Đức Chúa đã cầm lấy tay phải vua Ky-rô để bắt các dân tộc suy phục ông.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
1 Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô – Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa.
4 Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta.
5 Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác ; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,
6 để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta. Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 95,1 và 3.4-5.7-8a.8b-10ac (Đ. c.7b)
Đ. Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang.
1 Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa, hỡi toàn thể địa cầu ! 3 kể cho muôn dân biết Người thật là vinh hiển, cho mọi nước hay những kỳ công của Người. Đ.
4 Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, 5 vì chư thần các nước thảy đều hư ảo, còn Đức Chúa, Người sáng tạo trời cao.Đ.
7 Hãy dâng Chúa, hỡi các dân các nước, dâng Chúa quyền lực và vinh quang, 8a hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người. Đ.
8b Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, 9 và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan. 10ac Hãy nói với chư dân : Chúa là Vua hiển trị, Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng.Đ.
Bài đọc 2 : 1 Tx 1,1-5b
Chúng tôi nhớ đến lòng tin, lòng mến và lòng trông cậy của anh em.
Khởi đầu thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.
1 Chúng tôi là Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Chúc anh em được ân sủng và bình an.
2 Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em. Chúng tôi nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện, 3 và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta, chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô.
4 Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, 5b vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Pl 2,15d.16a
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Giữa thế gian, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòng trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Mt 22,15-21
Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
15 Khi ấy, những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy. 16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”
18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả ! 19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. 20 Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” 21 Họ đáp : “Của Xê-da.” Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Is 45,1.4-6 : Vua Ky-rô, khí cụ của Thiên Chúa
Khi ngôn sứ I-sai-a viết bản văn này, dân Do-thái đã sống kiếp lưu đày gần năm mươi năm, kể từ năm 587, khi đạo quân của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo chinh phục Giê-ru-sa-lem, cướp bóc và tàn phá Đền Thờ và bắt một số người đi lưu đày. Và giờ đây, vang lên khắp miền những tiếng ồn ào của các cuộc chinh phục do vị chủ mới của thế giới dẫn đầu, đó là vua Ky-rô, vua của nước Ba Tư. Những tiếng ồn ào này đem lại một tin mừng mới mẻ cho những kẻ đang bị lưu đày ở Ba-by-lon : tất cả mọi người đều cảm nhận rằng chẳng bao lâu nữa, cả vùng này sẽ thuộc về một vị hoàng đế mới, bách chiến bách thắng, đó là vua Ky-rô, khí cụ của Chúa.
Chính trong bối cảnh này mà lời tuyên sấm của ngôn sứ I-sai-a vang lên như một lời tuyên xưng đức tin tuyệt vời : ngôn sứ bắt đầu bằng lời nói : “Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô.” Thật ra, ngôn sứ không nói trực tiếp với chính vua Ky-rô đâu, vì vị vua này sẽ không bao giờ đọc sách của một ngôn sứ Do-thái mà ông không hề biết. Có lẽ đúng hơn là ngôn sứ I-sai-a ngỏ lời với dân Ít-ra-en đang bị lưu đày ở Ba-by-lon để nâng đỡ tinh thần họ, để họ tìm lại được niềm hy vọng dân tộc họ sẽ sớm được hồi sinh, một niềm hy vọng dựa trên hai xác tín.
1. Thứ nhất : Thiên Chúa luôn trung thành với Giao ước của Người, và Người không bao giờ bỏ rơi dân Người đã chọn, đó là dân Ít-ra-en : đó là ý nghĩa của kiểu nói “vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp (tên được Chúa đặt sau ở khe suối Giáp-bốc là Ít-ra-en), và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en.” Chúng ta đừng quên rằng câu nói này được công bố vào chính lúc người ta có nhiều lý do để nghi ngờ. Nếu dân Ít-ra-en bị rơi xuống đáy vực sâu, và mất tất cả, không chỉ là độc lập, mà còn tệ hơn nữa là tự do, lãnh thổ, Đền Thờ Giê-ru-sa-lem … thì người ta có thể tự hỏi phải chăng Thiên Chúa đã bỏ rơi dân Người, và trong thực tế người ta đã nghĩ như vậy. Đó chính là điều mà ngôn sứ I-sai-a đã mạnh mẽ công bố : “Gia-cóp luôn là tôi tớ của Đức Chúa, Ít-ra-en luôn là dân Người chọn.” Và sau này thánh Phao-lô sẽ nói “vì Thiên Chúa không thể chối bỏ chính mình”. Đó là xác tín thứ nhất của ngôn sứ I-sai-a.
