Suy Tư Về Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo Năm 2026: Nên Một Trong Đức Kitô, Hiệp Nhất Trong Sứ Vụ

Dẫn Nhập

Năm nay ĐTC Lê-ô chọn chủ đề “Nên Một Trong Đức Kitô, Hiệp Nhất Trong Sứ Vụ” để mời gọi mọi thành phần dân Chúa trong Giáo hội tiếp tục dấn thân sống ơn gọi truyền giáo, cũng là lệnh truyền bất hủ của Chúa Phục Sinh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).

Kể từ Khánh Nhật đầu tiên được thiết lập bởi ĐGH Pi-ô XI đến hôm nay là vừa tròn 100 năm (1926–2026). Một thế kỷ đi qua với 100 sứ điệp Truyền Giáo. Mỗi sứ điệp đều có điểm chung là khẳng định bản chất của Giáo hội là Truyền giáo và mời gọi tất cả Kitô hữu sống ơn gọi truyền giáo như căn tính của bản thân và hơi thở của Giáo hội.

Dòng chảy của Truyền giáo thường bắt đầu từ số ít, một người theo Chúa sẽ kéo thêm nhiều người tin Chúa và cả đoàn người cùng làm chứng cho Chúa. Vì lẽ đó, trước tiên môn đệ cần nên MỘT với Chúa để quy tụ NHIỀU người đến gặp Chúa, và từ kinh nghiệm gặp Chúa, cảm nếm được niềm vui và hy vọng do Tin Mừng đem lại, TẤT CẢ cùng nhau loan báo Tin Mừng và làm chứng cho Chúa bằng cả tính mạng của mình.

Chủ đề của năm nay – “Nên Một Trong Đức Kitô, Hiệp Nhất Trong Sứ Vụ” –như diễn tả lại “Dòng chảy của Truyền giáo” nói trên và muốn mời gọi chúng ta trở về nguồn, sống linh đạo cốt lõi của Truyền giáo Ad Gentes, để có thể tiếp nối sứ mạng còn dang dở của Chúa Kitô là “làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Ngài”, nhận biết Thiên Chúa là Cha và sống xứng đáng là con cái của Cha trên trời.

Một

Trở về nguồn là trở về thời Giáo hội mới được khai sinh, thời các tông đồ và các Kitô hữu thường xuyên quy tụ bên nhau để cầu nguyện – tham dự Lễ Bẻ Bánh – hiệp nhất với nhau trong sứ mạng… (x. Cv 2:42-47; 4:32-33), là trở về với Chúa Kitô qua đời sống cầu nguyện để có được kinh nghiệm cá vị về Chúa Kitô như các Tông đồ đầu tiên, hầu trở nên “Đức Kitô thứ hai” (alter Christus) tiếp tục thực thi sứ mạng giúp muôn dân nhận ra chân lý là Chúa Cha yêu thương họ và mọi người đều là anh chị em của nhau ngang qua Chúa Kitô là Đấng Mêxia mà họ đang ngóng trông (x. Cv 3:1-10). Các môn đệ đầu tiên đi theo Chúa, được Ngài hỏi “các anh tìm gì?”, họ trả lời rằng “thưa Thầy, Thầy ở đâu?”, và Ngài đáp rằng “đến mà xem”, nên các môn đệ đã đến xem và ở lại với Ngài luôn (x. Ga 1:38-39). Hành trình đi theo con đường Giêsu luôn đặt nền trên đời sống cầu nguyện liên lỉ, tức là “ở lại với Chúa và trong Chúa”. Nói cách khác, môn đệ là người nên một trong Chúa Kitô, luôn kết hiệp mật thiết với Ngài như chính Ngài đã kết hiệp mật thiết với Chúa Cha. Đây chính là tâm tình và ước muốn của Chúa Giêsu dành cho những ai được Ngài tuyển chọn: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (Ga 17:23).

Như thế, linh đạo truyền giáo là cầu nguyện để kết hiệp sâu xa với Ba Ngôi Thiên Chúa và cảm nhận được sai đi từ trong chính sự kết hiệp ấy: “Là Kitô hữu trước hết không phải là một tập hợp các việc thực hành hay ý tưởng, nhưng là một đời sống trong sự hiệp nhất với Đức Kitô, nhờ đó chúng ta được tham dự vào mối tương quan con thảo mà Người có với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần” (trích trong “Sứ điệp Truyền giáo Năm 2026” của ĐTC Lê-ô XIV). Thực thế, nếu ai cũng biết cầu nguyện liên lỉ thì cả Giáo hội sẽ là nhà thừa sai. Cầu nguyện cũng là một cách truyền giáo dành cho những ai không thể cất bước lên đường mỗi ngày như người già yếu đau bệnh, trẻ khuyết tật, người bận rộn mưu sinh gồng gánh trọng trách gia đình, v.v.. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu với lòng khát khao được đi ra các biên cương mới nhưng sức khỏe hạn chế nên mỗi ngày chỉ biết cầu nguyện và làm việc hy sinh để hướng tới sứ mạng truyền giáo, khát khao Chúa Giêsu được nhiều người yêu mến hơn nữa. Tình yêu truyền giáo của ngài đã chạm đến biết bao tâm hồn, đến nỗi Giáo hội đặt ngài làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo dù chưa một lần cất bước lên đường để đến với muôn dân. Điều này chứng minh rằng cầu nguyện là yếu tố then chốt hình thành nên người truyền giáo thứ thiệt, cung cấp cho Giáo hội nhiều Giáo phu nhiệt thành, tận tâm phục vụ Tin Mừng, đầy ắp Lời Hằng Sống trong tâm hồn để không ngần ngại san sẻ cho người khác.

