Kinh Kính Mừng Đã Thay Đổi Như Thế Nào Qua Các Thế Kỷ
Kinh Kính Mừng Đã Thay Đổi Như Thế Nào Qua Các Thế Kỷ
Bức tranh “Lễ Truyền Tin” trong nhà thờ Votivkirche của Ernst Nowak (1851-1919). Nguồn ảnh: Renata Sedmakova.
Kinh Kính Mừng đã được hình thành và phát triển theo thời gian, và trước đây không phải lúc nào cũng được đọc theo cách mà Giáo hội Công giáo hiện nay đang đọc.
Giáo hội Công giáo có hai lời kinh đã trở thành những lời cầu nguyện quen thuộc và không thể thiếu trong đời sống của người Công giáo trên khắp thế giới. Hai lời kinh này được dạy cho trẻ em ngay từ những năm tháng đầu đời và tiếp tục đồng hành với đời sống thiêng liêng của chúng cho đến khi qua đời.
Hai lời kinh ấy là Kinh Lạy Cha và Kinh Kính Mừng.
Trong khi Kinh Lạy Cha, do chính Chúa Giêsu ban cho chúng ta, hầu như không thay đổi nhiều trong suốt 2.000 năm qua, thì trái lại, Kinh Kính Mừng đã được hình thành và thay đổi theo thời gian.
Lúc khởi đầu, lời kinh này rất ngắn gọn, rồi dần dần được mở rộng thành hình thức mà chúng ta biết ngày nay.
Hai câu Kinh Thánh
Trong Tin Mừng theo Thánh Luca, chúng ta tìm thấy hai câu chính làm nên lời kinh “Kính mừng Maria” thường được sử dụng. Phần đầu của lời kinh bắt nguồn từ biến cố Truyền Tin, khi thiên thần Gabriel chào Đức Maria bằng những lời: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà!” (Lc 1,28).
Phần tiếp theo của lời kinh được lấy từ biến cố Thăm Viếng, khi bà Elisabeth chào Đức Maria bằng những lời: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc!” (Lc 1,42).
Các Kitô hữu đã không ghép hai câu này lại với nhau cho đến sớm nhất là vào thế kỷ XI. Bách khoa Toàn thư Công giáo giải thích rằng: “Thực tế là hầu như không có dấu vết nào, hoặc rất ít, về Kinh Kính Mừng như một công thức đạo đức được chấp nhận trước khoảng năm 1050. Mọi bằng chứng đều cho thấy lời kinh này bắt nguồn từ một số câu tung hô và đáp ca xuất hiện trong Kinh Nhật tụng Ngắn hay Cursus về Đức Trinh Nữ Maria, một hình thức thu gọn của Phụng vụ Giờ kinh vốn đang được các dòng tu đón nhận rộng rãi đúng vào thời điểm ấy. Hai bản thảo Anglo-Saxon tại Bảo tàng Anh, một trong hai có thể có niên đại từ năm 1030, cho thấy những lời ‘Ave Maria’ (‘Kính mừng Maria’)… và ‘benedicta tu in mulieribus et benedictus fructus ventris tui’ (‘bà có phước lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phước lạ’) xuất hiện trong hầu hết các phần của Cursus; và mặc dù chúng ta không thể chắc chắn rằng ngay từ đầu các mệnh đề này đã được nối lại để tạo thành một lời kinh duy nhất, nhưng có bằng chứng thuyết phục rằng điều đó đã xảy ra chỉ ít lâu sau đó.”
Ban đầu, Kinh Kính mừng được gọi là Lời Chào Đức Trinh Nữ Maria, và chỉ gồm hai câu được ghép lại với nhau.
Xin cầu cho chúng con là kẻ có tội
Mãi về sau, phần thứ hai mang tính khẩn cầu của lời kinh này (phần “Thánh Maria…”) mới được thêm vào. Trong nhiều thế kỷ, lời kinh chỉ kết thúc ở câu “…và Giêsu con lòng Bà gồm phước lạ. Amen,” mặc dù đôi khi người ta cũng thêm vào những lời cầu xin khác.
Một số nhóm vẫn duy trì truyền thống này, bằng cách thêm những lời cầu hoặc những câu khác sau phần đầu của Kinh Kính Mừng, thường tập trung vào mầu nhiệm của Kinh Mân Côi đang được đọc.
Lời kinh chính thức “Ave Maria” (“Kính mừng Maria”) theo hình thức mà chúng ta biết ngày nay chỉ được hoàn tất sau khi sách Giáo lý của Công đồng Trentô được xuất bản; sau đó, lời kinh được đưa vào Sách kinh Nhật tụng Rôma năm 1568. Trong sách Giáo lý của Công đồng Trentô, lời kinh này được đề cập nhưng vẫn được gọi là “Lời Chào của Thiên thần.”
Như thế, Kinh Kính Mừng là một lời cầu nguyện đã được phát triển một cách tự nhiên qua nhiều thế kỷ và trở thành một phần nền tảng trong đời sống linh đạo Công giáo.
Tác giả: Philip Kosloski – Nguồn: Aleteia (06/10/2026)