2. Xác tín thứ hai : Thiên Chúa luôn làm chủ các biến cố : “Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác ; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta.” Ta có thể hiểu như thế này : “Chính Ky-rô, vị đại vương ngoại giáo, cũng ở trong tay Ta.” Thưa anh chị em, bản văn này không phải là một bài ca tụng vua Ky-rô đâu. Trái lại, ta có thể nói là bản văn này đặt vua Ky-rô vào đúng vị trí của ông, bởi vì cám dỗ thờ bụt thần vẫn rất phổ biến ở Ba-by-lon, và trong chính chương 45 này của ngôn sứ I-sai-a có nhiều lời cảnh giác chống lại việc thờ bụt thần và lặp đi lặp lại Thiên Chúa là Đấng duy nhất. Vì thế vào lúc vua Ky-rô đánh thắng hết trận này đến trận khác, mà ngôn sứ I-sai-a nhắc cho dân Do-thái nhớ rằng Thiên Chúa là Chúa đích thực duy nhất. Chính vua Ky-rô ở trong tay Người. Chính Thiên Chúa ban cho nhà vua ngoại giáo này thành công vì ích lợi của dân Chúa chọn, và vị vua ngoại giáo này cũng không biết mình phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa đâu. Ngôn sứ I-sai-a nhấn mạnh : “Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta.”
3. Ta có thể hiểu về niềm hy vọng dựa trên hai xác tín này như sau : Bởi vì Thiên Chúa luôn là chủ mọi biến cố, và Người không bao giờ quên dân Người đã chọn là dân Ít-ra-en, nên hãy can đảm lên ! Từ sự thống trị này, từ gót giày ngoại bang này, Thiên Chúa sẽ làm phát sinh ra điều lợi ích cho dân Chúa. Không một quyền lực trần thế nào, dù mạnh đến đâu, có thể đương đầu với Thiên Chúa. Sau này, thánh Phao-lô sẽ nói : “Chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, nghĩa là cho những ai tin tưởng Người” (Rm 8,28). Chúng ta biết rằng biết rằng tương lai cho thấy là lời ngôn sứ I-sai-a có lý, vì vào năm 539 trước Công nguyên, vua Ky-rô đã chinh phục Ba-by-lon, và năm 538 trước Công nguyên, ông cho dân Do-thái được trở về Giê-ru-sa-lem và trao trả lại những của cải mà vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đã chiếm đoạt cũng như cung cấp tiền bạc cho họ tái thiết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Điều lưu ý cuối cùng : Vua Ky-rô được gọi là “Mê-si-a” vì ông đã được Thiên Chúa chọn để giải thoát dân của Người là Ít-ra-en. Tuy nhiên, ông không phải là vua cũng không phải là tư tế hoặc ngôn sứ tại nước Ít-ra-en, nhưng điều quan trọng nhất là công trình ông đã hoàn tất. Ta có thể rút ra kết luận là mỗi khi một người nào đó thực hiện công cuộc giải thoát là thực hiện công việc của Thiên Chúa. Đó là một trong những chủ đề lớn của mặc khải Kinh Thánh.
Đáp ca : Tv 95
Thánh vịnh 95 là một thánh vịnh ca tụng Chúa là Vua và là Thẩm Phán toàn cầu. Thánh vịnh báo trước ngày tận thế, ngày được chúc phúc, trong đó tất cả các dân tộc sẽ nhận biết Thiên Chúa như là Thiên Chúa duy nhất. Cuối cùng, ngày đó toàn thể nhân loại đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất. Ta hãy hình dung một chút cảnh tượng mà thánh vịnh 95 mô tả cho chúng ta.
Chúng ta đang ở trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Tất cả mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi chủng tộc đều vội vã đến bên ngoài Đền Thờ, còn trong hành lang Đền Thờ đầy người từ khắp nơi đi về. Đám đông khổng lồ đang gào lên : “Chúa là Vua hiển trị.” Lần này không chỉ là dân Ít-ra-en tung hô vị Tân Vương của mình, mà là toàn thể nhân loại tung hô vị Vua của cả thế giới : “Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần.”