Trong cầu nguyện, môn đệ Chúa cảm nghiệm bản thân được hòa quyện vào trong mối tương quan tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó là sự kết hiệp liên lỉ và không thể tách rời giữa môn đệ và Chúa. Môn đệ được sai đi để kể lại cho người khác về kinh nghiệm gặp gỡ Chúa mà họ được kết hiệp khi cầu nguyện, Đấng mà họ đã nên một với Ngài. Có khi sự hiện diện của môn đệ Chúa nơi những vùng đất mà họ được sai đến cũng diễn tả hoặc khắc lên chân dung sống động của Đấng mà họ muốn giới thiệu.

Tại sao môn đệ phải nên một trong Chúa?

Có lẽ vì môn đệ được mời gọi cùng Chúa đi thi hành sứ mạng được trao. Có lẽ vì họ được Chúa gửi gắm sứ điệp là hãy nói cho muôn dân biết “Nước Trời đã đến gần” và đang gõ cửa tâm hồn người nghe. Có lẽ vì họ đang và sẽ mãi mãi đi con đường của Chúa, đạt tới kinh nghiệm của Chúa là kinh nghiệm bị loại trừ, chịu bách hại, vác thập giá, thậm chí phải đánh đổi cả tính mạng. Có lẽ vì… nhiều nguyên do khác mà bản thân môn đệ Chúa đã kinh nghiệm cách cá vị và chỉ có họ mới trả lời rõ ràng và chính xác nhất “tại sao phải nên một trong Chúa?”.

Nhiều

Bên cạnh việc “nên một trong Chúa”, môn đệ của Ngài còn sống sự hiệp nhất với nhau, nên một với nhau. Dấu chỉ rõ ràng nhất của một người đang được nên một với Chúa là họ có khả năng sống liên đới – hiệp thông – chia sẻ sứ mạng với người khác. Thực thế, Chúa Giêsu từng bộc bạch với các môn đệ rằng “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13:35). Mọi người chỉ có thể yêu thương nhau khi ở lại trong tình thương của Chúa như cành nho gắn chặt lấy thân cây nho mà thôi (x. Ga 15:5). Rõ ràng hoa trái của cầu nguyện, của đời sống ở lại trong tình thương của Chúa, là sự bình an và niềm vui nội tâm của mỗi người nhưng còn là sự yêu thương và hiệp nhất với nhau giữa những con người cầu nguyện – những môn đệ của Chúa. Theo ĐTC Lê-ô và sứ điệp truyền giáo năm nay, chính sự hiệp nhất giữa các môn đệ là lời chứng hùng hồn nhất về Chúa Kitô, là việc truyền giáo rất hữu hiệu giữa thời đại này.

ĐTC Lê-ô nói trong “Sứ điệp Truyền giáo Năm 2026” rằng:

Vì thế, trách nhiệm truyền giáo đầu tiên của Hội thánh là canh tân và gìn giữ sự hiệp nhất thiêng liêng và huynh đệ giữa các thành viên của mình. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta chứng kiến những xung đột, chia rẽ, hiểu lầm và thiếu tín nhiệm lẫn nhau. Khi những điều ấy xảy ra ngay trong các cộng đoàn của chúng ta, việc làm chứng của chúng ta bị suy yếu. Sứ mạng loan báo Tin mừng mà Đức Kitô trao phó cho các môn đệ trước hết đòi hỏi những con tim được hòa giải và khao khát hiệp thông.

Tất Cả

Từ một người và kinh nghiệm cá vị dẫn tới nhiều người có chung một cảm thức, một niềm tin, một lý tưởng, một hoài bão… sẽ hình thành nên một tập thể có vô số người ước ao tham gia lao tác trên cánh đồng đã vào mùa gặt. Tuy nhiên, khi một tập thể có nhiều người khác nhau thì sẽ đối diện nhiều vấn đề khác nhau đến từ văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống, tri thức… Giữa những khác biệt đó rất cần có được sự hiệp nhất.

