai dồi dào hoa trái và vinh dự cho địa sở này.

Sau khi đọc xong những trang này, ước chi đọc giả giúp chúng tôi ca ngợi và cảm tạ Thầy Chí Thánh đã đoái thương đổ tràn đầy cho những vùng này hồng ân toàn năng của ngài, hầu làm cho những người Sêđang kiêu hùng ma quỷ đến ngày nay được chiến thắng và cũng trở nên con cái Thiên Chúa.

Thấy sự chúc lành này, làm sao chúng tôi không tin tưởng vào tương lai của địa phận chúng tôi.

JANNIN MARTIAL, Đại diện Tông Tòa Kontum


Các Tư Liệu Khác:
(01:07:2014 | 10:48 AM)
ĐGM Micae Hoàng Đức Oanh chủ tọa Lễ Đúc kết Khóa Thường huấn Liên Tu sĩ GP Kontum ngày 13-06-2014
(01:07:2014 | 10:37 AM)
Ngày Truyền Thống Liên Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo Phận Kontum
(14:06:2014 | 02:21 PM)
Tài Liệu Về Cha Bề Trên Jules Vialleton
(14:06:2014 | 01:53 PM)
Cảm Tưởng Về Ngày Khai Trường PROBATORIUM
(08:06:2014 | 12:47 PM)
Lược sử Giáo xứ Nhà Đá, Gp. Quy Nhơn (Nhân Mừng Ngọc Khánh Linh mục Cha già Gioakim Nguyễn Thúc Nên)
(07:06:2014 | 12:07 PM)
Thánh Lễ Mừng Ngọc Khánh Linh Mục Của Cha GIOAKIM Nguyễn Phúc Nên
(17:05:2014 | 10:12 AM)
Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi-Giáo Miền Kontum–GP Kontum
(06:05:2014 | 10:08 AM)
Thánh Lễ Làm Phép Nhà Nguyện Plei Don – Kontum (02.05.2014)

Xem Thêm...