Thật ra, không chỉ nhân loại đâu mà là cả vũ trụ cũng tham gia vào bản hoà tấu này : “Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng, biển gầm vang cùng muôn hải vật, ruộng đồng cùng hoa trái, nào hoan hỷ. Hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa.”
Bài đọc 2 : 1 Tx 1,1-5b
1. Thời Chúa Giê-su, Thê-xa-lô-ni-ca là thủ phủ của tỉnh Ma-kê-đô-ni-a, thuộc đế quốc Rô-ma. Thê-xa-lô-ni-ca là một thành phố thương mại, quy tụ nhiều sắc tộc, trong số đó có một nhóm quan trọng kiều bào Do-thái. Bài đọc 2 hôm nay trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca là những trang đầu tiên của Tân Ước. Bản văn được viết chỉ hai mươi năm sau khi Đức Ki-tô phục sinh. Chúng ta đang ở vào khoảng năm 50, Tin Mừng đã lan toả rất xa Giê-ru-sa-lem. Chính nhờ sách Công vụ Tông Đồ mà chúng ta biết các việc đã xảy ra. Lúc đó thánh Phao-lô đang rao giảng Tin Mừng ở bờ phía tây của Thổ Nhĩ Kỳ, thì vào một đêm, trong một thị kiến, ngài thấy một người miền Ma-kê-đô-ni-a khẩn cầu ngài đến với họ : “Xin ông sang Ma-kê-đô-ni-a giúp chúng tôi !” Thánh Lu-ca kể tiếp : “Sau khi ông Phao-lô thấy thị kiến đó, ông Phao-lô và Lu-ca tìm cách đi Ma-kê-đô-ni-a, vì hiểu rằng Thiên Chúa đã kêu gọi các ngài loan báo Tin Mừng cho họ” (Cv 16,10). Vì thế, các nhà thừa sai của chúng ta đến bờ biển Hy-lạp. Thành phố Phi-líp-phê là chặng dừng chân đầu tiên : lúc đầu các ngài được tiếp đón nồng nhiệt, nhưng sau đó lại bị bắt, bị đánh đập nhừ tử, bị điệu ra toà vì bị vu cáo là gây xáo trộn trong thành phố và bị tống giam vào ngục. Tuy nhiên, hai ông Phao-lô và Xi-la được Chúa giải thoát cách lạ lùng (x. Cv 16,25). Từ đó các ngài đi Thê-xa-lô-ni-ca là nơi có một hội đường của người Do-thái. Theo thói quen, ông Phao-lô đến với họ, và trong ba ngày sa-bát (thứ bảy) liền, ông thảo luận với họ ; dựa vào Kinh Thánh, ông giải thích và xác định rằng Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình và sống lại từ cõi chết ; ông nói : “Đấng Ki-tô ấy, chính là Đức Giê-su mà tôi rao giảng cho anh em.” “Trong nhóm đó, có mấy người đã chịu tin theo và nhập đoàn với ông Phao-lô và ông Xi-la ; một số rất đông những người Hy-lạp tôn thờ Thiên Chúa và không ít phụ nữ quý phái cũng làm như vậy” (Cv 17,2-4).
2. Như vậy, chúng ta biết cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca đã hình thành như thế nào qua bức thư này. Tuy nhiên, như thường lệ, thánh Phao-lô không chỉ đề cập đến mặt tích cực, lòng nhiệt thành, … vẫn theo sách Công vụ Tông Đồ : “Những người Do-thái sinh ghen tức, họ quy tụ một số du đãng đầu đường xó chợ, họp thành đám đông, gây náo động trong thành” (Cv 17,5).
Sau đó hai ông Phao-lô và Xi-la rời Thê-xa-lô-ni-ca để đi Bê-roi-a ở gần đó. Người Do-thái vẫn tìm theo quấy phá, khiến ngài phải đi tiếp xuống A-then, hai ông Xi-la và Ti-mô-thê đến đó sau ngài. Ngài nhớ thương cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca non nớt phải bỏ lại, không biết làm sao để củng cố đức tin cho họ. Nhiều lần ngài muốn trở lại thăm viếng mà không được. Cuối cùng, sốt ruột quá, ngài sai ông Ti-mô-thê trở lại Thê-xa-lô-ni-ca để lấy tin tức và củng cố đức tin của anh em.