Tại sao các môn đệ Chúa Kitô phải hiệp nhất với nhau?

Giữa thế giới phân mảnh, chịu ảnh hưởng bởi Chủ nghĩa Cá nhân, việc hiệp nhất sẽ tạo nên sức mạnh và cùng cộng tác vào sứ mạng chung cũng là sứ mạng chính yếu mà bản thân mỗi người được giao phó, đó chính là loan báo Tin Mừng. Vì lẽ đó, ĐTC Lê-ô cho rằng hiệp nhất vì sứ mạng, hiệp nhất để sống căn tính của người môn đệ là truyền giáo, và “hiệp nhất trong sứ mạng” để tạo nên một sức mạnh đến từ Chúa, như tục ngữ Việt Nam có câu: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”.

Thực thế, Chúa Thánh Thần là tác nhân chính trong mọi hoạt động truyền giáo. Các Dòng tu trong Hội Thánh dù có Linh đạo riêng, Đặc sủng riêng, v.v.. nhưng chỉ có một Đức tin, một Phép Rửa, và làm chứng về một Chúa mà thôi. Vì vậy, dù là ai, thuộc đặc sủng gì chăng nữa, mọi người đều cần có Chúa Thánh Thần và ơn riêng của Người để trước hết là hiệp nhất trong sứ mạng, thứ đến là sống yêu thương nhau, và sau cùng là chung tay sánh bước loan báo Tin Mừng một cách sáng tạo và trung tín với Giáo huấn của Hội Thánh và Tin Mừng.

Đương nhiên, hiệp nhất truyền giáo không được hiểu như là sự đồng nhất, nhưng như là sự hội tụ của các đặc sủng khác nhau cho cùng một mục tiêu: làm cho tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình và mời gọi mọi người gặp gỡ Người. Việc loan báo Tin mừng được thực hiện khi các cộng đoàn địa phương cộng tác với nhau và khi những khác biệt văn hóa, thiêng liêng và phụng vụ được diễn tả cách trọn vẹn và hài hòa trong cùng một đức tin. Vì thế, tôi khuyến khích các cơ chế và các thực tại của Hội thánh củng cố ý thức hiệp thông truyền giáo của toàn thể Hội thánh và phát triển cách sáng tạo những con đường cụ thể để cộng tác với nhau cho và trong sứ mạng. (trích trong “Sứ điệp Truyền giáo Năm 2026” của ĐTC Lê-ô XIV).

Các môn đệ hiệp nhất với nhau để thể hiện mối dây liên kết giữa họ, không ai khác, là Chúa Giêsu, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, trong sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần. Qua sự hiệp nhất, tình yêu được thể hiện bằng hành động cụ thể. Nhờ tình yêu được diễn tả bằng hành động cụ thể, người ta nhận ra dung mạo của Thiên Chúa, Đấng luôn trung tín trong tình yêu và ước mong mọi người đều được cứu độ (1 Tm 2:4). Giáo hội vẫn luôn có nhiều khuôn mặt sống tình yêu Chúa và tha nhân bằng hành động cụ thể, như thánh Phanxicô Xavier, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, thánh Têrêxa Calcutta, v.v.. Vì thế, ĐTC Lê-ô mời gọi chúng ta bắt chước những chứng nhân tình yêu này để nên một với nhau đi ra các tiền tuyến cùng nhau làm chứng cho Chúa: “Được thúc đẩy bởi những chứng tá ấy, chúng ta hãy dấn thân, mỗi người theo ơn gọi và những ân huệ đã lãnh nhận, để đóng góp vào sứ mạng loan báo Tin Mừng vĩ đại, vốn luôn là công trình của tình yêu.”