Tại Cô-rin-tô, ông Ti-mô-thê từ Thê-xa-lô-ni-ca trở về gặp ông Phao-lô, đem theo tin vui pha lẫn tin buồn : anh em rất thương nhớ vị Tông Đồ, người Do-thái vẫn tiếp tục vu khống. Đàng khác, cộng đoàn non nớt có vài điều phải giải quyết về luân lý cũng như về giáo lý Chúa quang lâm. Thế là vào năm 50, từ Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết cho Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca bức thư đầu tiên của ngài và điểm đặc biệt của bức thư này là đạo lý về cánh chung, tức là về những biến cố thời sau hết.
3. “Chúng tôi là Phao-lô, Xin-va-nô (tên gọi khác của Xi-la) và Ti-mô-thê, kính gửi Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô. Chúc anh em được ân sủng và bình an. Chúng tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa về tất cả anh em.” Ngay từ câu đầu tiên của bài đọc 2, ta ngạc nhiên về tính trang trọng trong lời chào này : cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca rất nhỏ bé, nhưng thánh Phao-lô gọi cộng đoàn này là “Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca ở trong Thiên Chúa Cha, và trong Chúa Giê-su Ki-tô”. Thánh Phao-lô rất kính trọng tất cả cộng đoàn tín hữu dù họ nhỏ bé, và đó là đặc điểm các thư của ngài. Và đó chắc chắn là động cơ thúc đẩy ngài tạ ơn và vui mừng và là điểm nổi bật trong tất cả phần đầu của bức thư. Dù các cộng đoàn có những khuyết điểm, nhưng trước tiên thánh Phao-lô nhìn thấy nơi họ hành động của Thiên Chúa : “Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em, vì khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa.”
4. Những lời trên chứa đựng một nội dung thần học quan trọng. Chúng ta thấy có ít nhất 3 điểm : Thứ nhất, bản văn này nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, mà chúng ta chỉ khám phá sau này, nhưng Đức Giê-su được gọi là “Chúa”, từ dành riêng cho Thiên Chúa trong Cựu Ước, và việc tạ ơn dành cho cả Ba Ngôi : “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta. Quả thật, khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Chúa Thánh Thần nữa.”Thứ hai là tác động của Chúa Thánh Thần gợi ý hướng dẫn, và cho phép các Ki-tô hữu hành động. Chúng ta thấy ở trong đó có định nghĩa của ba nhân đức đối thần : lòng tin đồng nghĩa với hành động (những việc làm vì lòng tin), kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta ; lòng mến (những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến). Thứ ba là một bài học cho tất cả các vị thừa sai : Chính thánh Phao-lô rao giảng nhưng ngài biết là chính Chúa Thánh Thần hành động : ngài đặt mọi lời rao giảng dưới quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ở đây cũng như tất cả những chỗ khác trong Kinh Thánh, ta thấy sự tuyển chọn của Thiên Chúa thật nhiệm mầu.
5. Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca : “Thưa anh em là những người được Thiên Chúa thương mến, chúng tôi biết rằng Thiên Chúa đã chọn anh em.” Như Đức Giê-su đã nói với các môn đệ : “Không phải anh em đã chọn Thầy, mà chính Thầy đã chọn anh em.” Như ông Mô-sê đã nói với các chi tộc, khi ông dẫn họ đi chinh phục tự do : “Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, chính là vì lòng yêu thương anh em, và để giữ lời hứa với cha ông anh em” (Đnl 7,7-8), tất cả đều là quà tặng, ơn Chúa. Khi các tín hữu (dù là Do-thái hay các môn đệ của Chúa Giê-su hay các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca) sẵn sàng đón nhận lời Chúa, và để cho lời Chúa biến đổi họ, thì ta phải hiểu là chính Chúa Thánh Thần làm việc đó.
Chúa chọn chúng ta làm con cái Người vì Người yêu thương chúng ta. Ta hãy sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa.
Bài Tin Mừng : Mt 22,15-21
1. Chúng ta đang ở trong tuần lễ cuối cùng của Chúa Giê-su trước cuộc Thương Khó tại Giê-ru-sa-lem, truyền thống Nhất Lãm (ba Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca) gom lại, tập họp lại tất cả những câu chuyện liên quan đến Chúa Giê-su và người Do-thái. Phe Hê-rô-đê là nhóm chính trị ủng hộ gia đình tiểu vương Hê-rô-đê, nghĩa là thân với chính quyền Rô-ma và có khuynh hướng theo văn hoá Hy-lạp, vì thế, về cả hai mặt chính trị và tôn giáo, nhóm này hoàn toàn đối lập với nhóm Pha-ri-sêu. Nhưng tại sao họ liên minh với nhau ? Thưa nhằm gài bẫy để mưu hại Chúa Giê-su (Lc 20,20).
“Xin Thầy cho biết ý kiến : Có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?” Trong câu trả lời, Chúa Giê-su vạch trần thói giả hình của họ : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả !” Chúng ta biết thời Chúa Giê-su, xứ Pa-lét-tin thuộc về đế quốc Rô-ma ; Xê-da bấy giờ là hoàng đế Ti-bê-ri-ô. Thuế đây là thuế thân, mọi người Do-thái trọn mười bốn tuổi trở lên và chưa đến sáu mươi lăm tuổi đều phải nộp, không kể các thứ thuế khác. Người Do-thái coi đây là một dấu hiệu của sự thần phục bỉ ổi mà dân tộc họ phải bày tỏ đối với Rô-ma, cho nên nhóm Quá Khích cấm các thành viên của nhóm không được đóng, người Do-thái kể cả nhóm Pha-ri-sêu, vẫn dùng đồng quan Rô-ma trong thị trường chung Pa-lét-tin lúc đó. Đồng tiền này mang hình và danh hiệu hoàng đế Rô-ma, bởi vì đúc tiền là quyền của người nắm quyền tối thượng trên một dân tộc. Cho nên dùng đồng tiền Rô-ma là nhận quyền hoàng đế trên dân tộc mình. Vậy thì tất nhiên phải nộp thuế cho hoàng đế Rô-ma.
2. Cái bẫy họ giương ra nhằm hại Chúa Giê-su là : Nếu Người trả lời “Không”, nghĩa là Người không nhìn nhận công khai việc phải nộp thuế cho Xê-da, thì đúng là Người chống lại hoàng đế Rô-ma, họ sẽ tố cáo Người. Trái lại, nếu Người trả lời “Có”, nghĩa là Người công khai thừa nhận là nên nộp thuế cho Xê-da, tức là Người nhìn nhận sự đô hộ của đế quốc Rô-ma đối với đất nước Pa-lét-tin, quê hương của Người, thì Người cũng chết. Cho nên ta thấy câu trả lời của Chúa Giê-su khiến họ cứng họng : “Của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”
Những lời khen Chúa Giê-su của nhóm Pha-ri-sêu và Hê-rô-đê chỉ là giả hình, vì chỉ là những lời phỉnh phờ chứ không hề thật tâm khen ngợi, và từ đó họ đưa Chúa Giê-su vào bẫy họ giăng ra làm hại Người.
Còn chúng ta, các Ki-tô hữu, những người mang danh Chúa Giê-su, những người có Chúa Giê-su Ki-tô trong mình, chúng ta thật lòng ngợi khen, ca tụng Chúa bằng chính việc làm cụ thể trong đời sống đức tin của chúng ta, làm nhiều việc lành phúc đức, như giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh, những người đang gặp hoạn nạn cần đến sự giúp đỡ của chúng ta, làm tròn bổn phận của một người công dân đối với đất nước, đồng thời cũng làm tròn bổn phận đối với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, làm tròn bổn phận đối với Giáo Hội là người Mẹ thiêng liêng của tất cả chúng ta. Đó là cách chúng ta giới thiệu Thiên Chúa là Tình Yêu cho tất cả mọi người chưa nhận biết Chúa.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin dạy chúng con luôn biết sống trọn tình với Chúa và vẹn nghĩa với anh em.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã sống đức tin như thế nào ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Hình tượng này là của ai đây ?”
Thánh Augustinô, bài giảng 24.