Tạm Kết

Tôi nhận thấy có một sợi chỉ xuyên suốt trong Sứ điệp Truyền giáo năm nay, đó là khởi đi từ số ít – Một – để đạt tới số Nhiều và vươn xa tới Tất Cả. Thật vậy, để có thể thực thi sứ mạng truyền giáo Ad Gentes, điều đầu tiên là phải đạt tới một kinh nghiệm cá vị và thiết thân với Chúa. Nói cách khác, mỗi Kitô hữu cần nên một với Chúa, càng giống Chúa bao nhiêu thì càng dễ loan báo Tin Mừng bấy nhiêu. Chúa Giêsu đến thế gian một mình. Sau đó, Ngài quy tụ nhóm Mười Hai (x. Lc 6:12-16), rồi lập thêm nhóm Bảy Mươi Hai (x. Lc 10:1), và sau khi Chúa tử nạn và phục sinh, hai nhóm này đông hơn nữa, có khoảng một trăm hai mươi người (Cv. 1:15). Con số này không dừng lại, vì ngay sau khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông đồ, thánh Phêrô rao giảng mạnh dạn và lập tức có thêm ba ngàn người nữa trở thành Kitô hữu (Cv 2:41). Tương tự, một người nam hoặc nữ, sau khi kết hôn, sẽ hình thành một gia đình gồm nhiều người, những người này lại kết hôn hoặc có đời sống chứng tá thì lại hình thành nên một nhóm người đông hơn. Tôi cũng kinh nghiệm quá trình chuyển hóa tiệm tiến này (một – nhiều – tất cả) qua chính Dòng tu của mình. Thuở ban đầu, thánh Inhã Loyola được hoán cải, rồi đi học khi tuổi đã cao, ở chung phòng với hai người trẻ tuổi hơn, hình thành nên nhóm ba bạn đường đầu tiên (Inhã – Phêrô Favre – Phanxicô Xavier), sau đó nhóm ba người trở thành nhóm mười người, rồi khi thánh Inhã trở về Nhà Cha thì nhóm này có khoảng một ngàn người cùng cộng tác phục vụ sứ mạng còn dang dở của Chúa. Giáo hội Việt Nam cũng đang tiến hành sứ mạng truyền giáo dựa trên sự tiệm tiến thánh thiêng này, khởi đi từ “mỗi Kitô hữu là một nhà thừa sai” rồi đến “mỗi Gia Đình là cộng đoàn thừa sai”, để cuối cùng là “cả Hội Thánh Việt Nam là Hội Thánh thừa sai”.

Thực thế, hãy quay lại thuở ban sơ, khi Thiên Chúa dựng nên con người cũng chỉ có một, là Ađam, sau đó Người thấy Ađam ở một mình không tốt nên tạo nên Evà. Hai người này kết hợp với nhau tạo nên con đàn cháu đống. Từ một thành nhiều và hình thành nên số đông. Tuy nhiên, số đông này sẽ ra sao và đi về đâu nếu họ không biết Chúa Cha là ai, yêu họ như thế nào, bận tâm về họ ra sao?

Để cứu chuộc loài người khỏi chết muôn đời, Chúa Giêsu được sai đến thế gian một mình nhưng Ngài luôn kết hiệp với Chúa Cha. Qua sự kết hiệp này, các môn đệ của Ngài cũng được tham dự vào mối tương quan tình yêu Cha Con: “để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17:21). Sự kết hiệp với Chúa chỉ có thể diễn ra và đạt được khi môn đệ ở lại trong Chúa, biết tỉnh thức và cầu nguyện không ngừng.

Tóm lại, có thể nói cầu nguyện là khởi điểm của quá trình tiệm tiến từ Một đến Nhiều và làm nên Tất Cả. Bởi lẽ, môn đệ thừa sai lên đường là để chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa cho tha nhân. Không ai có thể cho cái mình không có. Muốn giới thiệu Chúa cho người khác thì bản thân phải biết Chúa là ai, tức là phải được Tin Mừng hóa bản thân trước hết. Để được Tin Mừng hóa, bản thân phải là con người cầu nguyện liên tục, nỗ lực đạt tới cảnh giới luôn sống kết hiệp với Chúa và với nhau, cảm nếm tình yêu trung tín của Chúa, để không còn do dự hoặc ngại ngùng lên đường làm chứng cho Tin Mừng Yêu Thương.

Và như thế, (1) nếu bản thân chúng ta chưa thể lên đường, chưa thể ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, thì đâu là nguyên nhân? (2) Tại sao chúng ta vẫn thường xuyên lên đường đến với những biên cương mới, nhưng chưa thấy hoa trái ở đâu, chẳng thấy ai mở lòng đón nhận Tin Mừng? (3) Phải chăng họ chưa tin Chúa hoặc xa lánh chúng ta là vì họ chưa cảm nhận được tình yêu của chúng ta qua những hành động cụ thể? (4) Có khi nào chúng ta cảm thấy chán nản trên đường loan báo Tin Mừng không, đâu là lý do?

Lời nguyện Truyền giáo:

Lạy Chúa Giêsu,

Đấng là mẫu gương dấn thân truyền giáo

không biết mệt mỏi, không ngại thách đố,

xin ban thêm sức mạnh thiêng liêng cho chúng con,

xin giúp chúng con luôn biết kết dính với Chúa

như chính Chúa hằng ở lại trong Chúa Cha,

để chúng con không sống phản lại Tin Mừng

qua những hành động hoặc lời nói chia rẽ, cục bộ, ích kỷ…

nhưng luôn biết hiệp nhất và liên đới với nhau trong sứ mạng,

hiệp thông và tích cực tham gia vào việc loan báo Tin Mừng

ở mọi nơi và mọi ngày trong suốt cuộc đời chúng con.

Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

Pleiku, Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo 2026