“Anh em thân mến, Thiên Chúa đòi chúng ta trả lại hình ảnh Người (hình ảnh mà theo đó chúng ta đã được tác tạo). Đó chính là điều Người muốn nói cho những người Do-thái khi họ đưa Người xem một đồng bạc. Trước hết họ muốn thử Người khi hỏi Người rằng : “Xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?” để, nếu Người trả lời : được phép, thì họ có thể tố cáo Người là nhục mạ dân tộc Ít-ra-en vì muốn cho dân thần phục bằng việc đóng thuế và trở thành chư hầu dưới ách thống trị của hoàng đế. Còn nếu Người trả lời là không được phép, thì họ sẽ có thể tố cáo Người tội phát ngôn chống lại hoàng đế Xê-da, là căn cớ cho dân chúng từ chối nộp thuế mà họ phải nộp, bởi lẽ người ta đang sống dưới ách của hoàng đế. Ðức Giê-su nhìn thấy mưu mô của họ, như sự thật tìm ra điều gian dối, và Người đã làm cho họ phải chịu là chính miệng lưỡi họ gian dối. Người không dùng miệng lưỡi mình mà kết án họ, nhưng bắt chính họ phải tuyên án cho mình, như có lời chép rằng : “Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án ; và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12,37). Người nói với họ : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ đạo đức giả ! Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế !” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. Người hỏi họ : “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” Họ đáp : “Của Xê-da.” Bấy giờ, Người bảo họ : “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” Cũng như Xê-da tìm hình ảnh mình trên đồng tiền thế nào, thì Thiên Chúa cũng tìm hình ảnh của Người trong linh hồn bạn như vậy. Đấng Cứu Chuộc phán rằng : “Của Xê-da, trả về Xê-da.” Xê-da đòi bạn trả gì ? Trả hình ảnh của Xê-da. Chúa đòi bạn trả gì ? Hình ảnh Người. Nhưng hình ảnh của Xê-da thì in trên đồng tiền, hình ảnh của Thiên Chúa ở trong lòng bạn. Nếu mất đồng tiền khiến bạn phải khóc, vì bạn đã đánh mất hình ảnh Xê-da, thì gây sỉ nhục cho hình ảnh Chúa trong lòng bạn, lẽ nào điều đó lại không hề làm cho bạn phải nhỏ lệ sao ?”
2. “Hôm nay đến lượt ta làm chứng cho Tin Mừng”
(Sổ tay sinh hoạt Ngày Thế Giới Truyền Giáo).
Năm 180, tại miền đất nay là nước Tunisie, có năm phụ nữ và bảy người đàn ông là nông dân bị bắt vì là những người có đạo. Người ta ép họ chối bỏ đức tin và nhìn nhận hoàng đế Rô-ma là Chúa. Theo án lệnh, một phụ nữ trong đám đáp : “Chúng tôi kính trọng Xê-da vì là hoàng đế, nhưng chúng tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà thôi.” Tất cả đều bị kết án tử, họ là những vị tử đạo tiên khởi của Bắc Phi.
Họ làm chứng cho lời Chúa mà chúng ta vừa nghe : “Hình và danh hiệu của Xê-da, trả về Xê-da”, vì đồng tiền này là dấu hiệu sự tổ chức xã hội mà con người tham dự vào, tỉ dụ như việc nộp thuế, “nhưng con người được tạo dựng theo hình ảnh Chúa” (St 1,26-27) và mang danh hiệu : Con thuộc về Chúa (Is 44,5), nên phải trả về Chúa …
Đây chẳng qua là một thí dụ xưa rồi, nhưng ta có thể tìm ra vô vàn những mẫu tương đương trong tất cả lịch sử Ki-tô giáo, cho tới thời hiện đại …
Đó chẳng phải là kết quả của việc loan báo Tin Mừng, của Lời Chúa được đón nhận có sức làm biến đổi đời sống con người như đã thể hiện nơi Giáo Hội trẻ trung ở Thê-xa-lô-ni-ca mà thánh Phao-lô nói tới đó sao ? Chính ngài, ngài biết rõ mình được sai đi rao giảng bí ẩn của Thiên Chúa mà Đức Giê-su đã mặc khải … Nhưng điều làm cho thánh nhân vui mừng là được thấy sống dậy một cộng đồng các người nam nữ mà đời sống của họ được đổi mới nhờ việc họ đón nhận Tin Mừng này. Họ có một lòng tin sống động, một lòng mến tích cực và một lòng cậy trông vững vàng như ta thấy thánh Tông Đồ nói về họ. Những cộng đồng này, đến lượt mình, trở thành những nhân chứng giúp mở ra những hàng rào xã hội trong đó con người có nguy cơ bị giam hãm. Những cộng đồng này móc nối với cộng đồng kia lần lượt nổi lên như những hoa trái của Lời Đức Giê-su, trở thành một chuỗi các mắt xích, đã dần dần thể hiện một sự hiệp thông các Giáo Hội địa phương và đó chính là Giáo Hội của Chúa trong thế giới. Các Giáo Hội ấy cùng nhau thực thi Lời Chúa : “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa …”