
NỘI DUNG
Dẫn nhập tổng quát:
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam thường được trình bày dưới hai lăng kính quen thuộc: lịch sử Giáo hội và lịch sử chính trị. Trong cách tiếp cận ấy, các thừa sai chủ yếu được nhìn như những người loan báo Tin Mừng hoặc như những nhân vật liên quan đến những biến động chính trị của từng thời kỳ[1]. Tuy nhiên, nếu tiếp cận từ góc nhìn lịch sử văn hóa, chúng ta sẽ nhận ra một chiều kích khác không kém phần quan trọng: các thừa sai còn là những nhà kiến tạo văn hóa.
Thật vậy, từ đầu thế kỷ XVII và những thế kỷ tiếp theo, các nhà truyền giáo thuộc Dòng Tên, Hội Thừa sai Paris (MEP), Dòng Đa Minh, Phanxicô, Augustinô, Biển Đức, Xitô và nhiều hội dòng nam nữ khác (Phaolô thành Chartres, Bác ái Vinh Sơn, Phan Sinh Thừa sai Đức Mẹ, Đức Bà Truyền giáo…) đã góp phần hình thành nhiều giá trị văn hóa đa dạng và bền vững cho Việt Nam. Những đóng góp ấy vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo để trở thành một phần của di sản chung của dân tộc.
Cho dù không chính xác cách “tách bạch phân minh”, một cách nào đó, chúng ta có thể quy những di sản ấy vào hai lãnh vực lớn: xây dựng con người và kiến tạo xã hội. Nói cách khác, trong lịch sử hình thành nền văn hóa của Việt Nam hay trong tiến trình lịch sử truyền giáo của dân tộc này, đất nước này, đã có một di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo.
CHƯƠNG I. DI SẢN VĂN HÓA XÂY DỰNG CON NGƯỜI
Dẫn nhập:
Trong viễn tượng Kitô giáo, con người là trung tâm và là cùng đích của mọi hoạt động văn hóa đích thực. Văn hóa không chỉ nhằm làm cho con người biết nhiều hơn, có nhiều hơn hay làm được nhiều hơn, nhưng trước hết phải giúp con người trở nên người hơn, sống đúng phẩm giá của mình và mở ra với chân lý, sự thiện, vẻ đẹp và Thiên Chúa. Vì thế, mọi hình thức văn hóa chỉ thực sự đạt tới ý nghĩa cao cả của nó khi lấy phẩm giá con người làm điểm quy chiếu và lấy sự phát triển toàn diện của con người làm một trong những tiêu chuẩn căn bản để lượng giá.
Tuy nhiên, trong viễn tượng niềm tin Kitô giáo, phẩm giá của con người không là một “giá trị tự thân” theo nghĩa là một “tạo vật ưu đẳng” trong trật tự tiến hóa (Nhân linh ư vạn vật). Sự cao cả đích thực của phẩm giá con người chính là được liên kết mật thiết với Đức Giêsu-Kitô, một vị Thiên Chúa làm người, như khẳng quyết của Tông huấn Giáo Hội tại Á châu (Ecclesia in Asia – EA):
“Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong bản tính nhân loại của Người, dân chúng tại Á Châu gặp được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi sâu sắc nhất của họ, hy vọng của họ được hoàn thành, nhân phẩm của họ được nâng cao và sự ngã lòng của họ được vượt thắng. Đức Giêsu là Tin Mừng đối với các người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi chốn, trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của sự hiện hữu và sự thật về bản tính nhân loại của mình.” (EA số 14).
Vì thế, Giáo Hội luôn xác tín: công cuộc loan báo Tin Mừng, đặc biệt, cho các dân tộc Á châu, phải là cuộc “chia sẻ và làm chứng về Đức Kitô. Bởi vì, chỉ với chọn lựa này, việc phát triển toàn diện con người, văn hóa nhân bản đích thực, mới đạt được mục đích tối hậu và thành tựu đúng nghĩa:
“Làm chứng về Đức Giêsu Kitô là công việc phục vụ cao cả nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho các dân tộc Á Châu, bởi vì việc đó đáp ứng với sự ước mong sâu xa của họ được gặp Đấng Tuyệt Đối, và nó cũng vén mở những chân lý và những giá trị bảo đảm sự phát triển toàn diện con người.” (EA số 20).
Chính trên ý nghĩa và nền tảng “quy Kitô” đó, sứ mạng của Hội Thánh luôn chọn đồng hành với con người, liên đới mật thiết với mọi thành phần nhân loại, như khẳng định dứt khoát của Công đồng Vaticanô II qua Hiến chế Mục vụ:
“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm nhận trong đáy lòng họ.” (Hiến chế Mục vụ – Gaudium et Spes = GS số 1)
Thánh Gioan Phaolô II đã diễn tả một cách nổi bật ý nghĩa này trong văn kiện đầu tiên trên ngai tòa Thánh Phêrô – Thông điệp “Đấng Cứu chuộc con người”[2] (Redemptor Hominis – RH): “Con người là con đường đầu tiên và căn bản của Hội Thánh” (RH số 14). Hội Thánh đến với con người, đồng hành với con người, loan báo Tin Mừng cho con người và phục vụ con người trong toàn bộ thực tại của họ. Do đó, có thể nói: con người vừa là gốc, vừa là con đường của sứ mạng Hội Thánh; và mọi nỗ lực của Hội Thánh trong lãnh vực văn hóa cũng phải được quy hướng về con người và phẩm giá của họ.
Trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, các thừa sai Công giáo đã không chỉ đem đến một sứ điệp tôn giáo, nhưng còn tham dự sâu rộng vào việc xây dựng con người và hình thành đời sống văn hóa. Bởi vậy, khi khảo sát di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo, không nên chỉ dừng lại ở việc thống kê những công trình hay thành tựu mà các ngài đã để lại. Điều quan trọng hơn là nhận ra con người đứng phía sau và ở phía trước những công trình ấy: con người được học hỏi, được đào tạo, được chữa lành, được phục vụ, được khai mở khả năng nhận thức và được nâng cao phẩm giá. Chính nơi đây có thể nhận ra chiều sâu nhân bản của công cuộc truyền giáo: loan báo Tin Mừng không tách khỏi việc phục vụ con người, và phục vụ con người cũng bao hàm việc góp phần xây dựng một nền văn hóa xứng đáng với con người.
“Sứ điệp Tin Mừng của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hóa của loài người sa ngã, chống lại và khử trừ các sai lầm và sự ác phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên đầy nguy hiểm của tội lỗi. Tin Mừng không ngừng thanh luyện và nâng cao phong hóa các dân tộc. Với nguồn thiên ân sung mãn, Tin Mừng như tác động từ bên trong làm cho những đức tính và nét đẹp cao quí nơi tâm hồn các dân tộc hay của từng thời đại được thêm phong phú, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô. Như thế, trong khi chu toàn bổn phận của chính mình, Giáo Hội thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hóa nhân loại, đồng thời cũng dùng mọi hoạt động, cả trong lãnh vực phụng vụ, để hướng dẫn con người đạt tới tự do nội tâm.” (GS số 58).
Từ viễn tượng ấy, Chương này sẽ lần lượt khảo sát những lãnh vực tiêu biểu trong đó di sản của các thừa sai đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần xây dựng con người Việt Nam qua 5 loại hình di sản văn hóa cụ thể sau:
– Di sản văn hóa ngôn ngữ – chữ viết.
– Di sản văn hóa giáo dục – đào tạo.
– Di sản văn hóa nội tâm – cầu nguyện.
– Di sản văn hóa bác ái – phục vụ.
– Di sản văn hóa trung thành và chứng tá đức tin.
Nên nhớ, nhìn lại các di sản ấy hôm nay không chỉ là một công việc của ký ức hay lịch sử. Đó còn là một cách nhận ra rằng mọi nền văn hóa đích thực đều phải trở thành văn hóa vì con người, và mọi hoạt động truyền giáo đích thực đều phải mang một chiều kích nhân bản sâu sắc. Chính nơi con người được xây dựng, được thăng tiến và được mở ra với chân lý và tình yêu, di sản văn hóa của các thừa sai mới biểu lộ đầy đủ ý nghĩa và giá trị của nó.
Loan báo Tin Mừng luôn gắn liền với “văn hóa ngôn ngữ- chữ viết”. Đây không là lựa chọn “tùy nghi” để “đối phó” tức thời các đòi hỏi thực tế, mà chính là một “định hướng”, một “chỉ thị” mang tính “mệnh lệnh của Huấn Quyền”, như được ghi rõ trong “MONITA AD MISSIONARIOS”[3]:
“Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã không sai các thánh Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian mà không trước tiên ban cho các ngài ơn nói các thứ tiếng (Cv 2,4). Điều đó rõ ràng cho thấy sứ vụ rao giảng kéo theo sự cần thiết học các thứ tiếng, bởi vì Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của Ngài, đã muốn rằng đức tin lan truyền bằng phương thức rao giảng. Thật vậy, “Ấy vậy, tin là do bởi đã được nghe, còn nghe là nhờ việc rao giảng Lời Đức Kitô” (Rm 2,17) (…). Gương thánh Phanxicô Xaviê cho thấy khá rõ: ngay cả khi được sự trợ giúp của người thông dịch khéo nhất, vị thừa sai cũng ít thành công, nếu chính ngài không tinh thông ngôn ngữ của xứ đó (Tursel., Vita S.Fr. Xav., lib. 7, c. 2).” [4].
Chọn lựa hay nguyên tắc trên được thể hiện trong suốt lịch sử Giáo Hội. Thánh Giêrônimô[5] dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh; hai thánh Cyrillô và Mêtôđiô[6] sáng tạo mẫu tự Slavơ để truyền giáo cho các dân tộc Đông Âu; giáo sĩ Dòng Tên Matteo Ricci[7] học tiếng Hán để đối thoại với giới trí thức Trung Hoa; thừa sai Dòng Tên Roberto de Nobili[8] sử dụng tiếng Tamil và tiếng Phạn trong công cuộc truyền giáo tại Ấn Độ. Tất cả đều cho thấy rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là nhịp cầu của sự gặp gỡ giữa Tin Mừng và văn hóa. (X. Tông huấn GHTAC – EA số 20).
Một trong những đóng góp bền vững nhất của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam là di sản ngôn ngữ và chữ viết. Để loan báo Tin Mừng, các thừa sai trước hết phải học tiếng bản địa, ghi chép tiếng nói, xây dựng hệ thống phiên âm, biên soạn từ điển, giáo lý, kinh nguyện và các sách phục vụ mục vụ. Chính nhu cầu truyền giáo ấy đã thúc đẩy một quá trình nghiên cứu ngôn ngữ lâu dài, từ tiếng Việt đến các ngôn ngữ Tây Nguyên và Champa. Vì thế, di sản này không thể chỉ được nhìn dưới phạm vi chữ Quốc ngữ, mà phải được đặt trong một lịch sử rộng hơn: từ việc La-tinh hóa tiếng Việt đến việc ghi âm, hệ thống hóa và bảo tồn nhiều ngôn ngữ dân tộc tại Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ gắn chặt với hoạt động truyền giáo Công giáo từ thế kỷ XVII, nhất là liên hệ mật thiết đến các nỗ lực truyền giáo qua con đường văn hóa-ngôn ngữ của các tu sĩ Dòng Tên.[9]
Thật vậy, các thừa sai Dòng Tên như Francisco de Pina, Buzomi, Cristoforo Borri, Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes…, cùng với các giáo sĩ và tín hữu Việt Nam, đã từng bước dùng mẫu tự La-tinh để ghi âm tiếng Việt. Công trình Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của Alexandre de Rhodes (1593-1666)[10], xuất bản tại Roma năm 1651, cùng với cuốn giáo lý “Phép giảng tám ngày”, đánh dấu một cột mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử này. Nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy chính các văn bản, từ điển và công trình mô tả tiếng Việt của các thừa sai đã góp phần làm nên lịch sử phát triển chính tả Quốc ngữ trong những thế kỷ đầu.
Di sản ấy tiếp tục được phát triển qua các thế hệ thừa sai thuộc MEP và cộng tác viên Việt Nam: Pigneau de Béhaine, Philipphê Bỉnh, Jean-Louis Taberd, Philipphê Phan Văn Minh, M. H. Ravier, Génibrel, Masseron, Paulus Của, Petrus Ký, …, cùng nhiều linh mục và trí thức Công giáo Việt Nam. Từ các bản chép tay, sách giáo lý, kinh nguyện đến những bộ từ điển và văn phạm, các công trình ấy từng bước chuẩn hóa cách ghi âm, mở rộng vốn từ và làm giàu khả năng diễn đạt của chữ Quốc ngữ.
Có thể nói, sự ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ là một trong những biến cố văn hóa quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam cận đại. Từ một phương tiện phục vụ truyền giáo, chữ Quốc ngữ đã từng bước trở thành nền tảng của giáo dục đại chúng, báo chí, xuất bản, văn học, nghiên cứu khoa học và truyền thông hiện đại.[11] Quá trình ấy không phải là thành quả của một cá nhân hay một biến cố đơn lẻ, mà là kết quả của sự gặp gỡ giữa nhiều truyền thống văn hóa, nhiều thế hệ thừa sai và cộng sự người Việt,[12] cùng những chuyển biến xã hội sâu rộng từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.
Nếu nhìn dưới góc độ lịch sử văn hóa, đóng góp lớn nhất của các thừa sai không chỉ là việc tham gia hình thành chữ Quốc ngữ, mà còn là việc mở đầu cho một nền văn hóa chữ viết mới, trong đó tri thức có thể được phổ biến rộng rãi hơn, việc học tập trở nên dễ tiếp cận hơn và đời sống trí thức của dân tộc bước sang một giai đoạn phát triển mới. Chính vì vậy, chữ Quốc ngữ xứng đáng được nhìn nhận như một trong những di sản văn hóa bền vững nhất mà các thế hệ thừa sai Công giáo đã góp phần trao tặng cho Việt Nam.
Chúng ta đừng quên, cách đây bảy năm (25-26/10/2019), Ủy ban Văn hóa thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã tổ chức một hội thảo chuyên đề “BỐN TRĂM NĂM HÌNH THÀNH & PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ TRONG LỊCH SỬ LOAN BÁO TIN MỪNG TẠI VIỆT NAM”.[13] Chuyên đề này cũng đã được bàn rộng với chuyên luận: BA THẾ KỶ TỪ ĐIỂN HỌC QUỐC NGỮ – DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC THỪA SAI CÔNG GIÁO.[14]
Nếu chữ Quốc ngữ là một di sản đặc biệt của quá trình các thừa sai học tiếng Việt và dùng mẫu tự La-tinh để ghi âm tiếng Việt, thì tại Tây Nguyên, một quá trình tương tự cũng đã diễn ra đối với các ngôn ngữ của các dân tộc Bahnar, Jrai, Sêđăng, Kơho, Mnông…. Các thừa sai không chỉ học tiếng bản địa để truyền giáo, mà còn từng bước phiên âm, xây dựng hệ thống chữ viết, biên soạn giáo lý, từ điển, sách học tiếng và tài liệu văn hóa. Chính từ nhu cầu mục vụ ấy đã hình thành một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa ngôn ngữ Tây Nguyên.
Sau đây là những gương mặt thừa sai tiêu biểu đã để lại những di sản văn hóa về ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc Tây Nguyên.
2.1. P. X. DOURISBOURE – người đặt nền móng cho việc ghi chép tiếng Bahnar:
Trong lịch sử ngôn ngữ học truyền giáo tại Tây Nguyên, Pierre-Xavier Dourisboure[15] (1825–1890) giữ một vị trí đặc biệt. Ngài là một trong những thừa sai đầu tiên sống lâu dài giữa người Bahnar và dành nhiều năm học hỏi, ghi chép, hệ thống hóa tiếng nói của dân tộc này.
Từ những năm đầu truyền giáo, Dourisboure đã cùng các thừa sai Jean-Pierre Combes và Fontaine học tiếng Bahnar trực tiếp với người bản địa. Từ kinh nghiệm ấy, ngài từng bước xây dựng phương pháp ghi âm tiếng Bahnar bằng mẫu tự La-tinh. Năm 1870, ngài hoàn thành thủ bản Vocabularium apud barbaros Bahnar, một từ vựng Bahnar – Việt – Pháp khoảng 265–268 trang; năm 1871, tiếp tục soạn một bản ngữ pháp tiếng Bahnar bằng tiếng La-tinh.
Đỉnh cao của công trình là Dictionnaire bahnar-français, được in tại Hồng Kông năm 1889, gồm phần dẫn nhập về phát âm, ngữ pháp và khoảng 363 trang từ vựng. Cùng năm, ngài còn có Alphabet bahnar và sách Catéchisme et prières.
Như vậy, Dourisboure không chỉ là nhà truyền giáo mà còn là một trong những người tiên phong đặt nền móng cho chữ viết và việc nghiên cứu có hệ thống tiếng Bahnar. Di sản của ngài đặc biệt quan trọng vì đã chuyển một ngôn ngữ chủ yếu tồn tại trong truyền khẩu thành đối tượng có thể ghi chép, giảng dạy, in ấn và nghiên cứu.
2.2. J.-P. COMBES – người tiên phong đưa tiếng Bahnar vào đời sống chữ viết:
Trước Dourisboure, Jean-Pierre Combes[16] (1825–1857) đã có một vai trò rất đáng kể trong giai đoạn khai mở.
Được sai đến vùng Bahnar từ năm 1850, Combes nhanh chóng học tiếng địa phương và sử dụng tiếng Bahnar trong công việc mục vụ. Ngài đã biên soạn một tập giáo lý bằng tiếng Bahnar và dịch các kinh nguyện sáng tối sang ngôn ngữ này. Đây là một đóng góp có ý nghĩa nền tảng: tiếng Bahnar không còn chỉ là phương tiện giao tiếp khẩu truyền, mà bắt đầu trở thành ngôn ngữ của giáo lý, kinh nguyện và đời sống Kitô hữu bằng văn bản. Có thể nói, nếu Combes là một trong những người khởi đầu việc đưa tiếng Bahnar vào văn bản, thì Dourisboure đã tiếp tục công việc ấy theo hướng ngữ học và từ điển học có hệ thống.
2.3. JULES ALBERTY và PAUL GUILLEMINET – giai đoạn chuẩn hóa và phát triển từ điển Bahnar:
Bước sang thế kỷ XX, công trình nghiên cứu tiếng Bahnar được tiếp tục và phát triển bởi thừa sai Jules Alberty[17] (1874–1959), cùng với Paul Guilleminet, một viên chức dân sự có chuyên môn ngôn ngữ. Công trình quan trọng của các ngài:
– Lexique français-bahnar et bahnar-français, Hà Nội, 1940, do Paul Guilleminet và R. P. Jules Alberty biên soạn, 144 trang;
– Manuel de conversation français-bahnar, do Alberty và J. Pichardie, Sài Gòn, 1944, 103 trang; về sau, công trình này được mở rộng thành Dictionnaire bahnar-français, do Guilleminet biên soạn với sự cộng tác của Alberty, xuất bản tại EFEO, Paris, 1963, gồm 2 tập, gần 1.000 trang.
Đặc biệt, Lexique français-bahnar et bahnar-français năm 1940 được biên soạn theo hệ thống chữ viết đã được chính quyền Đông Dương ấn định ngày 2.12.1935, đánh dấu một bước chuyển từ những cách ghi âm còn khác biệt của các thừa sai tiên phong sang xu hướng chuẩn hóa chữ viết các ngôn ngữ Tây Nguyên. Vì thế, Alberty có thể được xem là một trong những nhân vật quan trọng của giai đoạn kế thừa và chuẩn hóa di sản ngôn ngữ Bahnar do Combes và Dourisboure đặt nền móng.
2.4. JACQUES DOURNES: nhà dân tộc học truyền giáo – Chuyên viên Kơho – Gia-rai:
Cha Jacques Dournes[18] (1922–1993), linh mục Hội Thừa sai Paris (MEP), là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Sau khi được truyền chức năm 1945, ngài đến Việt Nam năm 1946 và dành tám năm đầu đời thừa sai để sống giữa người Sré (Kơho) ở vùng Di Linh – Đà Lạt. Từ năm 1955, ngài chuyển lên phía Bắc Tây Nguyên, sống lâu năm giữa người Jörai (J’rai). Chính việc sống lâu dài giữa lòng cộng đồng đã giúp Dournes không chỉ học tiếng địa phương để phục vụ truyền giáo, mà còn đạt tới một mức độ am hiểu sâu sắc về cấu trúc ngôn ngữ, văn hóa và thế giới tinh thần của các dân tộc này.
Đối với tiếng Sré (Kơho), công trình nổi bật nhất là Dictionnaire Sré (Köho)-Français, xuất bản tại Sài Gòn, ghi nhận khoảng 269 trang từ điển cùng phần dẫn nhập và hệ thống phiên âm. Công trình này là một tư liệu ngôn ngữ học quan trọng về tiếng Sré; sau đó Dournes còn cộng tác với Gilbert Bochet thực hiện Lexique polyglotte (vietnamien, köho, rôglai, français) (1953), mở rộng việc đối chiếu tiếng Sré/Köho với Rôglai, tiếng Việt và tiếng Pháp.
Đối với tiếng Jörai (J’rai), đóng góp của Dournes còn có ý nghĩa đặc biệt hơn. Vì khi bắt đầu sứ vụ giữa người Jörai, hầu như không có sẵn một hệ thống phiên âm và từ điển hoàn chỉnh để sử dụng, chính ngài đã phải xây dựng phương thức ghi âm và hệ thống hóa ngôn ngữ Jörai, đồng thời biên soạn Ebauche de Dictionnaire de la Langue Jörai, một bản từ điển đồ sộ gồm hơn 1.100 trang, được hình thành qua nhiều năm nghiên cứu và được lưu giữ trong các bộ sưu tập nghiên cứu về Đông Nam Á.
Điều đáng chú ý là Dournes không xem ngôn ngữ đơn thuần như một phương tiện truyền đạt giáo lý, nhưng như chìa khóa để bước vào thế giới văn hóa của một dân tộc. Chính vì thế, công trình ngôn ngữ của ngài gắn liền với việc ghi chép luật tục, truyền khẩu, thần thoại, nghi lễ, âm nhạc, cách tổ chức xã hội và thế giới biểu tượng của người Sré và Jörai. IRFA gọi ngài là một “ethnologue évangélique” – “nhà dân tộc học truyền giáo”, bởi hoạt động truyền giáo và nghiên cứu văn hóa nơi ngài bổ túc cho nhau.
Riêng về ngôn ngữ Gia-rai, cũng cần nhắc đến thừa sai NICOLAS CẬN – có thể noi, là người bước đầu xây dựng chữ viết tiếng Jrai. Nếu Dourisboure, Combes và Alberty tiêu biểu cho công trình đối với tiếng Bahnar, thì thừa sai Gabriel Nicolas hay Nicolas Cận[19] (1876–1947) là một nhân vật đáng chú ý trong lịch sử hình thành chữ viết tiếng Jrai. Trong những năm 1905–1908, khi hoạt động truyền giáo tại vùng Hà Bầu – Tiên Sơn, ngài đã dựa trên mẫu tự La-tinh, đồng thời bổ sung những dấu hiệu thích hợp cho nguyên âm để ghi lại tiếng Jrai. Ngài biên soạn Catéchisme en Jrai, gồm các phần về giáo lý căn bản, kinh nguyện và các bí tích.
2.5. JEAN CASSAIGNE – từ tiếng Kơho đến một nền văn hóa chữ viết:
Một trường hợp nổi bật khác là Giám mục Jean Cassaigne[20] (1895–1973), thừa sai MEP, hoạt động tại Djiring (Di Linh) từ năm 1927 giữa các cộng đồng Kơho/Sré. Cassaigne đã chủ động học tiếng bản địa và sử dụng tiếng Kơho trong công việc truyền giáo. Đáng chú ý nhất là các công trình: Lexique moi-annamite-français, 1929; Petit manuel de conversation courante en langue Moï, 1930; Manuel de conversation français-koho, 1935; cùng các tài liệu giáo lý và mục vụ bằng ngôn ngữ địa phương.
Đặc biệt, trong thập niên 1930, Cassaigne còn tham gia vào những nỗ lực nhằm thống nhất cách phiên âm các ngôn ngữ bản địa Tây Nguyên.
2.6. Các thừa sai Việt Nam:
Bên cạnh truyền thống ngôn ngữ học của các thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris và Giáo phận Kon Tum, cần ghi nhận thêm đóng góp của các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam trong việc bảo tồn, chuẩn hóa và phát triển ngôn ngữ – văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên, đặc biệt là Jrai và Bahnar.
Từ khi được Đức cha Paul Seitz Kim mời lên Tây Nguyên và chính thức khởi sự sứ vụ giữa người Jrai năm 1969, các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế (DCCT) đã không chỉ loan báo Tin Mừng bằng ngôn ngữ bản địa, mà còn từng bước tham gia vào việc học tiếng, biên soạn giáo lý, dịch Kinh Thánh, thánh ca và các tài liệu phụng vụ bằng tiếng Jrai. Một tư liệu về văn hóa – văn học Công giáo Tây Nguyên ghi nhận rằng năm 1973, Tân Ước tiếng Jrai do các cha DCCT dịch đã được phát hành tại Sài Gòn.
Trong tiến trình ấy, Linh mục Giuse Trần Sỹ Tín, C.Ss.R. là một nhân vật đặc biệt tiêu biểu. Ngài thuộc thế hệ bốn thừa sai đầu tiên đến với người Jrai và đã dành phần lớn đời mình cho sứ vụ này. Tác phẩm Hạt giống Kitô trong đất Jrai (2009) là một nguồn tư liệu quan trọng không chỉ về lịch sử truyền giáo mà còn về ngôn ngữ, văn hóa và đời sống tinh thần của người Jrai. Cùng với cha Trần Sỹ Tín, Linh mục Phêrô Nguyễn Đức Mầu (Hoàng Đức) cũng tham gia nhóm dịch thuật Kinh Thánh từ tiếng Việt sang tiếng Jrai; đồng thời những bài thánh ca của ngài được sáng tác trong bối cảnh đời sống và ngôn ngữ Jrai, góp phần đưa ngôn ngữ bản địa vào đời sống phụng vụ và văn hóa Công giáo. Cũng phải kể đến linh mục Ngô Đình Phán và các thế hệ thừa sai DCCT tiếp theo đã tiếp tục công việc dịch thuật và phổ biến Kinh Thánh Jrai. Tư liệu của DCCT cho biết trong những năm 1990–2000, các bản Tân Ước Jrai được tiếp tục sao chụp và phổ biến; về sau, một số linh mục DCCT cùng cha Trần Sỹ Tín còn hiệu đính bản Tân Ước và tiếp tục dịch Cựu Ước, trong đó phải cập nhật nhiều từ ngữ để phù hợp hơn với văn hóa Jrai.
-
Di sản văn hóa ngôn ngữ Champa:
Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Champa, linh mụcGérard Moussay[21](1932-2012) là một khuôn mặt đặc biệt. Trong thời gian phục vụ tại vùng Phan Rang – nơi tập trung đông đảo cộng đồng Chăm, ngài không chỉ quan tâm đến đời sống mục vụ, mà còn dành nhiều công sức học tiếng Chăm, sưu tầm văn bản, hệ thống hóa ngôn ngữ, bảo tồn các bản văn cổ và giới thiệu kho tàng văn học Chăm với giới nghiên cứu quốc tế.
Đóng góp của Gérard Moussay đặc biệt nổi bật qua ba công trình tiêu biểu, được thực hiện liên tiếp trong những năm 1971–1975:
3.1. Dictionnaire cam-vietnamien-français (Từ điển Chăm–Việt–Pháp, 1971):
Đây là công trình quan trọng nhất về phương diện ngôn ngữ học thực hành. Tác phẩm do Trung tâm Văn hóa Chăm tại Phan Rang xuất bản năm 1971, gồm phần từ điển và hệ thống mục lục, tra cứu khá phong phú. Điểm đáng chú ý là công trình không đơn thuần là một bảng đối chiếu từ ngữ. Nó góp phần ghi nhận, hệ thống hóa và chuẩn hóa vốn từ Chăm, đồng thời tạo cầu nối giữa ba ngôn ngữ Chăm – Việt – Pháp. Công trình được biên soạn với sự cộng tác của một số trí thức Chăm như Nai Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đặng Năng Phương, Lưu Quang Sáng, Lâm Gia Tĩnh và những người khác. Vì thế, Dictionnaire cam-vietnamien-français có thể được xem như một mốc quan trọng trong tiến trình bảo tồn tiếng Chăm bằng phương pháp ngôn ngữ học hiện đại, tương tự như truyền thống từ điển học mà các thừa sai Công giáo đã thực hiện đối với tiếng Việt từ thế kỷ XVII.
3.2. Khao-luc Nguyên-cao chàm – Archives des manuscrits cam (1974):
Nếu công trình năm 1971 tập trung vào ngôn ngữ, thì công trình năm 1974 chuyển sang một lĩnh vực rộng hơn: bảo tồn di sản văn bản Chăm. Khao-lục nguyên-cảo Chàm (Archives des manuscrits cam) được Trung tâm Văn hóa Chăm tại Phan Rang thực hiện dưới sự chỉ đạo của Gérard Moussay, gồm hai tập. Tập I giới thiệu Akayet Dewa Mano cùng ba truyện Chăm; tập II tập trung vào các văn bản về nghi lễ trừ tà, giải mộng và nghi thức thanh tẩy. Giá trị của công trình nằm ở chỗ những bản văn vốn lưu truyền trong cộng đồng được sưu tập, ghi chép và lưu giữ dưới dạng tư liệu, giúp chúng không bị mai một theo thời gian. Đây chính là một hình thức bảo tồn “ký ức văn hóa” của dân tộc Chăm: không chỉ bảo tồn tiếng nói, mà còn bảo tồn thế giới quan, tín ngưỡng, phong tục và văn chương được chứa đựng trong các bản thảo.
3.3. Akayet Deva Mano (1975):
Đây là bước phát triển cao hơn của công trình nghiên cứu văn bản Chăm. Gérard Moussay đã phiên âm, dịch và chú giải sử thi Akayet Deva Mano, một tác phẩm được xem là một trong những kiệt tác của văn học Chăm. Chính việc sưu tầm và nghiên cứu những bản văn này giúp đưa một bộ phận quan trọng của văn học Chăm từ phạm vi truyền khẩu và bản thảo cộng đồng vào lĩnh vực nghiên cứu học thuật.
Bên cạnh ba công trình chủ yếu này, Moussay còn có những nghiên cứu liên quan như Văn minh sắc tộc Chàm (1974), Pram Dit Pram Lak: la geste de Rama dans la littérature cam (1974), và sau đó cộng tác trong Essai de translittération raisonnée du cam (1977), góp phần vào việc nghiên cứu và xây dựng phương pháp chuyển tự tiếng Chăm.
-
DI SẢN VĂN HÓA GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO:
Trong lịch sử nhân loại, truyền giáo và giáo dục luôn có một mối tương quan mật thiết. Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, việc loan báo Tin Mừng không chỉ nhằm truyền đạt một tín điều, mà còn hướng đến việc đào luyện toàn diện con người theo hình ảnh của Đức Kitô. Vì thế, ở bất cứ nơi nào Giáo hội hiện diện, nơi ấy sớm xuất hiện các trường học, thư viện, chủng viện và những trung tâm đào tạo. Truyền giáo luôn đi đôi với giáo dục; giáo dục trở thành phương thế để Tin Mừng thấm nhập vào văn hóa và đồng thời góp phần nâng cao phẩm giá con người.
“Giáo Hội có trách nhiệm giáo dục với một lý do đặc biệt, không những vì Giáo Hội là một cộng đồng nhân loại phải được thừa nhận là có khả năng giáo dục, nhưng nhất là vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan truyền cho mọi người biết con đường cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn lo lắng giúp họ đạt tới sự sống viên mãn trong Người. Bởi vậy, Giáo Hội như người mẹ có nhiệm vụ bảo đảm một nền giáo dục để giúp cho đời sống con cái được thấm đẫm tinh thần của Chúa Kitô, đồng thời cũng cộng tác với mọi dân tộc để cổ võ cho việc hoàn thiện hoá con người toàn diện, phục vụ lợi ích của xã hội trần thế và xây dựng một thế giới mang tính nhân bản hơn” (Tuyên ngôn Giáo dục Kitô giáo – Gravissimum Educationis – số 3).
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam cũng diễn ra theo quy luật ấy. Ngay từ thế kỷ XVII, các thừa sai đã mở những lớp học đầu tiên để dạy giáo lý, đào tạo thầy giảng và huấn luyện các ứng viên linh mục. Sang thế kỷ XIX và XX, cùng với sự phát triển của các giáo phận và hội dòng, một mạng lưới trường học, chủng viện, trường nghề và cơ sở đào tạo được hình thành trên khắp đất nước. Không ít cơ sở trong số đó đã trở thành những trung tâm giáo dục có uy tín, góp phần đào tạo nhiều thế hệ trí thức, nhà giáo, linh mục, tu sĩ và những người phục vụ xã hội.
Tuy nhiên, giá trị của di sản giáo dục Công giáo không chỉ nằm ở số lượng trường học hay những thành tựu đào tạo bằng con số thống kê, nhưng quan trọng hơn đó là các thừa sai đã mang đến cho Việt Nam một quan niệm, một triết lý giáo dục mới, trong đó việc đào luyện trí tuệ luôn gắn liền với việc hình thành nhân cách, lương tâm, tinh thần phục vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng. Đó là một nền giáo dục hướng đến sự phát triển toàn diện của con người.
1.1. Truyền thống giáo dục của Giáo hội:
Từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã xem việc học hỏi là một phần thiết yếu của đời sống đức tin. Các trường giáo lý, trường nhà thờ chính tòa, các đan viện Biển Đức và Xitô, rồi các đại học trung cổ như Paris, Bologna, Oxford hay Salamanca đều minh chứng cho sự gắn bó giữa Kitô giáo và văn hóa học thuật. Các dòng tu cũng hình thành những truyền thống giáo dục đặc sắc:
– Dòng Biển Đức nhấn mạnh việc kết hợp cầu nguyện, lao động và học tập (Ora et Labora).
– Dòng Đa Minh đề cao việc nghiên cứu thần học để phục vụ việc giảng thuyết.
– Dòng Tên xây dựng hệ thống giáo dục nổi tiếng với Ratio Studiorum (1599), nhấn mạnh sự hài hòa giữa nhân văn cổ điển, khoa học, triết học, thần học và nghệ thuật hùng biện.
– Các hội dòng nữ như Thánh Phaolô Chartres, Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô, Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM), La San, các Dòng Mến Thánh Giá… phát triển mạnh việc giáo dục thiếu nhi, phụ nữ và người nghèo.
Khi đến Việt Nam, các thừa sai không mang theo một vài mô hình trường học riêng lẻ, nhưng mang theo cả một truyền thống giáo dục đã được Giáo hội vun đắp qua nhiều thế kỷ. Từ những “hạt giống” của di sản văn hóa giáo dục này đã giúp cho Giáo Hội tại Việt Nam, đã có một thời, luôn là “ngọn cờ đầu” trong lãnh vực giáo dục.
1.2. Giáo dục như một tiến trình “kiến tạo con người”:
Một trong những điểm đặc sắc của giáo dục Công giáo là không đồng nhất giáo dục với việc truyền đạt tri thức. Theo quan niệm Kitô giáo, con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi phát triển toàn diện các chiều kích của mình: trí tuệ, luân lý, đời sống thiêng liêng, khả năng lao động và trách nhiệm xã hội. Chính vì vậy, các thừa sai luôn quan tâm đến việc đào luyện nhân bản song song với việc đào tạo kiến thức. Trong các trường học Công giáo, học sinh không chỉ học đọc, học viết hay học ngoại ngữ, mà còn được rèn luyện kỷ luật, giáo dục nhân bản, đào tạo lương tâm, tinh thần cộng đồng, ý thức phục vụ, lòng trung thực và tình yêu quê hương… Có thể nói, triết lý giáo dục mà các thừa sai mang đến Việt Nam là một nền giáo dục lấy con người làm trung tâm, trong đó tri thức phải phục vụ sự trưởng thành của nhân vị.
2.1. Từ lớp giáo lý đến trường học:
Trong buổi đầu truyền giáo, các lớp giáo lý chính là những “trường học” đầu tiên của Giáo hội tại Việt Nam. Ở đó, người học không chỉ được hướng dẫn về giáo lý mà còn học đọc, học viết chữ Quốc ngữ, học kinh nguyện và những kiến thức căn bản về luân lý Kitô giáo… Chính trong các cộng đoàn nhỏ ấy, nhiều giáo lý viên và thầy giảng đã được đào tạo để trở thành những cộng sự đắc lực của các thừa sai.
2.2. Trường đào tạo thầy giảng:
Một đóng góp độc đáo của các thừa sai là việc hình thành đội ngũ thầy giảng (catechistae). Đây không chỉ là những người dạy giáo lý, mà còn là những người cộng tác trong công cuộc truyền giáo, hướng dẫn cộng đoàn, chăm sóc người bệnh, chuẩn bị phụng vụ và nhiều khi trở thành những chứng nhân anh dũng trong thời kỳ bách hại.
Việc đào tạo thầy giảng bao gồm học giáo lý, Kinh Thánh, phụng vụ, chữ Quốc ngữ, kỹ năng giảng dạy và đời sống thiêng liêng. Có thể xem đây là một trong những mô hình đào tạo giáo dân có tổ chức sớm nhất tại Việt Nam.
2.3. Sự hình thành các chủng viện:
Song song với việc đào tạo thầy giảng là việc xây dựng các chủng viện để đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ. Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, vì từ chỗ hoàn toàn lệ thuộc vào các thừa sai ngoại quốc, Giáo hội từng bước hình thành đội ngũ linh mục Việt Nam. Các chủng viện không chỉ giảng dạy thần học mà còn đào tạo triết học, Latinh, Hán văn, Quốc ngữ, lịch sử, âm nhạc phụng vụ và nhiều môn khoa học khác. Trong nhiều thời kỳ, các chủng viện là những trung tâm học thuật có trình độ cao, góp phần đào tạo nhiều nhân vật có ảnh hưởng trong đời sống văn hóa và xã hội Việt Nam.
3.1. Mô hình giáo dục của Dòng Tên: đào luyện con người toàn diện theo Ratio Studiorum:
Trong lịch sử giáo dục Công giáo, ít có văn kiện nào có ảnh hưởng sâu rộng như “Phương pháp và quy chế học tập của Dòng Tên” (Ratio atque Institutio Studiorum Societatis Iesu (1599), thường được gọi tắt là Ratio Studiorum. Các thừa sai Dòng Tên đến Việt Nam đầu thế kỷ XVII đã mang theo tinh thần giáo dục ấy. Mặc dù hoàn cảnh truyền giáo chưa cho phép thành lập những học viện quy mô như ở châu Âu, nhưng phương pháp đào tạo của các ngài vẫn phản ánh những nguyên tắc căn bản của Ratio Studiorum: kết hợp tri thức với nhân bản, đào luyện khả năng ngôn ngữ, rèn luyện tư duy phản biện, nghệ thuật diễn đạt và tinh thần phục vụ Giáo hội cũng như xã hội. Việc các giáo sĩ Dòng Tên kiên trì học tiếng Việt, biên soạn từ điển, sách giáo lý và đào tạo thầy giảng cho thấy giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn là quá trình hội nhập văn hóa. Chính tinh thần ấy đã đặt nền móng cho truyền thống học thuật của Giáo hội Việt Nam.
3.2. Dòng Đa Minh: di sản giáo dục gắn với trí thức, đức tin và đào luyện nhân bản:
Dòng Anh Em Giảng Thuyết (Đa Minh) có một truyền thống giáo dục đặc biệt gắn với việc giảng thuyết, học thuật và đào tạo nhân sự Giáo hội. Tại Việt Nam, các tu sĩ Đa Minh không chỉ hoạt động mục vụ mà còn tham gia vào việc mở trường, đào tạo chủng sinh, giáo lý viên, tu sĩ và giáo dân, đặc biệt tại những vùng truyền giáo.
Điểm đáng chú ý trong di sản Đa Minh là sự kết hợp giữa đức tin và trí thức. Giáo dục không được hiểu đơn thuần như truyền đạt giáo lý, nhưng còn là đào tạo khả năng suy tư, học hỏi Kinh Thánh, thần học, triết học và phục vụ xã hội.
Sau Vaticanô II, hướng giáo dục này càng được mở rộng: chú trọng đào tạo con người trưởng thành, đối thoại với văn hóa đương đại, đào tạo giáo dân và xây dựng người trẻ có khả năng đảm nhận trách nhiệm trong Giáo hội cũng như xã hội. Có thể xem đây là một phần của di sản giáo dục trí thức Công giáo tại Việt Nam.
3.3. Dòng La San: từ “trường học Công giáo” đến một nền giáo dục phục vụ người nghèo:
Nếu Đa Minh nổi bật về truyền thống trí thức và đào luyện, thì Dòng La San để lại một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử giáo dục Việt Nam qua hệ thống trường học. Các Sư huynh La San hiện diện tại Việt Nam từ 1866, bắt đầu với việc đảm trách trường Adran ở Sài Gòn; sau đó trở lại và phát triển mạnh hệ thống giáo dục, nổi bật là các trường Taberd (Sài Gòn), Pellerin (1904 – Bình Linh – Huế), La San Bá Ninh (1954 – Bénile – Nha Trang), trường Thánh Giuse Mỹ Tho (Saint Joseph Mỹ Tho – 1908)…
Di sản La San gồm nhiều phương diện: xây dựng kỷ luật học đường và phương pháp sư phạm; đào tạo về văn hóa, khoa học và nghề nghiệp; hình thành tinh thần trách nhiệm, tự giác và phục vụ; quan tâm đặc biệt đến giới trẻ và người nghèo; xây dựng một nền giáo dục “nhân bản và Kitô giáo”, phục vụ người nghèo. Đây là một di sản rất đáng kể của Công giáo Việt Nam: di sản văn hóa học đường. Đặc biệt, sau Vaticanô II, linh đạo La San được diễn giải ngày càng rõ theo hướng “cùng nhau và liên kết”, nghĩa là giáo dục không còn được xem là công việc riêng của các Sư huynh, nhưng là trách nhiệm của toàn thể cộng đồng giáo dục: tu sĩ, giáo viên, phụ huynh, học sinh và giáo dân.
3.4. Don Bosco: di sản giáo dục giới trẻ, nghề nghiệp và những người bị bỏ rơi:
Trường hợp Dòng Salêdiêng Don Bosco lại có một nét đặc biệt khác: giáo dục giới trẻ, nhất là thanh thiếu niên nghèo, trẻ có hoàn cảnh khó khăn và giới trẻ lao động. Tinh thần Don Bosco không chỉ là “dạy học” mà là đồng hành với người trẻ. Ba yếu tố thường được nhắc đến trong phương pháp giáo dục Salêdiêng là: lý trí – tôn giáo – lòng nhân ái, cùng với sự hiện diện gần gũi của nhà giáo dục giữa các bạn trẻ.
Sau Vaticanô II, đặc tính này càng được phát triển theo hướng giáo dục để hội nhập xã hội, đào tạo nghề, hướng nghiệp, đồng hành tâm lý – nhân bản, mục vụ giới trẻ và giúp người trẻ trở thành những chủ thể tích cực của xã hội. Thánh Gioan Phaolô II từng nhấn mạnh rằng người Salêdiêng được trao nhiệm vụ trở thành “những nhà giáo dục và loan báo Tin Mừng cho giới trẻ của thiên niên kỷ thứ ba”, đồng thời đặc biệt quan tâm đến những hình thức nghèo mới của giới trẻ, giáo dục nâng cao, di dân và sự tham gia của gia đình. Vì thế, di sản Don Bosco ở Việt Nam có thể khái quát thành: Giáo dục – hướng nghiệp – đào tạo nghề – đồng hành – loan báo Tin Mừng – hội nhập xã hội.
3.5. Mô hình đào tạo của các chủng viện Hội Thừa sai Paris (MEP): xây dựng hàng giáo sĩ bản địa:
Sau khi Tòa Thánh thiết lập hai Giáo phận Đại diện Tông tòa năm 1659, Hội Thừa sai Paris (MEP) đảm nhận một vai trò đặc biệt trong việc tổ chức nền giáo dục giáo sĩ tại Việt Nam. Điểm nhấn của mô hình MEP không nằm ở việc mở nhiều trường phổ thông, nhưng ở việc xây dựng hệ thống chủng viện và đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ.[22]
Đặc điểm nổi bật của mô hình MEP là kết hợp đời sống thiêng liêng với sự nghiêm túc học thuật và tinh thần mục vụ. Mục tiêu không chỉ là đào tạo những học giả, nhưng là những mục tử có khả năng phục vụ dân Chúa trong chính bối cảnh văn hóa Việt Nam. Nhiều chủng viện của các giáo phận sau này còn trở thành những trung tâm văn hóa, góp phần đào tạo các nhà giáo, học giả và trí thức Công giáo.
DướI ánh sáng của “Công đồng Vaticanô II, giáo dục Công giáo có thể nói được, đã “nở rộ” tại Việt “Nam Việt Nam”. Nhiều đại học được thiết lập: Minh Đức (1970), Thành Nhân (1970); trong khi Đại học Công giáo Đà Lạt (1957) càng ngày càng tăng uy tín và chất lượng đào tạo. Song song với các Đại học là các trường Trung học danh tiếng của các Giáo phận như Nguyễn Bá Tòng, Lễ Bảo Tịnh (tại thủ đô Sài Gòn), Thiên Hựu (Providence), tại Huế; và các trường Trung học danh tiếng khác trên khắp các giáo phận tại Miền Nam…
3.6. Mô hình giáo dục của các dòng nữ: đào luyện con người qua sự chăm sóc và phục vụ:
Một trong những đóng góp nổi bật của các nữ thừa sai là mở rộng giáo dục đến những đối tượng vốn ít được quan tâm trong xã hội truyền thống: trẻ em gái, trẻ mồ côi, người nghèo và người bệnh.
– Các nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres:
Các nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres xây dựng một nền giáo dục đặt trọng tâm vào việc đào luyện phụ nữ và thiếu nhi. Bên cạnh chương trình học văn hóa, các trường của hội dòng còn chú trọng giáo dục nhân bản, kỹ năng sống, kỷ luật, lòng bác ái và trách nhiệm đối với gia đình cũng như xã hội. Nhiều trường của các nữ tu đã trở thành những cơ sở giáo dục có uy tín trên khắp Việt Nam.
– Các nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM):
Đoàn sủng của các nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ mang lại một mô hình giáo dục giàu tính hội nhập và liên đới. Các trường học, ký túc xá, trung tâm đào tạo nghề và cơ sở xã hội của hội dòng luôn gắn việc học tập với việc hình thành tinh thần phục vụ, yêu mến người nghèo và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Đây là một nền giáo dục được thực hiện không chỉ qua lớp học mà còn qua chính sự hiện diện giữa những người bị bỏ quên.
– Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô:
Đối với các Nữ tử Bác ái, giáo dục và bác ái không thể tách rời nhau. Các trường học, cô nhi viện, nhà dưỡng lão và cơ sở chăm sóc bệnh nhân đều là những môi trường giáo dục nhân bản. Qua việc phục vụ người nghèo và người đau yếu, các nữ tu đào luyện nơi học sinh lòng thương xót, sự cảm thông và tinh thần trách nhiệm xã hội. Đây là một đóng góp quan trọng vào việc hình thành “văn hóa bác ái” trong đời sống Việt Nam.
– Các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá:
Là hội dòng nữ đầu tiên được thành lập trên đất Việt, Dòng Mến Thánh Giá đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử giáo dục. Từ các lớp học giáo lý đến các trường tiểu học, nội trú và trung tâm đào tạo thiếu nữ, các chị em góp phần phổ cập chữ Quốc ngữ, nâng cao dân trí và đào tạo nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam, nhất là thiếu nữ nghèo, bệnh tật thể lý cũng như tinh thần, lỡ làng yếu đuối…[23] Điều đáng quý là mô hình giáo dục của Dòng Mến Thánh Giá luôn gắn liền với đời sống gia đình và cộng đoàn địa phương, góp phần xây dựng một nền giáo dục mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.
– Các Dòng nữ khác:
Về di sản văn hóa giáo dục, không thể bỏ qua trường nữ trung học danh tiếng: Couvent des Oiseaux – Notre-Dame du Langbian, Đà Lạt (1935): trường nữ Công giáo do các nữ tu thuộc Dòng Đức Bà – Các Nữ Kinh sĩ Thánh Augustinô (Congrégation de Notre-Dame – Chanoinesses de Saint-Augustin) phụ trách; là một trong những cơ sở giáo dục nữ nổi tiếng nhất Đà Lạt thời Pháp thuộc và Việt Nam Cộng hòa, đào tạo nữ sinh Việt, Pháp, Lào, Campuchia trong môi trường giáo dục Công giáo và chương trình Pháp.
Kết
Mỗi hội dòng và mỗi truyền thống tu trì hay mỗi khu vực đặc thù mục vụ của các Giáo phận đã mang lại cho đất nước Việt Nam những mô hình giáo dục thích hợp và phong phú, phản ánh đoàn sủng đặc thù hay nhu cầu thiết thân mục vụ của địa phương của mình.
Chính sự đa dạng ấy đã tạo nên một nền văn hóa giáo dục Công giáo phong phú, trong đó mọi hình thức giáo dục đều quy hướng về cùng một mục tiêu: giúp con người phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, đời sống thiêng liêng và ý thức phục vụ xã hội. Chính nhờ môi trường giáo dục Công giáo mà đất nước Việt Nam đã có được bao nhiêu nhân tài hữu dụng, phục vụ hiệu quả trong mọi lãnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự, giáo dục, y tế, kinh doanh…
III. DI SẢN VĂN HÓA NỘI TÂM – CẦU NGUYỆN
Khác với những thành tựu vật chất dễ nhận thấy như trường học, nhà in hay bệnh viện, văn hóa nội tâm không được đo bằng số lượng công trình hay quy mô tổ chức. Đó là một di sản vô hình, được chuyển giao qua kinh nghiệm sống, qua việc hướng dẫn cầu nguyện, linh hướng, phụng vụ, đời sống cộng đoàn và truyền thống tu đức. Chính di sản này đã góp phần hình thành nơi nhiều thế hệ tín hữu Việt Nam một lối sống biết thinh lặng, biết hồi tâm, biết phân định lương tâm và biết đặt Thiên Chúa ở trung tâm của đời mình.
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam cho thấy các thừa sai không chỉ đem đến một hệ thống tín lý, nhưng còn mang theo cả kho tàng linh đạo của Giáo hội hoàn vũ: truyền thống chiêm niệm của các Giáo phụ sa mạc, linh đạo Biển Đức, Đa Minh, Phanxicô, Inhã, Xitô, Cát Minh và nhiều trường phái tu đức khác. Khi gặp gỡ tâm thức Á Đông vốn đề cao đời sống nội tâm, những truyền thống ấy không chỉ được đón nhận mà còn từng bước hội nhập, góp phần hình thành một diện mạo đặc sắc của linh đạo Công giáo Việt Nam.
1.1. Cầu nguyện: từ hành vi tôn giáo đến một nền văn hóa nội tâm:
Trong truyền thống Kitô giáo, cầu nguyện không chỉ là việc đọc kinh hay thực hành một nghi thức tôn giáo. Đó là cuộc gặp gỡ sống động giữa con người với Thiên Chúa, là nơi con người học biết chính mình, nhận ra ý nghĩa cuộc sống và định hướng mọi tương quan với tha nhân cũng như với thế giới. Vì thế, cầu nguyện không chỉ thuộc phạm vi đạo đức cá nhân mà còn góp phần hình thành nhân cách, lối sống và văn hóa của một cộng đồng.
Nhìn dưới góc độ nhân học và văn hóa học, cầu nguyện là trường học đầu tiên của đời sống nội tâm. Chính nơi cầu nguyện, con người học biết thinh lặng giữa một thế giới ồn ào, học biết lắng nghe thay vì chỉ nói, học biết phân định thay vì phản ứng vội vàng, học biết khiêm nhường thay vì tự mãn và học biết hy vọng ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Những giá trị ấy không chỉ làm phong phú đời sống tôn giáo mà còn góp phần xây dựng một nền văn hóa nhân bản.
1.2. Những thực hành cầu nguyện hình thành văn hóa nội tâm:
Các thừa sai không chỉ truyền đạt những giáo huấn về cầu nguyện mà còn hướng dẫn nhiều phương thế cụ thể giúp người tín hữu xây dựng đời sống nội tâm. Trước hết là việc đọc và suy niệm Kinh Thánh (lectio divina), giúp người tín hữu tập lắng nghe Lời Chúa và để Lời Chúa biến đổi đời sống. Tiếp đến là việc tham dự phụng vụ, đặc biệt là Thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Từ những ngày đầu truyền giáo và cho đến mãi hôm nay, với những nỗ lực không mệt mỏi, các thừa sai Công giáo, cho dù thuộc dòng hay đoàn hội nào, chung tay góp sức với mọi thành phần Dân Chúa, xây dựng các cộng đoàn phụng vụ phong phú về đức tin và trưởng thành trong giáo lý; mỗi một cộng đoàn giáo xứ hay Đan viện, tu viện, mỗi một đoàn thể Công giáo tiến hành hay hội đoàn mục vụ… đều là dấu chỉ sống động của “văn hóa nội tâm”, của một đời sống hướng thượng…
Một thực hành quan trọng khác là việc thực hành nền đạo đức bình dân do các thừa sai mang đến và sáng tạo (Tôn vinh Đức Mẹ, lần hạt Mân Côi, gẫm đàng Thánh giá, tưởng niệm Chúa Chịu nạn trong Tuần Thánh, kinh nguyện sáng tối trong gia đình…). Chính nền đạo đức bình dân này đã ăn sâu vào “cảm thức đức tin” của Dân Chúa Việt Nam.
Các thừa sai cũng khuyến khích đời sống tĩnh tâm, linh thao, linh hướng và cầu nguyện cá nhân. Những thực hành ấy góp phần hình thành nơi người tín hữu một khả năng hồi tâm, tự giáo dục bản thân và trưởng thành trong đời sống đức tin.
Nếu cầu nguyện là nền tảng của văn hóa nội tâm, thì các truyền thống linh đạo chính là những con đường cụ thể giúp con người bước vào đời sống ấy. Trong gần năm thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam, các thế hệ thừa sai không chỉ mang đến Tin Mừng, nhưng còn chuyển giao một kho tàng linh đạo phong phú đã được Giáo hội vun đắp qua nhiều thế kỷ.
2.1. Linh đạo Dòng Tên: tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự:
Ngay từ những thừa sai tiên phong như Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes, Gaspar do Amaral hay António Barbosa, Dòng Tên đã mang đến Việt Nam linh đạo của Thánh Inhã Loyola. Đặc điểm nổi bật của linh đạo Inhã là giúp con người khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống (Quaerere et invenire Deum in omnibus – tìm và gặp Thiên Chúa trong mọi sự). Cầu nguyện không tách khỏi lao động, học tập hay sứ vụ, nhưng trở thành nguồn mạch soi sáng mọi hoạt động. Một đóng góp đặc sắc khác là phương pháp Linh thao (Exercitia Spiritualia) và xét mình hằng ngày (Examen). Không chỉ là những bài thực hành thiêng liêng, đây còn là phương pháp giáo dục lương tâm, giúp con người biết hồi tâm, nhận ra tác động của ân sủng và phân định trước những chọn lựa của cuộc sống.
2.2. Linh đạo Đa Minh: chiêm niệm để trao ban chân lý:
Các thừa sai Dòng Đa Minh đem đến Việt Nam một truyền thống nội tâm được diễn tả cô đọng qua châm ngôn nổi tiếng: Contemplata aliis tradere – “trao cho người khác điều mình đã chiêm niệm”. Đối với truyền thống Đa Minh, việc học hỏi chân lý, suy niệm Kinh Thánh và cầu nguyện không nhằm thỏa mãn tri thức, nhưng để phục vụ việc rao giảng Tin Mừng. Đời sống nội tâm vì thế luôn gắn liền với việc nghiên cứu, giảng dạy và đối thoại. Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, các thừa sai Đa Minh không chỉ góp phần xây dựng các giáo phận miền Bắc và miền Trung, mà còn hình thành một truyền thống học thuật thần học, Kinh Thánh và giảng thuyết có ảnh hưởng sâu rộng. Linh đạo Đa Minh giúp nuôi dưỡng một nền văn hóa biết yêu mến chân lý, tôn trọng lý trí và lấy việc phục vụ Lời Chúa làm trọng tâm.
2.3. Linh đạo Phan Sinh: niềm vui Tin Mừng và tình huynh đệ với muôn loài:
Các thừa sai Phan Sinh đem đến Việt Nam tinh thần đơn sơ, nghèo khó và niềm vui của Tin Mừng theo gương Thánh Phanxicô Assisi. Đặc điểm nổi bật của linh đạo này là cảm thức về tình huynh đệ phổ quát. Con người không sống tách biệt khỏi thiên nhiên nhưng cùng với toàn thể thụ tạo cất lên lời ngợi khen Đấng Tạo Hóa. Chính vì thế, linh đạo Phan Sinh góp phần nuôi dưỡng nơi người tín hữu lòng yêu mến thiên nhiên, tinh thần hòa bình, khiêm nhường và phục vụ người nghèo. Qua các hội dòng Phan Sinh, đặc biệt là các nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM), linh đạo ấy còn được diễn tả bằng sự hiện diện giữa những người nghèo khổ, bệnh nhân và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Đời sống nội tâm được chứng thực bằng tình yêu cụ thể đối với con người.
2.4. Linh đạo Biển Đức và Xitô: tìm Thiên Chúa trong thinh lặng, phụng vụ và lao động:
Một trong những truyền thống nội tâm có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với Giáo hội hoàn vũ là linh đạo Biển Đức, được tiếp nối và canh tân bởi truyền thống Xitô. Trọng tâm của linh đạo này là sự quân bình giữa cầu nguyện, lao động và đọc sách thánh (Ora et Labora). Đối với các đan sĩ, đời sống nội tâm không chỉ được nuôi dưỡng bằng những giờ cầu nguyện riêng tư mà còn qua nhịp điệu phụng vụ, lao động chân tay, lectio divina, thinh lặng và đời sống cộng đoàn. Khi cha Henri Denis (Biển Đức Thuận)[24] đặt nền móng cho Đan viện Phước Sơn đầu thế kỷ XX (1918), truyền thống ấy lần đầu tiên được cắm rễ trên đất Việt. Từ đây, đời sống đan tu không chỉ trở thành một hình thức tận hiến, mà còn là một trường học của sự thinh lặng, của lao động có ý nghĩa, của việc lắng nghe Lời Chúa và của đời sống huynh đệ. Các đan viện Xitô sau này tiếp tục phát triển truyền thống ấy, làm phong phú thêm diện mạo linh đạo Việt Nam bằng một nền văn hóa chiêm niệm mang chiều sâu nhân bản và thần học.
2.5. Linh đạo Cát Minh: hành trình kết hiệp với Thiên Chúa:
Các tu sĩ và nữ tu Cát Minh mang đến Việt Nam truyền thống chiêm niệm được khai triển qua các tác phẩm kinh điển của Thánh Têrêsa Giêsu và Thánh Gioan Thánh Giá. Linh đạo Cát Minh nhấn mạnh hành trình đi vào nội tâm, thanh luyện tâm hồn và tiến đến sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Cầu nguyện được hiểu như một tương quan yêu thương, trong đó con người để cho ân sủng từng bước biến đổi toàn bộ đời sống. Trong bối cảnh Việt Nam, linh đạo này góp phần khẳng định giá trị của sự thinh lặng, của đời sống chiêm niệm và của việc ưu tiên dành thời gian cho Thiên Chúa giữa những bận rộn của cuộc sống thường nhật.
2.6. Linh đạo Dòng Mến Thánh Giá: một linh đạo mang căn tính Việt Nam:
Khác với các truyền thống được du nhập từ châu Âu, Dòng Mến Thánh Giá là hoa trái của chính công cuộc truyền giáo tại Việt Nam. Được Đức Giám mục Pierre Lambert de la Motte thành lập năm 1670 (Đàng Ngoài) và năm 1671 (Đàng Trong), hội dòng đã hình thành một linh đạo vừa trung thành với truyền thống Công giáo quy chiếu vào mầu nhiệm khổ nạn-phục sinh vừa thấm đượm tâm hồn Việt Nam. Trung tâm của linh đạo Mến Thánh Giá là mầu nhiệm Thập Giá của Đức Kitô, được sống qua cầu nguyện, hy sinh, phục vụ và dấn thân giữa lòng xã hội. Đời sống nội tâm không tách khỏi gia đình, giáo xứ hay công việc thường ngày, nhưng được nuôi dưỡng ngay trong những bổn phận bình dị. Có thể nói, đây là một một truyền thống linh đạo bản địa, trong đó Tin Mừng Đức Kitô gặp gỡ văn hóa Việt Nam và kết tinh thành một nếp sống thiêng liêng mang đậm bản sắc dân tộc.
Nếu các truyền thống linh đạo mở ra những con đường khác nhau dẫn đến đời sống nội tâm, thì đan viện chính là không gian cụ thể nơi những giá trị ấy được thể hiện và đào luyện từng ngày. Trong lịch sử Kitô giáo, đan viện không chỉ là nơi cầu nguyện của các đan sĩ, nhưng còn là một trung tâm văn hóa, giáo dục và nhân bản, nơi con người được đào luyện toàn diện qua một nếp sống hài hòa giữa cầu nguyện, lao động, học hỏi và đời sống cộng đoàn. Khi truyền thống đan tu được đưa vào Việt Nam đầu thế kỷ XX, đặc biệt qua truyền thống đan tu Biển Đức và Xitô, người Việt không chỉ tiếp nhận một hình thức đời sống thánh hiến mới, mà còn gặp gỡ một mô hình văn hóa nội tâm có cội nguồn từ hơn mười lăm thế kỷ truyền thống Kitô giáo.
3.1. Các đại diện truyền thống đan tu chiêm niệm tại Việt Nam:
3.1.1. Đan viện Phước Sơn và sự bén rễ của truyền thống đan tu tại Việt Nam:
Việc cha Henri Denis (Biển Đức Thuận) thành lập Đan viện Phước Sơn năm 1918 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đời sống đan tu Việt Nam. Lần đầu tiên, truyền thống Biển Đức – Xitô[25] được cắm rễ trên mảnh đất Việt Nam và từng bước hội nhập với văn hóa bản địa. Từ Phước Sơn, nhiều đan viện khác được hình thành, tạo nên một mạng lưới các cộng đoàn chiêm niệm hiện diện tại nhiều miền đất nước. Không chỉ là nơi đào tạo đan sĩ, các đan viện còn trở thành những không gian của cầu nguyện, tĩnh tâm, đón tiếp khách, lao động và nghiên cứu. Qua đó, truyền thống đan tu đã âm thầm góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của Giáo hội và xã hội Việt Nam.
Có thể nói, di sản lớn nhất của Phước Sơn, tức Xitô Thánh Gia Việt Nam[26], không chỉ là sự khai sinh của một gia đình đan tu, nhưng là việc giới thiệu cho Việt Nam một nền văn hóa nội tâm được xây dựng trên phụng vụ, Lời Chúa, lao động, thinh lặng và tình huynh đệ.
3.1.2. Các đan viện Biển Đức:
– Đan viện Biển Đức Thiên An – Huế (1940): một trong những trung tâm quan trọng của đời sống chiêm niệm Biển Đức tại Việt Nam. Đan viện này được hai đan sĩ Romain Guillaume và Corentin Colin, thuộc Đan viện La Pierre-qui-Vire (Pháp), thành lập ngày 10.6.1940. Đời sống đan viện được xây dựng trên nhịp sống cầu nguyện, phụng vụ, lao động và thinh lặng. Chính Thiên An về sau trở thành nơi phát sinh một số đan viện Biển Đức khác như sau:
– Đan viện Biển Đức Thiên Hòa – Ban Mê Thuột (1962): từ Thiên An, truyền thống đan tu được đưa vào Tây Nguyên, trở thành một chứng tá đặc biệt của đời sống chiêm niệm giữa một không gian truyền giáo mới.
– Đan viện Thiên Bình (Đồng Nai) và Thiên Phước (Thủ Đức) như những bước tiếp nối của truyền thống Biển Đức tại Việt Nam.
3.1.3. Các Đan viện Cát Minh và Clara (Dòng Kín):
Ở đây chú trọng tới Đan tu Cát Minh nguyên thủy (O.carm), đặc biệt nữ đan sĩ Cát Minh (Đan viện Cát Minh Têrêsa Đà Lạt; Đan viện Cát Minh Sài Gòn…).
Cũng cần thêm các tu viện thuộc Dòng kín Clara (Ordo Sanctae Clarae (OSC), Do Thánh Clara thành Assisi (1194–1253) sáng lập, một truyền thông đan tu theo linh đạo của Thánh Phanxicô Assisi.
Lịch sử không chỉ có giá trị khi kể lại những gì đã qua, nhưng còn khi giúp con người nhận ra ý nghĩa của hiện tại và định hướng cho tương lai. Sau gần năm thế kỷ hiện diện trên quê hương Việt Nam, di sản văn hóa nội tâm mà các thế hệ thừa sai Công giáo để lại vẫn không ngừng phát huy sức sống. Trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng, những giá trị ấy không những không trở nên lỗi thời, mà còn cho thấy tính thời sự và giá trị nhân văn sâu sắc.
4.1. Từ “khủng hoảng đức tin” đến “khủng hoảng nội tâm”:
Một trong những đặc điểm của xã hội đương đại là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kinh tế. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu ấy là những khủng hoảng ngày càng rõ nét về đời sống tinh thần: áp lực công việc, chủ nghĩa tiêu thụ, lối sống thực dụng, cô đơn, căng thẳng tâm lý, bạo lực, sự đổ vỡ các mối tương quan và tình trạng mất ý nghĩa cuộc sống. Nhiều nhà xã hội học và tâm lý học nhận định rằng con người hôm nay không chỉ đối diện với một cuộc khủng hoảng tôn giáo, mà sâu xa hơn là một cuộc khủng hoảng nội tâm. Khi đánh mất khả năng hồi tâm, con người cũng dần đánh mất khả năng nhận biết chính mình, lắng nghe người khác và mở lòng trước những giá trị siêu việt. Trong bối cảnh ấy, di sản văn hóa nội tâm của Kitô giáo trở thành một lời mời gọi cấp thiết đưa con người trở về với chiều sâu của chính mình.
4.2. Nghệ thuật sống chậm giữa một nền văn minh tăng tốc:
Thế giới hôm nay được đặc trưng bởi tốc độ. Công nghệ số, truyền thông tức thời và mạng xã hội khiến con người quen phản ứng nhanh hơn là suy nghĩ sâu, quen tiếp nhận thông tin hơn là nghiền ngẫm, quen kết nối kỹ thuật số hơn là gặp gỡ trực tiếp. Trước thực trạng ấy, truyền thống cầu nguyện, thinh lặng và chiêm niệm mà các thừa sai truyền lại mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó là nghệ thuật biết dừng lại để suy nghĩ, biết dành thời gian cho gia đình, cho cộng đoàn và cho Thiên Chúa; biết dành chỗ cho sự lắng nghe và đối thoại thay vì chỉ chạy theo hiệu quả và năng suất. Đây không phải là thái độ khước từ tiến bộ, nhưng là lời nhắc nhở rằng sự phát triển đích thực luôn phải đặt nền trên sự trưởng thành của con người.
4.3. Giáo dục lương tâm và trách nhiệm cá nhân:
Một xã hội văn minh không chỉ cần những công dân có trình độ chuyên môn, mà còn cần những con người có lương tâm ngay thẳng và tinh thần trách nhiệm. Qua việc cầu nguyện, xét mình, linh hướng và phân định thiêng liêng, các truyền thống linh đạo Kitô giáo đã góp phần đào luyện khả năng tự phê bình, biết nhận lỗi, biết sửa mình và biết đặt công ích lên trên lợi ích cá nhân. Đó là một đóng góp quan trọng cho việc hình thành văn hóa trách nhiệm, trung thực và liêm chính, những giá trị luôn cần thiết trong đời sống gia đình, nghề nghiệp cũng như trong việc xây dựng xã hội.
4.4. Xây dựng văn hóa đối thoại và hiệp thông:
Một trong những thách đố lớn của xã hội hiện đại là sự phân cực trong cách nghĩ, cách sống và cách ứng xử. Không ít cuộc tranh luận trên các phương tiện truyền thông hay mạng xã hội nhanh chóng trở thành những cuộc đối đầu, trong đó mỗi người chỉ muốn khẳng định quan điểm của mình mà thiếu khả năng lắng nghe. Di sản nội tâm của Kitô giáo góp phần xây dựng một nền văn hóa đối thoại, bởi người biết cầu nguyện cũng là người biết lắng nghe; người biết xét mình cũng là người biết tôn trọng người khác; người biết chiêm niệm cũng là người biết tìm kiếm chân lý trong tinh thần khiêm tốn. Đây cũng là nền tảng của tinh thần hiệp hành mà Giáo hội ngày nay đang cổ võ: cùng bước đi với nhau, cùng lắng nghe nhau và cùng phân định dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
4.5. Một đóng góp cho nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập:
Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh những cơ hội lớn về kinh tế và khoa học, đất nước cũng đứng trước nhiều thách đố về văn hóa và đạo đức. Trong bối cảnh ấy, di sản văn hóa nội tâm của các thừa sai Công giáo có thể trở thành một nguồn lực tinh thần quý giá, góp phần xây dựng một nền văn hóa phát triển hài hòa giữa tiến bộ vật chất và chiều sâu nhân bản. Những giá trị như thinh lặng, lắng nghe, phân định, trách nhiệm, hiệp thông, tha thứ và hy vọng không chỉ phục vụ đời sống Giáo hội, mà còn là những giá trị phổ quát có thể đóng góp cho toàn xã hội. Đó cũng là một minh chứng rằng việc truyền giáo trong lịch sử không chỉ làm phong phú đời sống tôn giáo của dân tộc, mà còn góp phần hình thành những giá trị văn hóa có khả năng đồng hành với tiến trình phát triển của đất nước.
Kết
Qua gần năm thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, các thế hệ thừa sai Công giáo đã để lại một di sản vô cùng phong phú về đời sống nội tâm. Bằng việc giới thiệu nghệ thuật cầu nguyện, các truyền thống linh đạo, mô hình đan tu và những phương thế đào luyện lương tâm, các ngài đã góp phần hình thành một nền văn hóa biết quý trọng chiều sâu tâm hồn, biết sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa và biết xây dựng các tương quan nhân bản bằng tình yêu, sự thật và lòng bao dung. Di sản ấy không chỉ thuộc về quá khứ, mà vẫn tiếp tục được gìn giữ và phát triển trong đời sống của Giáo hội Việt Nam hôm nay. Trong một thế giới đang đối diện với nhiều khủng hoảng về ý nghĩa cuộc sống, những giá trị mà các thế hệ thừa sai đã gieo trồng vẫn là một lời mời gọi con người trở về với chính mình, gặp gỡ Thiên Chúa và mở lòng với tha nhân. Đây là một di sản văn hóa vô hình nhưng bền vững, tiếp tục tỏa sáng như một nguồn cảm hứng cho việc xây dựng một nền văn hóa phát triển toàn diện, trong đó con người không chỉ lớn lên về tri thức và kỹ năng, mà còn trưởng thành trong lương tâm, nhân cách và đời sống thiêng liêng.
Trong toàn bộ lịch sử truyền giáo, bác ái luôn là một trong những chứng từ hùng hồn nhất của Tin Mừng. Nếu việc rao giảng giúp con người nhận biết Đức Kitô, thì những công việc bác ái làm cho tình yêu của Người trở nên hữu hình giữa lòng xã hội. Trong gần năm thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, các thế hệ thừa sai đã để lại một di sản phong phú về văn hóa bác ái. Di sản ấy được thể hiện qua việc thành lập các cô nhi viện, viện dưỡng lão, nhà nuôi người khuyết tật, các cơ sở chăm sóc bệnh nhân, những chương trình cứu trợ, cũng như qua sự phục vụ tận tâm đầy lòng nhân ái và hiện diện âm thầm của biết bao tu sĩ nam nữ giữa những người đáng thương và nghèo khổ nhất.
Trong lịch sử nhân loại, hầu như mọi tôn giáo và nền văn hóa đều khuyến khích con người biết yêu thương, giúp đỡ và cảm thông với những người gặp khó khăn. Tuy nhiên, Kitô giáo đã nâng tình yêu ấy lên một chiều kích mới khi đặt nền tảng trên chính mầu nhiệm Thiên Chúa là Tình yêu (x. 1 Ga 4,8). Vì thế, bác ái không chỉ là một đức tính luân lý hay một hành vi nhân đạo, nhưng là sự tham dự vào chính tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại, như khẳng định của tông huấn DILEXI TE[27] của Đức Giáo hoàng Lêô XIV:
Tình yêu đối với tha nhân là bằng chứng hữu hình cho thấy sự chân thực của tình yêu chúng ta dành cho Thiên Chúa, như thánh Tông đồ Gioan chứng thực: “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo… Thiên Chúa là tình yêu, ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4,12-16). Hai tình yêu này tuy khác biệt nhưng không thể tách rời. Ngay cả trong những trường hợp không có sự quy chiếu rõ ràng đến Thiên Chúa, thì chính Chúa Giêsu dạy rằng mọi hành động yêu thương dành cho tha nhân, theo một cách nào đó, đều phản ánh đức ái đối thần: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, đó là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). (Tông huấn “TA ĐÃ YÊU CON” – DILEXI TE – DT số 26).
Chính từ nền tảng thần học ấy, bác ái trở thành linh hồn của văn hóa Kitô giáo. Đó không phải là những hành động từ thiện mang tính nhất thời hay cảm tính, nhưng là một lối sống, một cách nhìn con người và một nền văn hóa lấy phẩm giá của mỗi con người làm trung tâm. Người nghèo, người đau yếu, người bị bỏ rơi hay người yếu thế không còn chỉ là đối tượng của lòng thương hại, nhưng được nhìn nhận như những anh chị em mang hình ảnh Thiên Chúa và xứng đáng được yêu thương, tôn trọng và phục vụ.
“Dưới ánh sáng Tin Mừng, chúng ta nhận ra phẩm giá lớn lao và giá trị thiêng thánh của họ trong mắt Chúa Kitô, Đấng đã sống nghèo như họ và bị loại trừ với họ. Dựa trên kinh nghiệm đức tin này, chúng ta sẽ chia sẻ với họ công việc bảo vệ các quyền của họ.” (DT số 100).
Các thế hệ thừa sai khi đến Việt Nam đã mang theo chính nền văn hóa ấy. Cùng với việc loan báo Tin Mừng, các ngài làm cho tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình qua những việc phục vụ cụ thể, từ chăm sóc bệnh nhân, giáo dục trẻ em mồ côi đến cứu trợ người nghèo và đồng hành với những người bị gạt ra bên lề xã hội. Nhờ đó, bác ái dần trở thành một trong những nét nổi bật của đời sống Công giáo tại Việt Nam.
Điều đáng chú ý là di sản bác ái của Giáo hội không phải là thành quả của một cá nhân hay một hội dòng, nhưng là kết quả của sự cộng tác giữa nhiều đoàn sủng khác nhau. Mỗi hội dòng mang một linh đạo riêng, nhưng đều gặp nhau ở một điểm: làm cho tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình qua việc phục vụ con người.
2.1. Dòng Mến Thánh Giá – những nữ thừa sai tiên phong của lòng bác ái tại Việt Nam:
Được Đức Giám mục Pierre Lambert de la Motte thành lập (năm 1670: MTG Đàng Ngoài; 1671: MTG Đàng Trong), Dòng Mến Thánh Giá là hội dòng nữ đầu tiên mang bản sắc Việt Nam và cũng là một trong những lực lượng tiên phong của nền văn hóa bác ái.
Ngay từ buổi đầu, các nữ tu Mến Thánh Giá đã hiện diện giữa các làng quê, chăm sóc người đau yếu, giáo dục thiếu nữ, dạy giáo lý, thăm viếng các gia đình và đồng hành với những người nghèo khổ. Trong những giai đoạn bách hại, chiến tranh và thiên tai, các chị vẫn âm thầm phục vụ, nhiều khi chấp nhận hiểm nguy để bảo vệ người bệnh và trẻ em.
Điều đặc biệt nơi linh đạo Mến Thánh Giá là sự kết hợp giữa chiêm niệm và hoạt động. Tình yêu đối với Đức Kitô chịu đóng đinh được diễn tả bằng sự dấn thân cụ thể cho những người đau khổ. Chính vì thế, hội dòng này đã góp phần hình thành một nền văn hóa phục vụ rất gần gũi với đời sống người Việt.
2.2. Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô – những người khai mở văn hóa chăm sóc bệnh nhân:
Nếu nói đến lịch sử bác ái tại Việt Nam, không thể không nhắc đến các nữ tu Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô. Ngay từ thế kỷ XIX, các nữ tu đã đảm nhận việc chăm sóc bệnh nhân, trẻ mồ côi, người già neo đơn và những người không nơi nương tựa. Nhiều cơ sở chăm sóc của hội dòng ra đời trước cả khi hệ thống bệnh viện hiện đại được hình thành tại một số địa phương. Tại Sài Gòn, các nữ tu đã tổ chức những cơ sở tiếp nhận và chăm sóc bệnh nhân nghèo, góp phần đặt nền móng cho một nền văn hóa điều dưỡng và phục vụ y tế theo tinh thần Kitô giáo. Bên cạnh việc chữa trị thân xác, các chị còn chăm sóc đời sống tinh thần của người bệnh bằng sự hiện diện đầy cảm thông và yêu thương. Có thể nói, các nữ tu Nữ tử Bác ái đã góp phần đưa khái niệm “phục vụ người bệnh” trở thành một sứ mạng thiêng liêng, chứ không đơn thuần là một “dịch vụ xã hội” hay một nghề nghiệp.
2.3. Các nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres – kết hợp giáo dục và bác ái:
Các nữ tu Thánh Phaolô thành Chartres đến Việt Nam không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực giáo dục, mà còn để lại dấu ấn sâu đậm trong các hoạt động bác ái. Bên cạnh việc điều hành các trường học, các chị còn mở bệnh viện, cô nhi viện, nhà dưỡng lão, bệnh xá và nhiều cơ sở xã hội khác. Linh đạo của hội dòng nhấn mạnh việc phục vụ Đức Kitô nơi những người nghèo và đau yếu, vì thế giáo dục và bác ái luôn gắn bó mật thiết với nhau. Nhờ sự hiện diện rộng khắp tại nhiều giáo phận, các nữ tu Thánh Phaolô đã góp phần đào luyện nhiều thế hệ biết sống tinh thần yêu thương, trách nhiệm và phục vụ cộng đồng.
2.4. Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (FMM) – hiện diện giữa những người bé nhỏ:
Ngay từ khi đến Việt Nam, các nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ đã chọn hiện diện giữa những người nghèo nhất, đặc biệt là bệnh nhân phong, trẻ em, phụ nữ và đồng bào ở những vùng khó khăn. Linh đạo Phan Sinh giúp các chị sống gần gũi với mọi người bằng sự đơn sơ, khiêm tốn và tinh thần huynh đệ. Các hoạt động bác ái của hội dòng không chỉ nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất trước mắt, mà còn giúp khôi phục phẩm giá và niềm hy vọng của những người yếu thế. Đây là một đóng góp quan trọng vào việc hình thành một nền văn hóa liên đới và bao dung trong xã hội Việt Nam.
2.5. Các hội dòng nam – bác ái gắn liền với sứ vụ truyền giáo:
Bên cạnh các hội dòng nữ, nhiều hội dòng nam cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực bác ái. Các thừa sai Dòng Tên, Đa Minh, Phanxicô, Chúa Cứu Thế, Don Bosco, Gioan Thiên Chúa, Camillô và nhiều hội dòng khác không chỉ loan báo Tin Mừng mà còn xây dựng trường học, bệnh xá, cô nhi viện, trung tâm xã hội và các chương trình cứu trợ. Đặc biệt, nhiều nhà truyền giáo đã sống giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số, chia sẻ đời sống với người nghèo, chăm sóc bệnh nhân, chống nạn đói và góp phần phát triển kinh tế, giáo dục cũng như đời sống cộng đồng. Đối với các ngài, bác ái không phải là một hoạt động phụ thuộc, nhưng là một phần không thể tách rời của việc loan báo Tin Mừng.
Nếu các hội dòng và các thế hệ thừa sai là những chủ thể kiến tạo văn hóa bác ái, thì các cơ sở bác ái chính là những biểu hiện cụ thể và bền vững của nền văn hóa ấy. Trên khắp đất nước Việt Nam, từ các đô thị đến những vùng truyền giáo xa xôi, các thừa sai đã xây dựng nhiều công trình phục vụ con người, đặc biệt là những người nghèo và những người bị bỏ rơi. Các công trình ấy không chỉ đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của từng thời kỳ, mà còn góp phần hình thành một nếp sống mới: biết quan tâm đến người yếu thế, biết bảo vệ phẩm giá con người và biết xây dựng xã hội trên nền tảng tình liên đới.
3.1. Nhà thương và bệnh xá – khởi đầu của văn hóa chăm sóc sức khỏe:
Một trong những đóng góp nổi bật của các thừa sai là việc tổ chức các cơ sở chăm sóc bệnh nhân ngay từ khi hệ thống y tế hiện đại tại Việt Nam còn rất sơ khai. Tại nhiều giáo phận, đặc biệt ở Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, Hà Nội và nhiều vùng truyền giáo, các nữ tu Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô, Thánh Phaolô thành Chartres, Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ cùng nhiều hội dòng khác đã mở các bệnh xá, nhà thương và cơ sở điều dưỡng để chăm sóc người bệnh nghèo, bệnh nhân phong, HIV… Điểm mới mà các thừa sai đem đến không chỉ là việc chữa trị thân xác, nhưng còn là một quan niệm hoàn toàn mới về người bệnh. Người bệnh không còn bị xem là gánh nặng của xã hội, nhưng là người cần được chăm sóc với lòng tôn trọng, yêu thương và cảm thông. Từ đó hình thành một nền văn hóa điều dưỡng mang đậm tính nhân văn, trong đó việc phục vụ người bệnh được nhìn như một sứ mạng hơn là một nghề nghiệp.
3.2. Cô nhi viện và mái ấm – bảo vệ những sự sống mong manh:
Một dấu ấn đặc biệt khác là việc thành lập các cô nhi viện, nhà nuôi trẻ bị bỏ rơi và các mái ấm dành cho trẻ em cơ nhỡ. Trong bối cảnh chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh và nghèo đói, nhiều trẻ em mất cha mẹ hoặc bị bỏ rơi đã được các hội dòng đón nhận, nuôi dưỡng và giáo dục. Các nữ tu không chỉ chăm lo cái ăn, cái mặc và việc học hành, mà còn giúp các em tìm lại mái ấm gia đình và phẩm giá của mình. Nhiều cô nhi viện do các hội dòng điều hành đã trở thành nơi khởi đầu cho cuộc đời của biết bao thế hệ, góp phần xây dựng một nền văn hóa bảo vệ trẻ em và tôn trọng sự sống ngay từ những hoàn cảnh mong manh nhất.
3.3. Nhà dưỡng lão và các cơ sở chăm sóc người khuyết tật:
Tinh thần bác ái Kitô giáo không chỉ hướng đến trẻ em, mà còn dành sự quan tâm đặc biệt cho người cao tuổi, người khuyết tật và những người không còn khả năng tự chăm sóc bản thân. Tại nhiều giáo phận, các hội dòng đã thành lập nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người khuyết tật, trường dành cho trẻ khiếm thính, khiếm thị và những cơ sở phục hồi chức năng. Những công trình ấy thể hiện một quan niệm nhân văn rất tiến bộ: giá trị của con người không phụ thuộc vào sức khỏe, tuổi tác hay khả năng lao động, nhưng bắt nguồn từ chính phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người. Nhờ đó, các thừa sai đã góp phần xây dựng một nền văn hóa tôn trọng sự sống và bảo vệ những người yếu thế trong xã hội.
3.4. Các cơ sở chăm sóc bệnh phong và những người bị gạt ra bên lề:
Trong lịch sử, bệnh phong từng là một trong những căn bệnh gây nhiều kỳ thị nhất. Không ít bệnh nhân bị cộng đồng xa lánh và phải sống trong cảnh cô lập. Nhiều thừa sai và các hội dòng đã tự nguyện đến sống giữa các bệnh nhân phong, xây dựng các khu điều trị, chăm sóc y tế, giáo dục con em của họ và đồng hành với họ trong đời sống đức tin cũng như đời sống hằng ngày. Sau đây là một số công trình thuyết minh cụ thể cho “di sản văn hóa bác ái đặc biệt” này:
– Trại phong Qui Hòa (Qui Nhơn – Bình Định): được thiết lập năm 1929 do cha Paul Maheu (MEP) làm giám đốc và các nữ tu Phan Sinh Thừa sai Đức Mẹ điều hành chăm sóc (1932).
– Trại phong Di Linh (Lâm Đồng): Do Đức cha Jean Cassaigne thiết lập năm 1928 và được nhà nước bảo hộ. Sau đó đã được các Nữ tử Bác ái Vinh Sơn tham gia phục vụ.
– Trại phong Bến Sắn (Bình Dương): Do cha Garreau (MEP) thành lập năm 1949 và các Nữ tử Bác ái Vinh Sơn tham gia phục vụ.
– Làng phong Thanh Bình (Thủ Thiêm): Do Đức cố TGM. Phaolô Nguyễn Văn Bình hỗ trợ thành lập năm 1965 trên đất của MEP giao lại cho Tổng Giáo phận. Cơ sở này không đơn thuần là nơi điều trị. Bệnh nhân có thể làm nhà, canh tác, tạo sinh kế và hình thành một cộng đồng. Vì vậy, mô hình này gần với khái niệm “làng phong” hơn là một bệnh viện thuần túy.
– Trại phong Núi Sạn (Nha Trang): Từ đầu thập niên 1950, cha Alix Bourgeois và các tu sĩ Phanxicô ở Cù Lao – Vĩnh Phước đã quy tụ những người già yếu, bệnh tật, đặc biệt bệnh nhân phong, để chăm sóc. Khi số người tăng lên, họ chuyển đến khu vực Rù Rì, lập Nhà Lạc Thiện. Đến 1963, bệnh nhân được đưa về chân Núi Sạn và hình thành Trung tâm Bài phong Hansen, với sự cộng tác của các tu sĩ Phanxicô…
3.5. Các hoạt động cứu trợ và phát triển cộng đồng:
Bên cạnh các cơ sở thường xuyên, các thế hệ thừa sai còn tích cực tham gia cứu trợ trong những giai đoạn thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh và đói kém. Nhiều giáo phận, giáo xứ và hội dòng đã tổ chức phát lương thực, thuốc men, quần áo, xây dựng nhà tình thương, giếng nước, trường học và hỗ trợ sinh kế cho các gia đình nghèo. Tại các vùng dân tộc thiểu số, các thừa sai còn hướng dẫn kỹ thuật canh tác, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và nâng cao đời sống dân sinh. Những hoạt động ấy cho thấy bác ái Kitô giáo không dừng lại ở việc cứu trợ khẩn cấp, nhưng còn hướng đến sự phát triển bền vững, giúp người nghèo từng bước tự vươn lên bằng chính khả năng của mình.
3.6. Caritas và các tổ chức bác ái trong thời đại mới:
Sau Công đồng Vaticanô II, đặc biệt từ khi Caritas Việt Nam được tái lập, các hoạt động bác ái của Giáo hội ngày càng được tổ chức một cách chuyên nghiệp và có hệ thống. Ngày nay, Caritas các giáo phận cùng với nhiều hội dòng và giáo xứ đang thực hiện nhiều chương trình về y tế, giáo dục, cứu trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, chăm sóc người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người di dân và các nạn nhân của buôn bán người. Điều đáng chú ý là các hoạt động này không chỉ nhằm giải quyết những nhu cầu trước mắt, mà còn thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, phát huy tinh thần trách nhiệm xã hội và xây dựng một nền văn hóa liên đới. Nhờ đó, truyền thống bác ái do các thế hệ thừa sai khởi xướng vẫn tiếp tục được phát triển và thích nghi với những thách đố mới của xã hội Việt Nam.
4.1. Văn hóa phục vụ
Một trong những nét đặc trưng của Kitô giáo là quan niệm quyền bính gắn liền với phục vụ. Đức Giêsu đã khẳng định: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45). Các thế hệ thừa sai đã biến giáo huấn ấy thành một lối sống. Họ đến với Việt Nam không nhằm tìm kiếm danh vọng hay lợi ích, nhưng để phục vụ con người trong mọi hoàn cảnh. Chính tinh thần ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều thế hệ tín hữu Việt Nam, hình thành nơi họ ý thức dấn thân vì cộng đồng và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với xã hội.
4.2. Văn hóa liên đới và chia sẻ:
Bác ái Kitô giáo không dừng lại ở việc giúp đỡ từng cá nhân, nhưng còn xây dựng tinh thần liên đới giữa con người với nhau. Qua các hoạt động cứu trợ thiên tai, chăm sóc người nghèo, nâng đỡ trẻ mồ côi, người già neo đơn và những người gặp khó khăn, các thừa sai đã góp phần khơi dậy một ý thức cộng đồng rất sâu sắc. Người giàu biết chia sẻ với người nghèo; người khỏe mạnh biết chăm sóc người đau yếu; cộng đoàn biết cùng nhau nâng đỡ những thành viên dễ bị tổn thương. Bác ái đã trở thành một trách nhiệm chung, một “văn hóa mang dáng đứng tình thương” của toàn thể cộng đồng.
4.3. Văn hóa tôn trọng phẩm giá con người:
Có lẽ đóng góp sâu sắc nhất của các thế hệ thừa sai chính là việc khẳng định phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người. Dù là trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, người phong cùi, người khuyết tật, người hấp hối hay người nghèo khổ nhất, tất cả đều được nhìn bằng cùng một ánh mắt yêu thương, bởi họ đều là hình ảnh của Thiên Chúa. Quan niệm ấy đã góp phần thay đổi cách nhìn của xã hội đối với nhiều nhóm người vốn bị kỳ thị hoặc bị bỏ quên. Những bệnh nhân phong được chăm sóc thay vì bị xua đuổi; trẻ em mồ côi được giáo dục thay vì bị bỏ mặc; người khuyết tật được tạo điều kiện phát triển thay vì bị xem là gánh nặng. Đó là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một nền văn hóa nhân phẩm.
4.4. Văn hóa sự sống
Một trong những đặc điểm nổi bật của các hoạt động bác ái Công giáo là luôn hướng tới việc bảo vệ và thăng tiến sự sống con người trong mọi giai đoạn. Từ việc chăm sóc thai phụ, trẻ sơ sinh, bệnh nhân, người già cho đến việc đồng hành với người hấp hối, các thế hệ thừa sai đã góp phần vun đắp một nền văn hóa sự sống, trong đó mỗi sự sống đều được đón nhận như một hồng ân của Thiên Chúa. Ngày nay, trước những thách đố mới như phá thai, buôn bán người, bạo lực gia đình, nghiện ngập hay sự cô đơn của người cao tuổi, di sản ấy vẫn tiếp tục là một nguồn cảm hứng cho nhiều sáng kiến mục vụ và xã hội để tạo nên một nền “văn hóa sự sống”.
4.5. Văn hóa bao dung và chữa lành:
Không ít người được các cơ sở bác ái Công giáo đón nhận là những người bị xã hội loại trừ: bệnh nhân phong, trẻ em đường phố, người nghiện ma túy, người nhiễm HIV/AIDS, người khuyết tật hay các nạn nhân của chiến tranh và thiên tai. Qua việc đồng hành với họ, các thừa sai đã góp phần xây dựng một nền văn hóa biết chữa lành hơn là kết án, biết mở rộng vòng tay hơn là dựng lên những hàng rào kỳ thị. Tinh thần ấy ngày nay vẫn tiếp tục được thể hiện trong các hoạt động của Caritas, các hội dòng và nhiều nhóm thiện nguyện Công giáo, góp phần xây dựng một xã hội nhân ái và bao dung hơn.
4.6. Văn hóa dấn thân vì công ích:
Điểm đáng chú ý của các thế hệ thừa sai là các ngài không chỉ phục vụ các tín hữu Công giáo, nhưng phục vụ mọi người không phân biệt tôn giáo, sắc tộc hay hoàn cảnh xã hội. Tinh thần ấy đã góp phần hình thành một nền văn hóa công ích, trong đó việc phục vụ con người không bị giới hạn bởi lợi ích nhóm hay ranh giới cộng đồng. Ngày nay, nhiều cơ sở bác ái Công giáo vẫn tiếp tục đón nhận mọi người với cùng một tinh thần ấy. Điều này cho thấy bác ái Kitô giáo luôn hướng tới việc xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và phát triển toàn diện.
Trong toàn bộ di sản tinh thần mà các thừa sai Công giáo và các thế hệ tín hữu đã để lại cho Việt Nam, có một giá trị đặc biệt cần được nhận diện rõ hơn: văn hóa bao dung, tha thứ và yêu thương, được thể hiện cách tận cùng nơi chứng tá tử đạo. Đây không chỉ là một nội dung của đời sống đạo, nhưng còn là một đóng góp văn hóa và nhân bản, bởi nó đề nghị một cách ứng xử khác trước bạo lực, thù hận và sự loại trừ.
Cốt lõi của Tin Mừng không phải là trả đũa, nhưng là yêu thương và tha thứ, kể cả đối với người làm hại mình. Lời Đức Kitô trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34), trở thành khuôn mẫu đặc biệt của nền văn hóa Kitô giáo: đối diện với sự dữ mà không để cho lòng hận thù trở thành nguyên lý chi phối con người. Trong bối cảnh lịch sử Đông Á chịu ảnh hưởng sâu đậm của các truyền thống luân lý và chính trị cổ truyền, trong đó có những biểu tượng và thực hành liên quan đến danh dự, phục thù, trung nghĩa và sát phạt, chứng tá Tin Mừng đã đưa vào đời sống xã hội một chiều kích khác: tha thứ thay cho báo oán, hòa giải thay cho trả thù, yêu thương thay cho loại trừ. Đó là một đóng góp tinh thần có ý nghĩa lâu dài: xây dựng con người biết chịu đựng mà không oán hận, tha thứ mà không đồng nghĩa với dung túng sự dữ, và tìm kiếm hòa giải thay vì kéo dài vòng xoáy trả thù.
Từ nền tảng ấy, cần hiểu đúng ý nghĩa của chứng tá tử đạo trong lịch sử Kitô giáo Việt Nam. Tử đạo trước hết không phải là tìm kiếm cái chết, càng không phải là một hình thức tự sát hay một hành vi phô diễn lòng can đảm. Họ chấp nhận cái chết vì trung thành với đức tin và vì tình yêu đối với Thiên Chúa và con người. Chính ở điểm này, chứng tá tử đạo có một nét khác biệt căn bản với những hình mẫu “cái chết anh hùng” thường được xây dựng trên nền tảng danh dự, trung nghĩa, báo thù hoặc sát phạt. Vì thế, người tử đạo có thể chết mà không nguyền rủa người hành quyết mình; có thể tha thứ cho người làm hại mình; thậm chí cầu nguyện cho họ. Cái chết ấy không khép lại bằng hận thù nhưng mở ra một khả năng hòa giải. Nơi đây, tử đạo trở thành một ngôn ngữ của tình yêu, trong đó người chứng nhân dùng chính mạng sống mình để làm chứng rằng bạo lực không phải là tiếng nói cuối cùng của lịch sử.
Lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhận nhiều thế hệ tín hữu, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân đã chịu tù đày, tra tấn và sát hại vì không từ bỏ đức tin. Các vị ấy thuộc nhiều thành phần: thừa sai ngoại quốc, linh mục Việt Nam, chủng sinh và giáo dân. Điều đáng lưu ý không chỉ là số lượng hay mức độ khốc liệt của những cuộc bách hại, nhưng còn là thái độ tinh thần của các chứng nhân trước những người bách hại mình.
Có thể nói được, 117 vị thánh tử đạo tại Việt Nam được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày 19.6.1988 đều là những “thừa sai”:
– 8 giám mục: tất cả đều là thừa sai ngoại quốc — 6 Đa Minh Tây Ban Nha và 2 MEP Pháp.
– 50 linh mục: 37 Việt Nam, 5 Đa Minh Tây Ban Nha và 8 MEP Pháp.
– 59 vị thuộc thành phần giáo dân rộng nghĩa nếu gộp 16 thầy giảng + 1 chủng sinh + 42 giáo dân.
– Một phụ nữ duy nhất trong 117 vị là Thánh Anê Lê Thị Thành (Đê), người mẹ gia đình, một chứng tá đặc biệt cho thấy tử đạo không chỉ thuộc về hàng giáo sĩ.
Ở đây nên đưa ra vài nhân chứng cụ thể nơi các thừa sai, chẳng hạn:
– Thánh Augustinô Schoeffler (Đông) (1822–1851): khi bị bắt và đứng trước án tử, ngài không nuôi hận thù đối với những người thi hành án. Điều đáng chú ý là ngay trong hoàn cảnh ấy, ngài vẫn hướng lời nói về điều thiện và hạnh phúc của người đối diện. Các tư liệu về cuộc thẩm vấn ghi lại thái độ bình tĩnh, tôn trọng của ngài trước các quan.
– Thánh Jean-Louis Bonnard (Hương) (1824–1852): trường hợp này đặc biệt giá trị cho luận đề “trung thành với đức tin nhưng không thù ghét con người”. Khi bị tra hỏi, ngài nhất quyết không khai những điều có thể gây hại cho giáo dân; ngài còn lên tiếng bảo vệ cả người đang bị đánh đập trước mặt quan.
– Thánh Théophane Vénard (Vinh) (1829–1861): trong thời gian bị giam, ngài vẫn viết những lá thư đầy bình an và niềm vui, thay vì những lời oán hận đối với những người kết án mình. Chính chứng tá này làm nổi bật chiều kích tình yêu vượt qua bạo lực…
Trong một thế giới vẫn còn bị chia rẽ bởi chiến tranh, bạo lực, cực đoan, kỳ thị và những cuộc xung đột kéo dài, chứng tá của các vị tử đạo gợi lên một chứng từ nhân bản có sức thời sự: tha thứ không phải là quên đi sự thật; bao dung không phải là phủ nhận công lý; và yêu thương không có nghĩa là chấp nhận sự dữ. Trái lại, tha thứ đích thực đòi hỏi con người đủ tự do để không trở thành tù nhân của hận thù. Chính vì vậy, chứng tá tử đạo có thể được đọc như một di sản của tự do nội tâm: người tín hữu bị tước đoạt tự do bên ngoài nhưng không để cho bạo lực chiếm đoạt tự do bên trong, tức khả năng yêu thương và tha thứ. Từ đó, chứng tá tử đạo có thể được hiểu như đỉnh cao của một nền văn hóa Tin Mừng: chết vì đức tin, nhưng không chết vì hận thù; hy sinh vì chân lý, nhưng không chống lại con người; trung thành với Thiên Chúa, nhưng vẫn yêu thương cả người làm hại mình. Đó chính là nét đặc biệt của di sản văn hóa bao dung và chứng tá đức tin mà các thừa sai và các thế hệ Kitô hữu đã góp phần gieo vào lịch sử Việt Nam.
Kết luận Chương I:
Qua năm nội dung của Chương I: XÂY DỰNG CON NGƯỜI, chúng ta nhận thấy một tiến trình thống nhất trong những đóng góp văn hóa của các thế hệ thừa sai Công giáo tại Việt Nam. Các ngài góp phần hình thành:
– một văn hóa ngôn ngữ, giúp con người diễn đạt tư tưởng và giao lưu với nhau;
– một văn hóa giáo dục, giúp con người phát triển tri thức và nhân cách;
– một văn hóa nội tâm, giúp con người khám phá chiều sâu tinh thần và tương quan với Thiên Chúa cũng như với anh em đồng loại;
– một văn hóa bác ái, giúp con người biết yêu thương và phục vụ nhau; bảo vệ và thăng tiến sự sống.
– một văn hóa bao dung và chứng tá đức tin để xây dựng chiều sâu tinh thần yêu thương, bao dung và tha thứ cho người Việt Nam.
Tất cả quy tụ về một mục tiêu duy nhất: kiến tạo con người toàn diện. Như thế, lịch sử truyền giáo Công giáo tại Việt Nam không chỉ là lịch sử của việc truyền đạt một niềm tin tôn giáo, nhưng còn là lịch sử của một cuộc gặp gỡ văn hóa sâu xa, trong đó Tin Mừng đã góp phần làm phong phú thêm những giá trị nhân văn của dân tộc. Di sản lớn nhất mà các thế hệ thừa sai để lại không chỉ là những công trình bằng đá, bằng chữ viết hay bằng những thiết chế xã hội, nhưng chính là một cái nhìn mới về con người: mỗi người đều có phẩm giá, đều đáng được yêu thương và đều cần được kính trọng, chăm sóc phục vụ.
CHƯƠNG II: DI SẢN VĂN HÓA KIẾN TẠO XÃ HỘI
DẪN NHẬP
Ngay từ buổi đầu truyền giáo, các thừa sai không chỉ loan báo Tin Mừng như một sứ điệp tôn giáo, nhưng còn góp phần hình thành những giá trị nhân văn có khả năng biến đổi đời sống cộng đồng. Bằng việc mở trường học, lập bệnh xá, xây dựng các cơ sở bác ái, cổ võ tinh thần liên đới, chăm sóc người nghèo, bảo vệ phẩm giá con người và thúc đẩy sự phát triển toàn diện, các ngài đã để lại một di sản văn hóa xã hội sâu rộng, nhiều khi vượt khỏi ranh giới của cộng đoàn Kitô hữu. Điều đáng lưu ý là những đóng góp ấy không xuất phát từ một chương trình phát triển xã hội theo nghĩa hiện đại, nhưng bắt nguồn từ chính linh đạo truyền giáo. Đối với các thừa sai, việc phục vụ con người chính là sự nối dài sứ mạng của Đức Kitô, Đấng “đã đến để cho con người được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Chính vì thế, truyền giáo luôn gắn liền với việc thăng tiến con người, chăm lo cho công ích và góp phần xây dựng một xã hội công bằng, huynh đệ và nhân bản hơn.
Ngày nay, khi Giáo Hội nói đến phát triển con người toàn diện (integral human development), người ta dễ nhận ra rằng nhiều giá trị ấy đã được các thế hệ thừa sai gieo trồng từ nhiều thế kỷ trước trên mảnh đất Việt Nam. Những thành quả đó không chỉ thuộc về lịch sử Giáo Hội, nhưng còn trở thành một phần của lịch sử văn hóa dân tộc.
Sau đây là những di sản văn hóa góp phần kiến tạo xã hội Việt Nam trải qua bao thế kỷ và hiện nay vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng một cách nhất định lên nhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam.
Trong nhiều thế kỷ, khái niệm “phát triển” thường được hiểu chủ yếu dưới góc độ kinh tế hoặc kỹ thuật. Tuy nhiên, kể từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt qua Học thuyết Xã hội Công giáo, phát triển được nhìn như sự thăng tiến toàn diện của con người và toàn thể xã hội. Đức Giáo hoàng Thánh Phaolô VI đã khẳng định trong thông điệp Populorum Progressio[28] (Phát triển các dân tộc) rằng:
Sự phát triển không chỉ nhằm nguyên việc mở mang kinh tế. Bởi vì sự phát triển đích thực là sự phát triển toàn diện, nghĩa là thăng tiến tất cả mọi người và toàn thể con người. Một chuyên viên lỗi lạc đã nói rất đúng về điều đó: “Chúng tôi không chấp nhận việc tách rời kinh tế khỏi vấn đề của con người, việc tách rời vấn đề phát triển khỏi nền văn minh liên hệ. Điều đáng kể đối với chúng ta là con người, là mỗi người, là mỗi đoàn người cho đến toàn thể nhân loại” (Populorum Progressio – PP số 14)
Cũng chính trong thông điệp về xã hội quan trọng này, Đức thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã khẳng định về công cuộc “phát triển xã hội và con người” mà các thừa sai Công giáo đã thực hiện qua suốt cuộc hành trình loan báo Tin Mừng của Hội Thánh:
“Các thừa sai của Giáo hội trong lúc xây dựng Thánh đường, cũng lo xây dựng dưỡng đường, bệnh viện, và trường học đủ các cấp. Họ dạy cho người bản xứ phương thức khai thác một cách đầy đủ những tài nguyên thiên nhiên của họ, và còn bảo vệ họ khỏi lòng tham của ngoại nhân… Có nhiều vị được kể vào số những chiến sĩ tiền phong phát động tiến bộ vật chất và văn hóa. Chỉ cần nhắc lại gương của Cha Charles de Foucauld cũng đủ. Ngài đã sống một đời yêu thương và đáng gọi là “anh em của mọi người”, chính Ngài đã soạn thảo một cuốn tự điển giá trị về tiếng Touareg. Đó là những kẻ đã được tình yêu của Chúa Kitô thúc đẩy, họ đã đi tiền phong, nhưng ít ai biết đến. Bổn phận của chúng ta là phải ca ngợi họ, cũng như phải ca ngợi những người kế tiếp họ, theo gương họ, những kẻ ngày nay còn đang phục vụ một cách đại độ và vô vị lợi, ở những nơi mà họ đến để giảng Tin mừng.” (Populorum Progressio – PP số 12)
Thực ra, rất lâu trước khi khái niệm “phát triển toàn diện” được chính thức hình thành trong giáo huấn của Giáo Hội, các thừa sai Công giáo tại Việt Nam đã sống tinh thần ấy qua những hoạt động mục vụ và xã hội cụ thể. Các ngài không chỉ xây dựng các cộng đoàn đức tin mà còn góp phần nâng cao dân trí, cải thiện đời sống, chăm sóc sức khỏe, phổ biến tri thức, tổ chức các cộng đồng ổn định và hình thành nhiều mô hình phát triển mang tính bền vững. Đóng góp ấy càng đáng quý nếu đặt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, khi đất nước liên tục trải qua chiến tranh, phân tranh, thiên tai và những biến động chính trị. Trong hoàn cảnh ấy, sự hiện diện của các thừa sai nhiều khi trở thành những “ốc đảo của hy vọng”, nơi người dân không chỉ được chăm sóc đời sống tinh thần mà còn được hỗ trợ về giáo dục, y tế, nghề nghiệp và các nhu cầu thiết yếu khác.
1.1. Đức tin đi liền với văn hóa, xã hội:
Mặc dù các thuật ngữ như “phát triển bền vững”, “phát triển toàn diện” hay “phát triển con người” chỉ xuất hiện khá muộn trong học thuật hiện đại, nhưng tinh thần ấy đã được các thừa sai Công giáo thực hành tại Việt Nam từ thế kỷ XVII. Ngay khi đặt chân đến vùng đất truyền giáo, các ngài nhanh chóng nhận ra rằng việc rao giảng Tin Mừng không thể tách rời việc nâng cao đời sống của người dân. Chính vì thế, bên cạnh việc xây dựng các cộng đoàn đức tin, các ngài còn mở trường học, dạy chữ, đào tạo giáo lý viên, phổ biến chữ Quốc ngữ, chăm sóc người bệnh, cứu trợ người nghèo, phát triển nghề nghiệp và tổ chức đời sống cộng đồng.
Các thừa sai cũng đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo nhân sự bản địa. Họ không chỉ đào tạo linh mục và tu sĩ, nhưng còn hình thành một tầng lớp giáo dân có học thức, có tinh thần trách nhiệm và có khả năng lãnh đạo cộng đồng. Điều này góp phần tạo nên những cộng đồng Kitô hữu có tính tự quản, ổn định và gắn bó, trở thành những hạt nhân phát triển xã hội ở nhiều địa phương.
Một điểm đáng chú ý là các hoạt động ấy không phân biệt người Công giáo hay không Công giáo. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, trường học, bệnh viện và các cơ sở bác ái do các thừa sai thiết lập đã phục vụ mọi tầng lớp dân cư. Chính điều này làm cho những đóng góp của các ngài vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo, trở thành một phần của di sản văn hóa và xã hội Việt Nam.
1.2. Giá trị thời sự của di sản ấy:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và những biến đổi nhanh chóng của thế kỷ XXI, khái niệm phát triển đang đứng trước nhiều thách đố: tăng trưởng kinh tế đi đôi với bất bình đẳng, tiến bộ kỹ thuật kéo theo khủng hoảng môi trường, đời sống vật chất được nâng cao nhưng nhiều giá trị nhân bản bị xói mòn. Chính trong hoàn cảnh ấy, di sản của các thừa sai Công giáo vẫn giữ nguyên giá trị định hướng. Các ngài để lại một mô hình phát triển đặt con người ở trung tâm, coi giáo dục là nền tảng, bác ái là phương pháp, liên đới là sức mạnh và công ích là mục tiêu. Đó cũng là những nguyên tắc mà Học thuyết Xã hội Công giáo tiếp tục đề cao và là những giá trị phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững của nhân loại hôm nay.
2.1. Giáo dục – Con đường ưu tiên để phát triển con người:
Trong lịch sử nhân loại, không có một nền văn minh nào phát triển bền vững mà không đặt giáo dục làm nền tảng. Đối với Kitô giáo, giáo dục không chỉ nhằm truyền đạt tri thức, nhưng còn hướng đến việc đào luyện toàn diện nhân cách, lương tâm và đời sống đạo đức của con người. Chính vì thế, ngay từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã trở thành một trong những lực lượng quan trọng nhất trong việc khai mở giáo dục tại nhiều quốc gia. Tinh thần ấy cũng được các thừa sai Công giáo mang đến Việt Nam từ rất sớm. Đối với các ngài, việc truyền giáo không thể chỉ dừng lại ở việc cử hành phụng vụ hay giảng dạy giáo lý, nhưng phải bắt đầu bằng việc giúp con người biết đọc, biết viết, biết suy nghĩ và biết sống có trách nhiệm. Giáo dục vì thế trở thành một phương thế ưu tiên để con người có thể đón nhận Tin Mừng cách tự do và trưởng thành.
Điều đáng lưu ý là trong bối cảnh Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, cơ hội học tập còn rất hạn chế và chủ yếu dành cho nam giới thuộc tầng lớp có điều kiện theo học Nho học. Trái lại, các cộng đoàn Công giáo sơ khai đã mở rộng việc học chữ cho nhiều thành phần khác nhau, trong đó có phụ nữ, trẻ em và những người bình dân. Chính sự phổ cập ấy đã góp phần tạo nên một môi trường văn hóa mới, nơi tri thức dần trở thành tài sản chung của cộng đồng chứ không còn là đặc quyền của một thiểu số.
2.2. Từ trường giáo lý đến trường học: hình thành một nền giáo dục cộng đồng:
Những “trường học” đầu tiên của các thừa sai thường xuất phát từ nhu cầu đào tạo giáo lý viên, thầy giảng và các cộng tác viên truyền giáo. Tuy nhiên, theo dòng thời gian, các lớp học này không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn dạy chữ, dạy toán, dạy luân lý và nhiều kiến thức thực dụng phục vụ đời sống. Các nhà truyền giáo, đặc biệt là các linh mục Dòng Tên, Dòng Đa Minh, Dòng Phanxicô và sau này là Hội Thừa sai Paris (MEP), đều đặc biệt chú trọng việc đào tạo người bản địa. Bên cạnh các chủng viện và nhà tập, nhiều cơ sở giáo dục được mở ra nhằm giúp thanh thiếu niên tiếp cận tri thức và rèn luyện nhân cách. Từ thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của các hội dòng nam nữ, mạng lưới trường học Công giáo ngày càng được mở rộng. Các hội dòng như Mến Thánh Giá, Dòng La San, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Đức Bà, Dòng Don Bosco và nhiều hội dòng khác đã xây dựng một hệ thống trường học từ bậc tiểu học đến trung học, góp phần đào tạo nhiều thế hệ học sinh Việt Nam, không phân biệt tôn giáo hay thành phần xã hội.
Điểm nổi bật của nền giáo dục Công giáo là sự kết hợp hài hòa giữa tri thức và nhân cách. Việc học không chỉ nhằm chuẩn bị nghề nghiệp mà còn hướng tới việc đào luyện những con người biết sống trung thực, có tinh thần phục vụ, tôn trọng sự thật và biết dấn thân vì lợi ích cộng đồng.
2.3. Chữ Quốc ngữ – Công cụ giải phóng tri thức:
Một trong những đóng góp có ý nghĩa lâu dài nhất của các thừa sai đối với tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam chính là việc hình thành và phổ biến chữ Quốc ngữ. Ban đầu, hệ thống chữ viết Latinh được các thừa sai xây dựng nhằm phục vụ công cuộc truyền giáo, giúp việc học tiếng Việt và đào tạo giáo lý trở nên thuận tiện hơn. Tuy nhiên, vượt ngoài dự định ban đầu, chữ Quốc ngữ đã trở thành một cuộc cách mạng văn hóa. So với chữ Hán và chữ Nôm vốn đòi hỏi quá trình học tập lâu dài, chữ Quốc ngữ đơn giản hơn, dễ học hơn và có khả năng phổ cập rộng rãi trong dân chúng. Chính nhờ ưu thế ấy, việc biết đọc biết viết không còn là đặc quyền của tầng lớp sĩ phu mà dần mở ra cho đông đảo người dân. Điều này góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, phát triển báo chí, xuất bản, văn học hiện đại, giáo dục phổ thông và đời sống trí thức của Việt Nam trong thế kỷ XX. Có thể nói, nếu giáo dục là động lực của phát triển thì chữ Quốc ngữ chính là phương tiện làm cho động lực ấy được lan tỏa nhanh chóng trong toàn xã hội. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho thấy một sáng kiến phục vụ truyền giáo đã trở thành tài sản chung của cả dân tộc.
2.4. Đào tạo nhân lực và hình thành tầng lớp trí thức:
Ngay từ thế kỷ XVII, các chủng viện đã trở thành những trung tâm đào tạo có hệ thống, nơi học viên được học thần học, triết học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, toán học và nhiều ngành tri thức khác. Mặc dù mục tiêu trực tiếp là đào tạo hàng giáo sĩ, nhưng mô hình giáo dục này đã góp phần hình thành một đội ngũ trí thức bản địa có trình độ học vấn cao và có khả năng đảm nhận nhiều trách nhiệm trong xã hội. Đến thời cận đại, nhiều trường Công giáo trở thành cái nôi đào tạo các nhà giáo, bác sĩ, luật gia, kỹ sư, văn nghệ sĩ và nhiều nhân vật có ảnh hưởng trong đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam. Điều đó cho thấy các cơ sở giáo dục Công giáo không chỉ phục vụ Giáo Hội mà còn đóng góp tích cực vào việc xây dựng nguồn nhân lực cho đất nước. Đặc biệt, nhiều hội dòng nữ đã tiên phong trong việc giáo dục nữ sinh vào thời điểm mà việc học của phụ nữ vẫn còn nhiều hạn chế. Đây là một đóng góp có ý nghĩa xã hội sâu sắc, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ và mở rộng cơ hội tham gia của họ vào đời sống văn hóa, giáo dục và nghề nghiệp.
2.5. Giáo dục như một di sản văn hóa phát triển:
Nhìn lại lịch sử, có thể khẳng định rằng đóng góp lớn nhất của các thừa sai trong lãnh vực giáo dục không chỉ nằm ở số lượng trường học hay học sinh được đào tạo, nhưng còn ở việc hình thành một văn hóa học tập. Đó là một nền văn hóa đề cao tri thức, tôn trọng chân lý, khuyến khích tinh thần nghiên cứu, nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm và hướng việc học đến phục vụ con người. Di sản ấy tiếp tục được kế thừa trong nhiều cơ sở giáo dục Công giáo ở Việt Nam cũng như trong hoạt động giáo dục, đào tạo và thường huấn của các giáo phận, chủng viện và hội dòng ngày nay. Hơn cả một hệ thống trường lớp, đó là một quan niệm về giáo dục lấy con người làm trung tâm, lấy chân lý làm nền tảng, lấy đức ái làm động lực và lấy công ích làm mục tiêu. Chính từ nền tảng giáo dục ấy, các thừa sai đã góp phần chuẩn bị những điều kiện căn bản cho sự phát triển lâu dài của xã hội Việt Nam. Trong ý nghĩa đó, giáo dục không chỉ là một hoạt động mục vụ, mà còn là một trong những di sản văn hóa phát triển bền vững và có ảnh hưởng sâu rộng nhất mà các nhà truyền giáo Công giáo đã để lại cho dân tộc Việt Nam.
3.1. Từ cộng đoàn đức tin đến cộng đồng xã hội: thiết chế “giáo xứ”
Một trong những đóng góp đặc sắc của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam không chỉ là việc quy tụ các tín hữu thành những cộng đoàn đức tin, mà còn là việc hình thành những cộng đồng có tổ chức, có kỷ cương và có khả năng tự quản. Trong truyền thống Công giáo, giáo xứ không đơn thuần là một đơn vị hành chính tôn giáo, nhưng là một communio – một cộng đoàn hiệp thông – nơi đức tin được sống trong những tương quan cụ thể của đời sống hằng ngày. Chính vì vậy, khi thiết lập các giáo xứ, giáo họ và các trung tâm mục vụ, các thừa sai đồng thời cũng xây dựng những thiết chế xã hội đầu tiên dựa trên các nguyên tắc của sự cộng tác, trách nhiệm và liên đới.
Bên cạnh việc cử hành các bí tích và giảng dạy giáo lý, giáo xứ còn là nơi tổ chức học tập, tương trợ kinh tế, hòa giải các tranh chấp nhỏ trong cộng đồng, chăm sóc người nghèo và điều phối các hoạt động công ích. Sự hiện diện của linh mục, các thầy giảng, các nữ tu và đội ngũ giáo dân cộng tác đã tạo nên một mạng lưới phục vụ khá hoàn chỉnh. Mỗi thành phần đảm nhận một vai trò riêng nhưng cùng hướng đến lợi ích chung của cộng đồng. Chính mô hình cộng tác này đã góp phần hình thành tinh thần đồng trách nhiệm, một giá trị mà ngày nay Công đồng Vaticanô II gọi là sự tham gia của toàn thể Dân Thiên Chúa vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội.
3.2. Văn hóa liên đới và tinh thần tương trợ:
Tinh thần bác ái Kitô giáo không dừng lại ở việc trợ giúp nhất thời, nhưng được tổ chức thành những hình thức sinh hoạt thường xuyên. Các hội đoàn, các nhóm bác ái, các tổ chức tương trợ nghề nghiệp, các quỹ giúp học sinh nghèo hay các chương trình chăm sóc người già neo đơn đều phản ánh ý thức rằng cộng đồng phải trở thành nơi nâng đỡ những người yếu thế. Điều đáng chú ý là nhiều hình thức tương trợ này đã được duy trì qua nhiều thế hệ và dần trở thành nét đẹp văn hóa của nhiều giáo xứ Việt Nam. Không ít sáng kiến bác ái được mở rộng để phục vụ cả những người ngoài Công giáo, góp phần củng cố tinh thần đoàn kết trong cộng đồng địa phương.
3.3. Kỷ cương cộng đồng và ý thức trách nhiệm công dân:
Một đặc điểm khác của các cộng đồng Công giáo do các thừa sai xây dựng là việc đề cao kỷ luật và tinh thần trách nhiệm. Những quy ước của giáo xứ, các quy chế hội đoàn, việc phân công trách nhiệm trong các sinh hoạt chung và ý thức giữ lời cam kết đã góp phần hình thành một nếp sống có tổ chức và ổn định. Dĩ nhiên, cần tránh cái nhìn lý tưởng hóa. Trong lịch sử, các cộng đồng Công giáo cũng từng đối diện với những giới hạn, những xung đột nội bộ và những tác động từ hoàn cảnh chính trị – xã hội. Tuy nhiên, xét trên bình diện tổng thể, mô hình sinh hoạt cộng đồng mà các thừa sai góp phần xây dựng đã giúp nhiều giáo xứ duy trì được sự gắn kết ngay cả trong các thời kỳ bách hại, chiến tranh hay thiên tai. Hơn nữa, việc giáo dục tín hữu biết tôn trọng luật pháp chính đáng, giữ chữ tín trong các tương quan xã hội, chu toàn bổn phận đối với gia đình và cộng đồng cũng góp phần hình thành một ý thức công dân tích cực. Đây là một khía cạnh quan trọng của văn hóa phát triển, bởi sự tiến bộ của xã hội không chỉ tùy thuộc vào các thiết chế, mà còn vào phẩm chất đạo đức của những con người tham gia xây dựng các thiết chế ấy.
Kết: Di sản văn hóa phát triển và những gợi mở cho xã hội hôm nay:
Trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều xã hội đang phải đối diện với tình trạng phân mảnh cộng đồng, chủ nghĩa cá nhân và sự suy giảm niềm tin xã hội, kinh nghiệm lịch sử của các cộng đồng Công giáo tại Việt Nam vẫn mang nhiều giá trị tham khảo. Điều mà các thừa sai để lại không chỉ là những ngôi nhà thờ hay những cơ cấu tổ chức, nhưng còn là nghệ thuật xây dựng cộng đồng: biết quy tụ con người quanh những giá trị chung, biết kết hợp tự do cá nhân với trách nhiệm tập thể, biết dung hòa quyền lợi riêng với công ích và biết nuôi dưỡng sự hiệp thông bằng những thực hành cụ thể của đời sống hằng ngày. Đó cũng là một bài học có ý nghĩa đối với tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam hôm nay. Một xã hội phát triển không thể chỉ dựa trên tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ công nghệ, mà còn cần những cộng đồng có khả năng tạo dựng lòng tin, vun đắp tình liên đới và khơi dậy tinh thần tham gia của mọi người vào công ích.
Trong hành trình lịch sử của nhân loại, nghệ thuật luôn là một trong những biểu hiện cao đẹp nhất của văn hóa. Qua kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc hay thi ca, con người không chỉ diễn tả cảm xúc và khát vọng của mình, mà còn tìm cách tiếp cận những thực tại siêu việt vượt quá khả năng diễn đạt của ngôn ngữ thông thường. Vì thế, mọi nền văn minh lớn đều để lại dấu ấn của mình qua các công trình nghệ thuật, và chính nghệ thuật trở thành một trong những thước đo phản ánh chiều sâu tinh thần của một dân tộc.
Từ xác tín ấy, các thừa sai Công giáo khi đến Việt Nam không chỉ mang theo Kinh Thánh, sách giáo lý hay các bản văn phụng vụ, nhưng còn mang theo cả một truyền thống nghệ thuật đã được vun đắp qua gần hai thiên niên kỷ của Kitô giáo. Tuy nhiên, điều đáng trân trọng là các ngài không dừng lại ở việc sao chép nguyên mẫu nghệ thuật phương Tây. Qua quá trình hội nhập văn hóa lâu dài, nghệ thuật Công giáo tại Việt Nam đã từng bước tiếp nhận những yếu tố của mỹ học bản địa, tạo nên một diện mạo vừa trung thành với đức tin của Giáo Hội hoàn vũ, vừa mang đậm hồn cốt văn hóa Việt Nam.
1.1. Cái đẹp trong mặc khải Kinh Thánh:
Trong tư tưởng Kinh Thánh, cái đẹp không phải là một thực tại tách rời chân lý và điều thiện, nhưng là ánh phản chiếu của chính Thiên Chúa. Trình thuật sáng tạo nhiều lần lặp lại lời xác nhận của Thiên Chúa rằng mọi công trình Người dựng nên đều “rất tốt đẹp” (St 1,31). Cái đẹp của thế giới không chỉ nằm ở hình thức bên ngoài, nhưng trước hết phát xuất từ sự hài hòa, trật tự và mục đích mà Thiên Chúa đã ghi khắc nơi toàn thể tạo thành.
Các Thánh vịnh thường ca ngợi vẻ huy hoàng của Thiên Chúa được phản chiếu trong thiên nhiên, trong Đền Thờ và trong đời sống phụng tự của dân Chúa. Tác giả Thánh vịnh cầu nguyện:
“Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi
mọi ngày trong suốt cuộc đời,
để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
ngắm xem thánh điện huy hoang” (Tv 27,4).
Ở đây, vẻ đẹp không chỉ là đối tượng của cảm xúc thẩm mỹ, mà còn là đối tượng của chiêm niệm. Con người được dẫn từ vẻ đẹp của tạo thành đến chính Đấng là nguồn mạch của mọi vẻ đẹp.
Trong Tân Ước, Đức Giêsu Kitô mặc khải vẻ đẹp tối hậu của Thiên Chúa. Điều nghịch lý là vẻ đẹp ấy đạt tới đỉnh cao không phải trong quyền lực hay vinh quang trần thế, nhưng trong mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh. Chính tình yêu tự hiến của Đức Kitô đã làm bừng sáng một vẻ đẹp vượt lên trên mọi tiêu chuẩn thẩm mỹ thông thường: vẻ đẹp của chân lý, của lòng thương xót và của tình yêu cứu độ. Vì thế, nghệ thuật Kitô giáo không chỉ nhằm tạo nên những tác phẩm đẹp mắt, nhưng còn phải giúp con người nhận ra vẻ đẹp cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Kitô.
1.2. Cái đẹp trong truyền thông thần học – Con đường của vẻ đẹp:
Ngay từ thời các Giáo phụ, nhiều nhà thần học đã nhận ra rằng vẻ đẹp có khả năng đưa con người đến gần Thiên Chúa. Thánh Augustinô, sau hành trình dài tìm kiếm chân lý, đã thốt lên trong Tự thuật (Confessiones): “Quá muộn màng con mới yêu Ngài, ôi Vẻ Đẹp ngàn xưa mà luôn mới mẻ!” (Sero te amavi, pulchritudo tam antiqua et tam nova). Đối với ngài, mọi vẻ đẹp của thế giới đều chỉ là ánh phản chiếu của Đấng là Vẻ Đẹp tuyệt đối. Con người khi bị vẻ đẹp chân thật thu hút sẽ dần được nâng lên để gặp chính Thiên Chúa.
Tư tưởng ấy được phát triển mạnh mẽ trong truyền thống thần học trung cổ. Thánh Tôma Aquinô xem cái đẹp (pulchrum) gắn bó mật thiết với chân lý (verum) và sự thiện (bonum). Một tác phẩm nghệ thuật chỉ đạt đến vẻ đẹp đích thực khi phản ánh sự hài hòa, tính toàn vẹn và ánh sáng của chân lý.
Bước sang thời hiện đại, Huấn quyền Giáo Hội nhiều lần khẳng định lại vai trò của nghệ thuật trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Hiến chế Sacrosanctum Concilium của Công đồng Vaticanô II dành hẳn Chương VII để nói về nghệ thuật thánh, nhấn mạnh rằng Giáo Hội luôn coi nghệ thuật là một trong những hoạt động cao quý nhất của tài năng con người khi nghệ thuật quy hướng về Thiên Chúa và phục vụ phụng vụ.
Đặc biệt, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Thư gửi các nghệ sĩ (Letter to Artists, 1999), đã khẳng định:
– Giáo Hội cần đến nghệ thuật. Nghệ thuật có nhiệm vụ là làm cho thế giới tinh thần, thế giới vô hình, thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay…
– Giáo Hội đặc biệt cần đến những người có thể làm công tác ấy trong lãnh vực văn chương và tạo hình, dùng được những khả năng vô tận của các hình ảnh và sức mạnh biểu tượng của chúng. Chính Đức Kitô cũng đã sử dụng rất nhiều hình ảnh trong các bài giảng của Ngài, cho theo kịp với ước nguyện của Ngài là trở thành hình tượng của Thiên Chúa vô hình, qua mầu nhiệm Nhập Thể.
– Giáo Hội cũng cần các nhạc sĩ. Biết bao tác phẩm linh thiêng đã được sáng tác qua nhiều thế kỷ do những người có cảm thức sâu sắc về mầu nhiệm!…
– Giáo Hội cũng cần các nhà kiến trúc, vì Giáo Hội cần có những không gian cho dân Chúa tụ họp và cử hành các mầu nhiệm cứu độ…[29]
Chính trong viễn tượng ấy, thuật ngữ via pulchritudinis – con đường của vẻ đẹp – ngày càng được Giáo Hội sử dụng để chỉ một phương thế truyền giáo đặc biệt. Trước một thế giới ngày càng khó tiếp nhận những lập luận thuần lý hay những mệnh lệnh luân lý, vẻ đẹp vẫn có khả năng mở ra cõi lòng con người đối với chân lý và tình yêu của Thiên Chúa.
1.3. Nghệ thuật – Một ngôn ngữ của việc loan báo Tin Mừng:
Từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã ý thức rằng nghệ thuật có thể diễn tả những điều mà lời nói nhiều khi bất lực. Một bức tranh, một bản thánh ca, một pho tượng hay một ngôi thánh đường không chỉ làm phong phú đời sống phụng vụ, nhưng còn trở thành một “ngôn ngữ không lời” có khả năng chạm đến tâm hồn con người. Chính xác tín ấy đã định hướng hoạt động của các thừa sai tại Việt Nam. Các ngài mang theo nghệ thuật không như một yếu tố trang trí, mà như một phương thế giáo dục đức tin, một công cụ hội nhập văn hóa và một hình thức đối thoại với tâm hồn người Việt vốn rất nhạy cảm trước cái đẹp.
2.1. Nhà thờ – Không gian của đức tin và văn hóa:
Trong truyền thống Kitô giáo, nhà thờ không đơn thuần là một công trình kiến trúc hay nơi hội họp của cộng đoàn tín hữu. Đó là “nhà của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại”, là dấu chỉ hữu hình của Giáo Hội và là không gian thánh thiêng nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa qua việc cử hành phụng vụ. Vì thế, ngay từ buổi đầu Kitô giáo, kiến trúc nhà thờ luôn được xem là một hình thức thần học bằng đá, gỗ và ánh sáng, trong đó mỗi yếu tố kiến trúc đều mang một ý nghĩa biểu tượng. Các thừa sai khi đến Việt Nam cũng mang theo quan niệm ấy. Tuy nhiên, trong những thế kỷ đầu truyền giáo, điều kiện lịch sử và hoàn cảnh bách hại không cho phép xây dựng những công trình quy mô như tại châu Âu. Những nhà nguyện đầu tiên chỉ là các ngôi nhà tranh, nhà tre hoặc nhà gỗ đơn sơ, hòa lẫn với kiến trúc bản địa. Chính sự khiêm tốn ấy lại mở đầu cho một tiến trình hội nhập văn hóa đầy sáng tạo, trong đó Kitô giáo không áp đặt một mô hình kiến trúc ngoại lai, nhưng học cách diễn tả đức tin bằng ngôn ngữ không gian của người Việt.
2.2. Từ kiến trúc phương Tây đến tiến trình hội nhập văn hóa:
Trong những thế kỷ XVII và XVIII, do ảnh hưởng của các thừa sai Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Ý, nhiều yếu tố của kiến trúc Rôma, Baroque và Tân cổ điển được đưa vào các công trình Công giáo tại Việt Nam. Tuy nhiên, các yếu tố này không được sao chép nguyên mẫu mà dần thích nghi với điều kiện khí hậu, vật liệu và mỹ cảm địa phương. Khí hậu nhiệt đới với mưa nhiều, nắng gắt và độ ẩm cao khiến các nhà thờ tại Việt Nam phải có mái dốc lớn, hiên rộng, cửa thông gió và kết cấu phù hợp với điều kiện tự nhiên. Gỗ lim, gỗ mít, đá ong, gạch nung và ngói truyền thống được sử dụng phổ biến, tạo nên sự gần gũi với kiến trúc dân gian.
Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XIX và trong suốt thế kỷ XX, nhiều kiến trúc sư, linh mục và nghệ nhân Việt Nam đã chủ động đưa các yếu tố truyền thống vào kiến trúc Công giáo. Mái cong, kết cấu nhà rường, hoa văn tứ quý, tứ linh, họa tiết hoa sen, mây nước và các mô-típ trang trí dân tộc được vận dụng một cách chọn lọc, tạo nên những công trình vừa mang bản sắc Kitô giáo vừa phản ánh tâm hồn Việt Nam. Đây không chỉ là một giải pháp kiến trúc, mà còn là kết quả của một tiến trình hội nhập văn hóa. Tin Mừng không loại bỏ những giá trị thẩm mỹ của dân tộc, nhưng thanh luyện và đưa chúng vào việc diễn tả mầu nhiệm đức tin. Chính điều đó làm cho nhiều nhà thờ Việt Nam ngày nay vừa quen thuộc với người dân bản địa, vừa vẫn giữ được căn tính phụng vụ của Giáo Hội hoàn vũ.
2.3. Kiến trúc Công giáo như một hình thức đối thoại văn hóa:
Một trong những đóng góp quan trọng của các thừa sai là đã làm cho kiến trúc trở thành một phương tiện đối thoại với văn hóa bản địa. Không ít người lần đầu tiếp xúc với Kitô giáo không phải qua những bài giảng, nhưng qua vẻ đẹp của một ngôi thánh đường, sự hài hòa của không gian phụng vụ hay sự trang nghiêm của các công trình tôn giáo.
Trong quá trình ấy, nhiều yếu tố văn hóa truyền thống đã được tái diễn giải dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo. Chẳng hạn, sân nhà thờ trở thành không gian gặp gỡ của cộng đồng tương tự sân đình, nhưng được quy hướng về đời sống phụng vụ và bác ái. Tháp chuông không chỉ là điểm nhấn kiến trúc mà còn là dấu chỉ mời gọi cộng đoàn quy tụ để cầu nguyện. Quảng trường trước nhà thờ trở thành nơi diễn ra các sinh hoạt tôn giáo, văn hóa và xã hội, góp phần xây dựng sự gắn kết cộng đồng. Ở nhiều địa phương, nhà thờ còn trở thành điểm nhấn của cảnh quan làng quê Việt Nam. Cũng như mái đình, chùa hay cổng làng, tháp chuông và mái nhà thờ dần đi vào ký ức tập thể, trở thành một phần của không gian văn hóa địa phương. Điều đó cho thấy kiến trúc Công giáo đã vượt khỏi chức năng tôn giáo đơn thuần để trở thành một thành tố của di sản văn hóa dân tộc.
2.4. Những công trình tiêu biểu trong di sản kiến trúc Công giáo Việt Nam:
Lịch sử truyền giáo tại Việt Nam đã để lại nhiều công trình kiến trúc có giá trị đặc biệt về nghệ thuật, lịch sử và văn hóa. Có những công trình nổi bật bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc truyền thống Việt Nam và thần học Kitô giáo, tiêu biểu như Nhà thờ Chính tòa Phát Diệm. Được xây dựng vào cuối thế kỷ XIX, quần thể này sử dụng kết cấu gỗ, mái cong và ngôn ngữ kiến trúc đình chùa Việt Nam, nhưng toàn bộ không gian vẫn được tổ chức theo yêu cầu của phụng vụ Công giáo. Đây được xem là một trong những thành tựu tiêu biểu của tiến trình hội nhập văn hóa trong kiến trúc Kitô giáo. Bên cạnh đó là những công trình mang phong cách Gothic hoặc Romanesque như Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn và Nhà thờ Chính tòa Hà Nội. Những công trình này không chỉ có giá trị phụng vụ mà còn trở thành biểu tượng kiến trúc của các đô thị Việt Nam, góp phần làm phong phú diện mạo văn hóa và lịch sử của đất nước. Trong khi đó, Vương cung Thánh đường Đức Mẹ La Vang hiện nay lại cho thấy một tiến trình hội nhập mới sau Công đồng Vaticanô II, với ngôn ngữ kiến trúc đậm bản sắc Việt Nam, đồng thời trở thành trung tâm hành hương quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Những công trình ấy chứng minh rằng kiến trúc Công giáo tại Việt Nam không phải là sự sao chép đơn thuần từ châu Âu, nhưng đã phát triển thành một dòng kiến trúc riêng, trong đó truyền thống Kitô giáo gặp gỡ và đối thoại với tinh hoa nghệ thuật Việt Nam.
3.1. Mỹ thuật Kitô giáo – “Tin Mừng bằng hình ảnh”:
Nếu kiến trúc tạo nên không gian của đức tin, thì mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình làm cho không gian ấy trở nên sống động bằng ngôn ngữ của hình ảnh, màu sắc và biểu tượng. Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, khi đa số tín hữu chưa biết đọc, nghệ thuật đã trở thành một hình thức giáo lý trực quan. Các bích họa trong hầm mộ, các biểu tượng của Đức Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các thánh không chỉ có chức năng trang trí, mà còn chuyển tải nội dung đức tin một cách sinh động và dễ hiểu. Được giới thiệu và du nhập từ nền mỹ thuật thánh phương Tây qua các thừa sai, qua thời gian, các họa sĩ và nghệ nhân Việt Nam đã dần diễn tả các nhân vật Kinh Thánh với những đường nét gần gũi hơn với người Á Đông, sử dụng màu sắc, bố cục và ngôn ngữ tạo hình phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt. Nhờ đó, nghệ thuật trở thành một nhịp cầu nối kết giữa đức tin phổ quát của Giáo Hội và bản sắc văn hóa dân tộc.
3.2. Điêu khắc và nghệ thuật tượng thánh:
Điêu khắc là một trong những lĩnh vực phát triển phong phú của nghệ thuật Công giáo tại Việt Nam. Các pho tượng Đức Kitô chịu đóng đinh, Đức Mẹ, Thánh Giuse, các thánh Tông đồ và các vị tử đạo không chỉ hiện diện trong các nhà thờ mà còn trở thành những biểu tượng quen thuộc trong đời sống đạo của các gia đình và cộng đoàn. Các nghệ nhân Việt Nam đã nhanh chóng làm chủ kỹ thuật điêu khắc gỗ, đá và sau này là xi măng, đồng, composite… để sáng tạo nên nhiều tác phẩm mang dấu ấn riêng. Trong không ít pho tượng, người ta nhận thấy khuôn mặt, ánh mắt và phong thái của các nhân vật thánh mang những nét hiền hòa, gần gũi với con người Việt Nam. Một số tác phẩm còn thể hiện Đức Mẹ trong tà áo dài hoặc sử dụng các hoa văn truyền thống Việt Nam trên bệ tượng và các chi tiết trang trí. Điều này phản ánh một bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập văn: nghệ thuật Kitô giáo không chỉ hiện diện tại Việt Nam mà còn dần mang diện mạo Việt Nam.
3.3. Hội họa, tranh kính và nghệ thuật trang trí phụng vụ:
Bên cạnh điêu khắc, hội họa cũng góp phần quan trọng trong việc xây dựng không gian nghệ thuật của các nhà thờ. Các bức tranh về các biến cố Kinh Thánh, Đàng Thánh Giá, các chân dung thánh và những bích họa trang trí đã giúp các tín hữu chiêm niệm các mầu nhiệm cứu độ bằng ngôn ngữ của hình ảnh. Một loại hình nghệ thuật đặc sắc là tranh kính màu (stained glass). Ánh sáng xuyên qua các mảng kính nhiều màu không chỉ tạo nên vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Trong truyền thống Kitô giáo, ánh sáng tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa, còn các gam màu diễn tả niềm hy vọng, sự sống, hy sinh và vinh quang phục sinh. Vì thế, tranh kính vừa là một yếu tố kiến trúc, vừa là một tác phẩm hội họa, đồng thời cũng là một bài giáo lý bằng ánh sáng. Ngoài ra, nghệ thuật trang trí phụng vụ như bàn thờ, tòa giảng, giếng rửa tội, ngai chủ tọa, bình phong, cửa chạm, đồ kim hoàn phụng vụ, bình thánh, mặt nhật, chân nến, phẩm phục và các đồ thờ khác cũng phản ánh trình độ thủ công mỹ nghệ rất cao của nhiều thế hệ nghệ nhân Công giáo Việt Nam.
3.4. Nghệ nhân Công giáo và sự hình thành mỹ thuật Kitô giáo Việt Nam:
Nếu các nhà truyền giáo đem đến cảm hứng thần học và những mẫu hình nghệ thuật của Giáo Hội hoàn vũ, thì chính các nghệ nhân Việt Nam là những người chuyển tải các giá trị ấy bằng kỹ thuật, vật liệu và ngôn ngữ tạo hình của dân tộc mình. Không ít làng nghề truyền thống cũng tham gia chế tác tượng, bàn thờ, chuông, đồ phụng vụ và các tác phẩm nghệ thuật cho các nhà thờ trên khắp cả nước. Đặc biệt từ thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của các trường mỹ thuật và sự xuất hiện của các họa sĩ, điêu khắc gia Công giáo được đào tạo bài bản, mỹ thuật Kitô giáo Việt Nam bước sang một giai đoạn mới. Nhiều tác phẩm không chỉ phục vụ đời sống phụng vụ mà còn được giới chuyên môn đánh giá cao về giá trị nghệ thuật, góp phần làm phong phú nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Trong số đó phải kể đến trước tiên là Lê Văn Đệ (1906-1966), đại diện tiêu biểu của hội họa Công giáo Việt Nam và cầu nối Việt Nam – Pháp – Vatican; tiếp theo là họa sĩ Nam Phong (1917-1994) và người con trai là họa sĩ Trần Hòa Bình (1955), nổi tiếng về tranh chân dung truyền thần; cũng còn phải kể đến bức tranh sơn mài “Giáng Sinh” của danh họa Nguyễn Gia Trí (1908-1993)…
3.5. Biểu tượng học Kitô giáo: ngôn ngữ thần học của nghệ thuật:
Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, khi các Kitô hữu còn sống trong hoàn cảnh bị bách hại, biểu tượng đã giữ vai trò đặc biệt. Những hình ảnh như con cá, người mục tử, chim bồ câu hay mỏ neo vừa là dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, vừa là cách kín đáo diễn tả niềm tin vào Đức Kitô. Trải qua nhiều thế kỷ, kho tàng biểu tượng ấy ngày càng phong phú và trở thành một phần không thể thiếu của nghệ thuật Kitô giáo trên toàn thế giới. Khi các thừa sai đến Việt Nam, họ cũng mang theo truyền thống biểu tượng ấy. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là nhiều biểu tượng đã được diễn tả bằng ngôn ngữ mỹ thuật gần gũi với văn hóa Việt Nam, giúp người tín hữu dễ dàng tiếp nhận và chiêm niệm hơn. Trong số đó, phải kể những biểu tượng sau:
– Thập giá – Biểu tượng của tình yêu cứu độ:
– Chiên Thiên Chúa và Người Mục tử nhân lành:
– Chim bồ câu – Chúa Thánh Thần và hòa bình:
– Cây nho, lúa mì và bánh hằng sống:
– Alpha và Omega:
– Hoa huệ, hoa sen và những biểu tượng hội nhập văn hóa:
4.1. Âm nhạc – Tiếng nói của đức tin và linh hồn dân tộc:
Trong mọi nền văn hóa, âm nhạc luôn là một phương tiện đặc biệt để diễn tả những cảm xúc sâu kín nhất của con người. Nếu ngôn từ chuyển tải ý tưởng thì âm nhạc chạm đến trái tim; nếu hội họa diễn tả vẻ đẹp bằng hình ảnh thì âm nhạc làm cho vẻ đẹp ấy trở nên sống động trong thời gian. Chính vì vậy, ngay từ thời Cựu Ước, âm nhạc đã gắn liền với việc thờ phượng Thiên Chúa. Các Thánh vịnh là minh chứng hùng hồn cho truyền thống ca hát của Dân Chúa, và lời mời gọi “Hãy hát lên mừng Đức Chúa một bài ca mới” (Tv 96,1) đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho đời sống phụng vụ của Giáo Hội.
Thánh Augustinô đã diễn tả một trực giác nổi tiếng: Qui bene cantat bis orat – “Ai hát hay là cầu nguyện hai lần”. Dù câu nói này mang tính diễn giải hơn là một trích dẫn nguyên văn, nó vẫn phản ánh xác tín lâu đời của Giáo Hội rằng âm nhạc không chỉ làm đẹp phụng vụ, nhưng còn giúp cộng đoàn tham dự sâu xa hơn vào mầu nhiệm được cử hành.
Khi các thừa sai đến Việt Nam, các ngài cũng mang theo truyền thống thánh nhạc của Giáo Hội hoàn vũ. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là âm nhạc Kitô giáo tại Việt Nam không dừng lại ở việc chuyển dịch các giai điệu phương Tây, nhưng đã từng bước đối thoại với truyền thống âm nhạc dân tộc để hình thành một kho tàng thánh nhạc mang đậm bản sắc Việt Nam.
4.2. Từ bình ca Grêgôriô đến thánh nhạc Việt Nam:
Trong những thế kỷ đầu truyền giáo, các cử hành phụng vụ chủ yếu sử dụng tiếng Latinh và các hình thức bình ca Grêgôriô (Gregorian Chant). Đây là kho tàng âm nhạc phụng vụ lâu đời của Giáo Hội Latinh, nổi bật bởi tính đơn âm, sự trang nghiêm và khả năng nâng tâm hồn người cầu nguyện hướng về Thiên Chúa.
Sau Công đồng Vaticanô II, khi tiếng bản địa được sử dụng rộng rãi trong phụng vụ, thánh nhạc Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới. Các nhạc sĩ Công giáo đã sáng tác hàng nghìn ca khúc với ngôn ngữ âm nhạc vừa trung thành với tinh thần phụng vụ, vừa gần gũi với tâm hồn người Việt. Kho tàng ấy ngày nay trở thành một phần quan trọng của đời sống văn hóa Công giáo Việt Nam.
4.3. Hội nhập âm nhạc dân tộc trong phụng vụ:
Nếu trong giai đoạn đầu, các hình thức âm nhạc phương Tây giữ vai trò chủ đạo, thì về sau nhiều nhạc sĩ và nhà nghiên cứu phụng vụ đã mạnh dạn khai thác chất liệu của âm nhạc dân tộc như thang âm ngũ cung, các làn điệu dân ca và tiết tấu truyền thống để sáng tác thánh ca. Nhờ đó, nhiều bài hát phụng vụ mang âm hưởng quan họ, hò Huế, lý Nam Bộ, dân ca Tây Nguyên hay các điệu thức miền núi đã ra đời, giúp cộng đoàn cảm nhận rằng đức tin Kitô giáo có thể được cất lên bằng chính tiếng hát của quê hương mình. Quá trình hội nhập ấy không chỉ làm phong phú thánh nhạc Việt Nam mà còn chứng minh một nguyên tắc quan trọng của Giáo Hội: phụng vụ luôn có khả năng tiếp nhận những giá trị chân chính của văn hóa dân tộc để diễn tả cùng một mầu nhiệm đức tin.
4.4. Ca đoàn và đời sống văn hóa cộng đồng:
Một trong những di sản ít được chú ý nhưng có ảnh hưởng sâu rộng là sự hình thành các ca đoàn giáo xứ. Từ nhiều thế hệ, ca đoàn không chỉ là lực lượng phục vụ phụng vụ mà còn là môi trường giáo dục âm nhạc, đào luyện tinh thần cộng tác và nuôi dưỡng đời sống văn hóa của các cộng đoàn Công giáo. Nhiều người lần đầu tiên học đọc nhạc, học hòa âm hay sử dụng nhạc cụ chính là trong các ca đoàn giáo xứ. Không ít nhạc công, nhạc sĩ và giáo viên âm nhạc của Việt Nam đã trưởng thành từ môi trường ấy (Nguyễn Xuân Khoát – 1910-1993; Nguyễn Văn Tý – 1925-2019) … Điều đó cho thấy các cộng đoàn Công giáo đã góp phần phổ biến kiến thức âm nhạc bác học đến với đông đảo người dân, nhất là tại các vùng nông thôn. Bên cạnh đó, các lễ hội tôn giáo, các buổi diễn nguyện, hợp xướng, thánh ca Giáng Sinh và Phục Sinh cũng góp phần làm phong phú đời sống văn hóa địa phương, trở thành những sinh hoạt nghệ thuật có sức lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi cộng đoàn Công giáo.
4.5. Nghệ thuật phụng vụ – Sự hòa quyện của nhiều loại hình nghệ thuật:
Các thừa sai đã góp phần xây dựng tại Việt Nam một nền văn hóa phụng vụ, trong đó cái đẹp không phải là yếu tố phụ họa nhưng là thành phần phục vụ việc tôn thờ Thiên Chúa. Chính nhờ sự kết hợp hài hòa giữa các loại hình nghệ thuật ấy mà phụng vụ Công giáo đã trở thành một môi trường nuôi dưỡng đời sống đức tin, giáo dục cảm thức thẩm mỹ và góp phần hình thành một nền văn hóa nghệ thuật mang chiều sâu tâm linh. Từ góc nhìn văn hóa, đây là một trong những di sản bền vững nhất của các thừa sai: các ngài không chỉ để lại những tác phẩm nghệ thuật riêng lẻ, nhưng còn góp phần hình thành một “nền văn minh phụng vụ”, trong đó vẻ đẹp được đặt vào sứ mạng phục vụ chân lý, đức tin và con người. Đó cũng là lý do vì sao nghệ thuật phụng vụ tiếp tục là nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhạc sĩ và kiến trúc sư Việt Nam cho đến ngày nay. Đây còn là con đường dễ thuyết phục nhiều người tìm về hay tìm lại đức tin Kitô giáo.
4.6. Các thừa sai và sự phát huy văn hóa âm nhạc các dân tộc Tây Nguyên:
Ngay từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều nhà truyền giáo hoạt động giữa các dân tộc Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng, M’Nông, Ê Đê, K’Ho và nhiều cộng đồng khác đã nhận ra rằng âm nhạc giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống văn hóa của người Tây Nguyên. Tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng đàn T’rưng, đàn Goong, đàn Kơni hay các điệu hát dân gian không chỉ phục vụ lễ hội, mà còn là phương tiện diễn tả ký ức cộng đồng, mối tương quan với thiên nhiên và đời sống tâm linh của buôn làng. Thay vì loại bỏ những giá trị ấy, nhiều thừa sai đã lựa chọn con đường đối thoại và hội nhập. Các ngài học ngôn ngữ địa phương, nghiên cứu phong tục, sưu tầm dân ca, ghi chép các làn điệu truyền thống và khuyến khích người bản địa sử dụng chính ngôn ngữ âm nhạc của mình để ca tụng Thiên Chúa. Chính nhờ thái độ tôn trọng ấy mà nhiều cộng đoàn Công giáo Tây Nguyên vẫn có thể gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong khi sống đức tin Kitô giáo. Một minh chứng tiêu biểu là việc trân trọng không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Đối với nhiều cộng đồng dân tộc, cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng của sự hiệp nhất cộng đồng và ký ức văn hóa. Khi được sử dụng trong những hoàn cảnh thích hợp, tiếng cồng chiêng có thể trở thành phương tiện diễn tả niềm vui của cộng đoàn Kitô hữu, các cuộc rước, những ngày lễ trọng hay các sinh hoạt văn hóa của giáo xứ. Qua đó, một giá trị văn hóa truyền thống được tiếp tục sống động trong bối cảnh mới mà không đánh mất ý nghĩa nhân văn của mình. Bên cạnh việc sử dụng âm nhạc truyền thống, nhiều thừa sai còn góp phần lưu giữ các kho tàng văn hóa Tây Nguyên qua việc sưu tầm sử thi, dân ca, truyện kể, tục ngữ và nhạc cụ dân tộc. Những công trình nghiên cứu, từ điển, sách giáo khoa và tuyển tập dân ca do các nhà truyền giáo thực hiện đã trở thành những tư liệu quý giá không chỉ cho Giáo Hội mà còn cho ngành dân tộc học, ngôn ngữ học và văn hóa học Việt Nam.
Kết luận: Vẻ đẹp phục vụ con người và xây dựng nền văn hóa sự sống:
Qua các công trình kiến trúc, các tác phẩm mỹ thuật, kho tàng thánh nhạc, nghệ thuật phụng vụ và những sáng tạo hội nhập văn hóa, các thừa sai đã để lại cho Việt Nam một di sản nghệ thuật phong phú và bền vững. Giá trị của di sản ấy không chỉ được đo bằng số lượng công trình hay tác phẩm, nhưng trước hết bằng khả năng nuôi dưỡng đời sống tinh thần, giáo dục cảm thức thẩm mỹ và góp phần hình thành một nền văn hóa hướng về chân – thiện – mỹ. Điều đặc biệt là di sản ấy không khép kín trong phạm vi tôn giáo. Bằng việc đối thoại với truyền thống dân tộc, tôn trọng bản sắc văn hóa địa phương và khuyến khích sự sáng tạo của các nghệ nhân Việt Nam, các thừa sai đã góp phần làm phong phú nền nghệ thuật nước nhà, đồng thời chứng minh rằng đức tin Kitô giáo có thể bén rễ sâu trong lòng một dân tộc mà vẫn làm nổi bật những giá trị tốt đẹp vốn có của dân tộc ấy.
III. DI SẢN VĂN HÓA XUẤT BẢN – TRUYỀN THÔNG
Trong lịch sử phát triển của mọi nền văn minh, việc sáng tạo tri thức và việc truyền bá tri thức luôn là hai động lực song hành của tiến bộ nhân loại. Chỉ khi được ghi thành sách, được in ấn, xuất bản và truyền thông rộng rãi, tri thức mới trở thành di sản chung của cộng đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Điều đáng ghi nhận là các thừa sai không chỉ sử dụng các phương tiện truyền thông sẵn có của thời đại mình, mà còn góp phần đổi mới phương thức truyền đạt thông tin. Từ những bản chép tay đầu tiên đến các nhà in, từ sách giáo lý đến báo chí Công giáo, từ các tạp chí nghiên cứu đến các phương tiện truyền thông hiện đại, các ngài luôn tìm kiếm những cách thức hữu hiệu để phục vụ con người bằng chân lý, tri thức và các giá trị nhân văn. Nhờ đó, truyền thông không chỉ được hiểu như một kỹ thuật chuyển tải thông tin, nhưng còn như một hoạt động văn hóa góp phần xây dựng cộng đồng, bồi dưỡng đời sống tinh thần và cổ võ những giá trị chân – thiện – mỹ.
1.1. Xuất bản – Một chiều kích không thể tách rời của sứ mạng truyền giáo:
Ngay từ buổi đầu truyền giáo tại Việt Nam, các thừa sai đã sớm nhận ra rằng việc loan báo Tin Mừng không thể chỉ dựa vào lời giảng trực tiếp. Trong một cộng đồng ngày càng đông đảo và phân tán, sách vở trở thành phương tiện hữu hiệu để chuyển tải giáo huấn, củng cố đời sống đức tin và đào tạo các thế hệ tín hữu. Chính vì thế, việc biên soạn, sao chép, in ấn và phổ biến sách đã nhanh chóng trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động truyền giáo.
Ban đầu, các bản văn chủ yếu được chép tay dưới dạng sách giáo lý, kinh nguyện, sách lễ và các tài liệu huấn giáo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ và kỹ thuật in ấn, các hoạt động xuất bản ngày càng được tổ chức quy củ hơn. Điều này đánh dấu bước chuyển từ việc lưu hành những bản văn rời rạc sang việc hình thành một nền văn hóa xuất bản có định hướng và có tổ chức.
1.2. Những ấn phẩm đầu tiên và sự hình thành văn hóa đọc:
Trong lịch sử truyền giáo Việt Nam, các ấn phẩm đầu tiên chủ yếu phục vụ đời sống đức tin: sách giáo lý, sách kinh, sách suy niệm, các bản văn phụng vụ và các bản dịch Kinh Thánh. Đặc biệt, chính các bản dịch Kinh Thánh và các sách giáo lý bằng Quốc ngữ đã mở đầu cho một truyền thống dịch thuật lâu dài, đặt nền móng cho sự hình thành của văn hóa xuất bản Công giáo bằng tiếng Việt. Tuy nhiên, ảnh hưởng của chúng không chỉ giới hạn trong sinh hoạt tôn giáo.
Việc sở hữu một cuốn sách, học cách đọc, học cách sử dụng sách trong cầu nguyện và học tập đã từng bước hình thành nơi các cộng đoàn Kitô hữu một thói quen tiếp cận tri thức qua văn bản. Trong nhiều giáo xứ và chủng viện, sách trở thành phương tiện căn bản để đào tạo giáo lý viên, linh mục, tu sĩ và giáo dân. Chính môi trường ấy góp phần nuôi dưỡng một nền văn hóa đọc dựa trên việc tự học, suy tư và đối chiếu với các bản văn.
Đặc biệt, sự phổ biến của chữ Quốc ngữ làm cho việc tiếp cận sách trở nên dễ dàng hơn đối với nhiều tầng lớp dân chúng. Dần dần, việc đọc sách không còn là đặc quyền của giới nho sĩ thông thạo chữ Hán hay chữ Nôm, mà mở rộng đến nhiều thành phần khác trong xã hội. Theo nghĩa đó, các hoạt động xuất bản của các thừa sai đã góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa tri thức thông qua việc phổ biến sách bằng ngôn ngữ bản địa.
1.3. Nhà in Công giáo và sự phát triển của kỹ thuật in ấn:
Một bước tiến quan trọng trong lịch sử xuất bản Công giáo tại Việt Nam là sự hình thành các nhà in và cơ sở in ấn. Từ cuối thế kỷ XIX và đặc biệt trong thế kỷ XX, nhiều giáo phận, chủng viện và hội dòng đã thiết lập các nhà in nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về sách giáo khoa, sách giáo lý, sách phụng vụ và các tài liệu mục vụ.
Tiêu biểu có Nhà in Tân Định (Địa phận Tây Đàng Trong), Nhà in Làng Sông (Địa phận Đông Đàng Trong, Quy Nhơn) và Nhà in Kẻ Sở (Tây Đàng Ngoài). Đây không chỉ là những cơ sở in ấn của Giáo hội mà còn là những trung tâm văn hóa, góp phần quan trọng vào lịch sử xuất bản Việt Nam cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Không chỉ in các bản văn tôn giáo, nhiều nhà in Công giáo còn tham gia xuất bản các công trình nghiên cứu, từ điển, sách văn học, lịch sử, âm nhạc, giáo dục và nhiều loại sách phổ thông khác. Nhờ đó, các cơ sở này góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành xuất bản Việt Nam trong giai đoạn đầu của thời kỳ hiện đại.[30]
Bên cạnh việc áp dụng các kỹ thuật in mới, các nhà in Công giáo còn chú trọng đến công tác biên tập, hiệu đính và trình bày sách. Đây là những yếu tố góp phần hình thành các chuẩn mực nghề nghiệp của hoạt động xuất bản hiện đại, trong đó tính chính xác, sự rõ ràng và chất lượng của ấn phẩm luôn được đặt lên hàng đầu.
1.4. Xuất bản như một hoạt động giáo dục, khai mở tri thức, khai phá kỹ thuật:
Một trong những đóng góp quan trọng của các thừa sai là xem xuất bản không chỉ là việc in sách, mà là một hoạt động giáo dục. Ngoài các sách tôn giáo, nhiều cơ sở Công giáo còn xuất bản sách giáo khoa, sách học ngoại ngữ, sách lịch sử, địa lý, khoa học phổ thông và các tài liệu phục vụ học đường. Điều này phản ánh một quan niệm tiến bộ về giáo dục: việc truyền đạt tri thức không giới hạn trong lớp học, nhưng được tiếp tục qua việc đọc sách và tự học. Hơn nữa, hoạt động xuất bản còn góp phần hình thành ý thức lưu trữ tri thức. Những bản thảo được biên tập, in ấn và bảo quản trở thành một phần của ký ức văn hóa, giúp các thế hệ sau tiếp cận di sản tinh thần của các thế hệ đi trước.
Nhìn dưới góc độ lịch sử văn hóa, các thừa sai không chỉ để lại nhiều đầu sách, mà còn góp phần hình thành nhiều yếu tố nền tảng của ngành xuất bản hiện đại tại Việt Nam. Trước hết là tinh thần làm việc có hệ thống trong quá trình biên soạn, hiệu đính và xuất bản. Các bản văn được kiểm chứng, sửa chữa và chuẩn hóa trước khi phát hành, góp phần nâng cao độ tin cậy của các ấn phẩm.
2. Báo chí Công giáo – nền tảng của văn hóa truyền thông hiện đại
2.1. Báo chí – Một bước phát triển mới của truyền thông Công giáo:
Nếu sách là phương tiện lưu giữ và truyền đạt tri thức theo chiều sâu, thì báo chí mở ra một không gian truyền thông năng động, gắn liền với những biến chuyển hằng ngày của đời sống xã hội. Sự xuất hiện của báo chí Công giáo tại Việt Nam đánh dấu một bước chuyển quan trọng: từ việc phổ biến các bản văn có tính giáo huấn sang việc xây dựng một diễn đàn trao đổi thông tin, suy tư và đối thoại với xã hội.
Ngay từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của kỹ thuật in ấn và báo chí hiện đại, nhiều giáo phận, hội dòng và tổ chức Công giáo đã tham gia xuất bản các tờ báo, tạp chí và bản tin. Những ấn phẩm này không chỉ phục vụ đời sống nội bộ của Giáo Hội, mà còn phản ánh các vấn đề văn hóa, giáo dục, xã hội và đạo đức của đất nước.
Tiêu biểu trong giai đoạn này là các tờ báo và tạp chí như Nam Kỳ Địa Phận (Sài Gòn), Lời Thăm (Qui Nhơn), cùng nhiều tập san của các giáo phận, chủng viện và hội dòng. Đây không chỉ là những cơ quan ngôn luận của Giáo hội, mà còn là những diễn đàn văn hóa góp phần phổ biến Quốc ngữ, nâng cao dân trí và giới thiệu nhiều tư tưởng giáo dục, đạo đức cũng như các giá trị nhân văn đến với xã hội Việt Nam. Sự hiện diện của báo chí Công giáo góp phần mở rộng không gian công luận, khuyến khích việc đọc, trao đổi ý kiến và hình thành một nền văn hóa truyền thông dựa trên lý trí, trách nhiệm và tinh thần phục vụ công ích.
2.2. Báo chí – tạp chí Công giáo như một diễn đàn giáo dục và khai sáng:
Thông qua các bài khảo luận, chuyên đề, mục hỏi – đáp và giới thiệu sách, báo chí Công giáo giúp phổ biến nhiều kiến thức mới đến với độc giả. Không ít bài viết góp phần giải thích những thành tựu khoa học, giới thiệu tư tưởng nhân văn của Kitô giáo, đồng thời khơi dậy ý thức trách nhiệm đối với gia đình, xã hội và quê hương. Nhiều tờ báo còn thường xuyên giới thiệu các tác phẩm mới được xuất bản, các bản dịch Kinh Thánh, sách giáo lý, sách nghiên cứu và văn học Công giáo. Qua đó, báo chí trở thành chiếc cầu nối giữa hoạt động xuất bản và văn hóa đọc, góp phần mở rộng ảnh hưởng của các công trình học thuật đến nhiều tầng lớp độc giả. Ở nhiều thời kỳ, báo chí Công giáo còn là môi trường đào tạo đội ngũ trí thức, nhà giáo, linh mục, tu sĩ và giáo dân biết sử dụng ngòi bút như một phương tiện phục vụ chân lý và công ích.
Bên cạnh các tờ báo phổ thông, nhiều tạp chí chuyên ngành của các giáo phận, chủng viện, học viện và hội dòng đã trở thành diễn đàn học thuật quan trọng. Các tạp chí này đăng tải các công trình nghiên cứu về thần học, triết học, Kinh Thánh, phụng vụ, lịch sử Giáo Hội, văn hóa, giáo dục và nhiều lĩnh vực khoa học xã hội. Nhiều tạp chí còn công bố các công trình nghiên cứu của chính các thừa sai và các học giả Việt Nam về lịch sử, khảo cổ, dân tộc học, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Nhờ đó, báo chí Công giáo không chỉ phổ biến tri thức mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình kiến tạo nền học thuật Việt Nam hiện đại.
2.3. Góp phần hình thành văn hóa đối thoại trong xã hội:
Một đóng góp đáng kể của báo chí Công giáo là việc tạo nên một không gian đối thoại giữa Giáo Hội với xã hội. Bên cạnh việc trình bày giáo huấn của Giáo Hội, nhiều tờ báo còn quan tâm đến các vấn đề của đất nước như giáo dục, đạo đức xã hội, văn hóa, bảo vệ sự sống, công bằng, bác ái và phát triển con người. Trong tinh thần đó, báo chí không chỉ là nơi truyền đạt thông tin theo một chiều, mà còn là diễn đàn để trao đổi quan điểm, lắng nghe những thao thức của xã hội và tìm kiếm các giải pháp trên nền tảng các giá trị nhân văn phổ quát. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, báo chí Công giáo góp phần xây dựng một nền văn hóa đối thoại, trong đó sự khác biệt về niềm tin hay quan điểm không trở thành rào cản, nhưng là cơ hội để hiểu biết và cộng tác vì lợi ích chung của cộng đồng.
2.5. Đạo đức báo chí và trách nhiệm truyền thông:
Một đặc điểm nổi bật của truyền thông Công giáo là sự gắn kết giữa quyền được thông tin với trách nhiệm luân lý. Đối với Giáo Hội, truyền thông không chỉ nhằm thu hút sự chú ý của công chúng, nhưng trước hết phải phục vụ sự thật, bảo vệ phẩm giá con người và cổ võ thiện ích chung. Chính vì thế, nhiều tờ báo và tạp chí Công giáo luôn nhấn mạnh đến việc kiểm chứng thông tin, tôn trọng sự thật, tránh xuyên tạc, kích động hay khai thác đời tư nhằm mục đích thương mại. Những nguyên tắc ấy ngày nay vẫn là nền tảng của đạo đức báo chí và truyền thông có trách nhiệm.
3. Di sản văn hóa dịch thuật: nhịp cầu giữa các nền văn hóa:
3.1. Dịch thuật – Một sứ mạng của gặp gỡ và đối thoại:
Ngay từ buổi đầu truyền giáo, các thừa sai đã ý thức rằng ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là chiếc chìa khóa mở vào tâm hồn của một dân tộc. Muốn Tin Mừng được đón nhận, trước hết cần diễn đạt sứ điệp Kitô giáo bằng ngôn ngữ mà người bản địa có thể hiểu và cảm nhận. Chính từ nhu cầu ấy, hoạt động dịch thuật trở thành một phần thiết yếu của công cuộc truyền giáo.
Tuy nhiên, dịch thuật của các thừa sai không chỉ dừng lại ở việc chuyển đổi từ ngữ. Đó là một tiến trình chuyển tải ý nghĩa, trong đó người dịch phải tìm được những thuật ngữ, hình ảnh và lối diễn đạt phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam. Theo nghĩa đó, dịch thuật vừa là một công việc ngôn ngữ học, vừa là một hoạt động văn hóa, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc cả hai truyền thống mà mình kết nối.
Qua nhiều thế kỷ, hoạt động dịch thuật của các thừa sai đã góp phần tạo nên một không gian gặp gỡ giữa Đông và Tây, giữa Kitô giáo và văn hóa Việt Nam, giữa kho tàng tri thức của nhân loại và khả năng tiếp nhận của người Việt.
3.2. Chuyển dịch các bản văn Kitô giáo sang tiếng Việt:
Một trong những thành tựu nổi bật của các thừa sai là việc chuyển ngữ các bản văn nền tảng của Kitô giáo sang tiếng Việt. Từ các bản kinh nguyện, sách giáo lý, sách phụng vụ đến Kinh Thánh và các tác phẩm linh đạo, hoạt động dịch thuật đã giúp đời sống đức tin được bén rễ trong chính ngôn ngữ của dân tộc.
Đỉnh cao của tiến trình ấy là việc chuyển dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt. Trải qua nhiều thế hệ, từ những bản dịch từng phần của các thừa sai tiên phong cho đến các bản dịch ngày càng hoàn chỉnh ở các thế kỷ XIX và XX, Kinh Thánh tiếng Việt đã trở thành một trong những thành tựu lớn nhất của văn hóa dịch thuật Công giáo. Đây không chỉ là việc chuyển ngữ một bản văn tôn giáo, nhưng còn là công trình sáng tạo ngôn ngữ, góp phần hình thành phong cách văn chương Kinh Thánh và làm phong phú khả năng diễn đạt của tiếng Việt. Trong quá trình ấy, nhiều thuật ngữ thần học mới được hình thành hoặc được chuẩn hóa. Những từ như “ân sủng”, “cứu độ”, “mặc khải”, “phục sinh”, “hiệp thông”, “bí tích”, “đức ái”, “lương tâm”… dần trở thành những thuật ngữ quen thuộc trong tiếng Việt Công giáo, đồng thời làm phong phú thêm vốn từ của ngôn ngữ dân tộc.
3.3. Đưa tri thức nhân loại đến với người Việt:
Bên cạnh các bản văn tôn giáo, nhiều thừa sai còn tham gia dịch thuật hoặc giới thiệu các tác phẩm về lịch sử, địa lý, triết học, khoa học, giáo dục và văn học của phương Tây. Qua những bản dịch ấy, độc giả Việt Nam từng bước tiếp cận với những thành tựu của nền học thuật thế giới. Ngược lại, nhiều tác phẩm về lịch sử, văn hóa và đời sống Việt Nam cũng được các thừa sai chuyển sang tiếng Pháp, tiếng Latinh và các ngôn ngữ châu Âu khác. Điều này giúp hình ảnh Việt Nam được biết đến rộng rãi hơn trong giới học thuật quốc tế, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu nước ngoài hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam.
Như vậy, dịch thuật đã trở thành một con đường giao lưu hai chiều: đưa thế giới đến với Việt Nam và đưa Việt Nam đến với thế giới. Nhiều công trình của các thừa sai như Alexandre de Rhodes, Cristoforo Borri, Léopold Cadière, Henri Maitre, Jacques Dournes và nhiều học giả khác đã trở thành những tác phẩm kinh điển của ngành Việt Nam học, góp phần đưa lịch sử, văn hóa và các cộng đồng dân tộc Việt Nam vào diễn đàn học thuật quốc tế.
3.4. Dịch thuật và sự hình thành một nền văn hóa đối thoại:
Một bản dịch tốt không chỉ chuyển tải thông tin mà còn mở ra khả năng đối thoại giữa các nền văn hóa. Chính vì thế, hoạt động dịch thuật của các thừa sai góp phần tạo nên một không gian gặp gỡ giữa các hệ thống tư tưởng khác nhau. Trong quá trình ấy, nhiều khái niệm của triết học Hy Lạp, thần học Kitô giáo và tư tưởng phương Tây được diễn đạt bằng những thuật ngữ gần gũi với văn hóa Á Đông; đồng thời, nhiều giá trị của truyền thống Việt Nam cũng được giới thiệu với thế giới qua ngôn ngữ quốc tế. Theo nghĩa đó, dịch thuật trở thành một hình thức “phiên dịch văn hóa” (cultural translation), trong đó người dịch không chỉ chuyển ngữ mà còn chuyển tải cả bối cảnh, biểu tượng và ý nghĩa của một nền văn hóa. Chính nhờ tiến trình này mà sự khác biệt không còn là rào cản, nhưng trở thành cơ hội cho sự hiểu biết và cộng tác.
3.5. Các thừa sai và truyền thống dịch thuật Công giáo tại Việt Nam:
Ngay từ thời kỳ đầu, các thừa sai như Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes, Gaspar do Amaral và António Barbosa đã đặt những viên gạch đầu tiên cho công cuộc chuyển dịch các bản văn Kitô giáo sang tiếng Việt. Những nỗ lực ấy không chỉ nhằm chuyển ngữ các kinh nguyện và sách giáo lý, mà còn góp phần hình thành một hệ thống thuật ngữ thần học bằng tiếng Việt, tạo nền tảng cho các thế hệ kế tiếp.
Từ thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ và hoạt động xuất bản, công việc dịch thuật bước sang một giai đoạn mới. Các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Công giáo tiếp tục chuyển dịch Kinh Thánh, các sách phụng vụ, giáo luật, giáo lý, thần học, triết học và linh đạo. Nhiều bản dịch không chỉ phục vụ đời sống của Giáo Hội Việt Nam mà còn đạt đến trình độ học thuật cao, được sử dụng rộng rãi trong việc đào tạo tại các chủng viện, học viện và các cơ sở nghiên cứu.
Đặc biệt, trong lịch sử dịch Kinh Thánh tiếng Việt, cần ghi nhận những đóng góp nổi bật của Cố Chính Linh (Albert Schlicklin (1857-1932)[31] và Cố Gagnon[32] (thường được gọi là Cố Gân), những nhà truyền giáo đã dành nhiều năm để chuyển dịch và hiệu đính các bản văn Kinh Thánh. Các bản dịch của các ngài, dù còn mang dấu ấn ngôn ngữ của thời đại, đã đặt nền móng cho các bản dịch hoàn chỉnh hơn về sau và góp phần hình thành truyền thống nghiên cứu, chú giải và chuyển ngữ Kinh Thánh tại Việt Nam. Đây là một trong những thành tựu lớn nhất của di sản văn hóa dịch thuật mà các thế hệ thừa sai để lại cho Giáo hội và dân tộc Việt Nam.
Sau Công đồng Vaticanô II, nhu cầu dịch thuật càng trở nên cấp thiết. Hàng loạt văn kiện của Huấn quyền, các sách phụng vụ cải tổ, Bộ Giáo luật, Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo, các thông điệp giáo hoàng và nhiều công trình thần học quan trọng được chuyển ngữ sang tiếng Việt. Chính tiến trình này đã góp phần hình thành một ngôn ngữ thần học Việt Nam ngày càng chính xác, phong phú và có khả năng diễn đạt những nội dung phức tạp của tư tưởng Kitô giáo trong bối cảnh văn hóa dân tộc.
Song song với việc chuyển ngữ các văn kiện của Huấn quyền, nhiều tác phẩm kinh điển của các Giáo phụ, các Tiến sĩ Hội Thánh, các tác giả linh đạo và thần học gia nổi tiếng cũng lần lượt được dịch sang tiếng Việt (Linh mục Giuse Trần Ngọc Châu với bản dịch trọn bộ Tổng luận thần học – Summa Theologiae[33] của thánh Tôma Aquinô). Nhờ đó, kho tàng trí tuệ của Kitô giáo hoàn vũ ngày càng trở nên gần gũi với độc giả Việt Nam, đồng thời góp phần hình thành một môi trường học thuật Công giáo có chiều sâu và có khả năng đối thoại với nền học thuật quốc tế.
Đừng quên, nền văn hóa dịch thuật do các thừa sai được xây dựng trên ba nguyên tắc nền tảng: trung thành với nguyên bản, tôn trọng ngôn ngữ và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời phục vụ việc truyền đạt chân lý bằng một ngôn ngữ trong sáng, chính xác và dễ hiểu. Chính truyền thống ấy tiếp tục là một trong những chiếc cầu bền vững nhất nối kết Giáo hội Việt Nam với kho tàng trí tuệ của Giáo Hội hoàn vũ, đồng thời đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với cộng đồng học thuật quốc tế.
Kết:
Nhìn lại hơn bốn thế kỷ lịch sử, có thể khẳng định rằng các thừa sai không chỉ để lại những cuốn sách, những nhà in, những tờ báo hay những bản dịch có giá trị. Điều lớn lao hơn là các ngài đã góp phần hình thành một văn hóa xuất bản và truyền thông, trong đó tri thức được chia sẻ với tinh thần phục vụ, sự thật được bảo vệ bằng lương tâm khoa học và truyền thông trở thành phương tiện kiến tạo con người cũng như xã hội.
Ngày nay, việc tiếp nối di sản ấy không còn chỉ là trách nhiệm của Giáo hội, nhưng còn là trách nhiệm chung của giới học thuật, các cơ sở giáo dục, các nhà xuất bản, các cơ quan truyền thông và toàn xã hội. Bởi lẽ, những giá trị mà các thế hệ thừa sai đã góp phần hình thành từ nhiều thế kỷ trước nay đã trở thành một phần của di sản văn hóa Việt Nam.
Từ những bản kinh chép tay, những cuốn sách giáo lý đầu tiên, những nhà in sơ khai, những tờ báo Công giáo, những công trình dịch thuật cho đến các nền tảng truyền thông số hôm nay, lịch sử ấy cho thấy một sự phát triển liên tục của cùng một lý tưởng: dùng truyền thông để phục vụ chân lý, khai mở tri thức, xây dựng hiệp thông và thăng tiến con người. Chính đó là di sản lớn nhất mà các thế hệ thừa sai đã trao lại cho Giáo hội cũng như cho nền văn hóa Việt Nam.
IV. DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨU, ĐỐI THOẠI VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA
Nếu các di sản văn hóa được trình bày trong những mục trên cho thấy các thừa sai Công giáo đã góp phần xây dựng con người và kiến tạo xã hội, thì một đóng góp khác có tầm vóc lâu dài không kém là công việc nghiên cứu, đối thoại và hội nhập văn hóa. Trong tiến trình truyền giáo tại Việt Nam, nhiều thừa sai không dừng lại ở việc loan báo Tin Mừng, nhưng đã dành nhiều năm học tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc, tìm hiểu lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, văn học, địa lý, nghệ thuật và đời sống xã hội của các cộng đồng mình phục vụ.
Chính từ thái độ đến với con người bằng việc học hỏi con người ấy, một khối lượng tư liệu quý giá về Việt Nam và các dân tộc thiểu số đã được hình thành. Một số công trình ban đầu được thực hiện nhằm phục vụ mục vụ và truyền giáo, nhưng về sau đã vượt khỏi mục đích ban đầu để trở thành những nguồn tư liệu có giá trị đối với ngôn ngữ học, dân tộc học, sử học, văn học, tôn giáo học và nghiên cứu văn hóa.
1. Nghiên cứu để hiểu con người và văn hóa:
1.1. Từ học ngôn ngữ đến nghiên cứu văn hóa:
Một trong những đặc điểm nổi bật của truyền thống truyền giáo Công giáo tại Việt Nam là học tiếng bản địa. Để có thể giảng giáo lý và đối thoại với người Việt, các thừa sai phải học tiếng Việt; để đến với các dân tộc Tây Nguyên hay các cộng đồng Chăm, họ tiếp tục học những ngôn ngữ hoàn toàn khác biệt về cấu trúc, âm thanh và hệ thống chữ viết.
Từ nhu cầu mục vụ ấy đã hình thành một truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ rất đáng kể: biên soạn từ điển, văn phạm, sách giáo lý, sách hội thoại, sưu tầm văn bản và từng bước xây dựng cách ghi âm bằng mẫu tự Latinh. Công trình của Alexandre de Rhodes thế kỷ XVII là một trường hợp tiêu biểu: Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (1651) và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis brevis declaratio (1651) không chỉ phục vụ việc truyền giáo mà còn trở thành những tư liệu nền tảng cho lịch sử nghiên cứu tiếng Việt. Những nghiên cứu hiện đại cũng xác nhận giá trị của Brevis Declaratio trong việc khảo sát cách mô tả hệ thống thanh điệu tiếng Việt thời kỳ đầu.
Từ đó, một nguyên tắc có ý nghĩa rộng hơn dần được xác lập: muốn đối thoại với một dân tộc, trước hết phải học ngôn ngữ của dân tộc ấy; muốn hiểu một nền văn hóa, phải đi vào chính cách diễn đạt của nền văn hóa ấy.
1.2. Từ ngôn ngữ đến dân tộc học
Truyền thống này tiếp tục phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Nhiều thừa sai, đặc biệt, trong truyền thống của Dòng Tên và Hội Thừa sai Paris (MEP), đã ghi chép phong tục, luật tục, tín ngưỡng, nghi lễ, gia đình, hôn nhân, tang ma, tổ chức làng xã và đời sống tinh thần của các cộng đồng mà họ phục vụ. Trong số đo, có thể kể đến những tên tuổi như A. De Rhodes, Cristoforo Borri, Pierre Dourisboure, Jean-Baptiste Guerlach, Émile Kemlin, Léopold Cadière, Jacques Dournes và nhiều người khác. Các nghiên cứu về lịch sử dân tộc học Đông Dương ghi nhận đây là một truyền thống nghiên cứu thực địa lâu dài; riêng Léopold Cadière[34] (1869-1955) được biết đến như một nhà nghiên cứu sâu rộng về nhiều phương diện của văn hóa Việt Nam, trong khi Jacques Dournes dành nhiều thập niên nghiên cứu các cộng đồng Sré và Jrai.
Như vậy, những ghi chép của các thừa sai không chỉ là “tư liệu truyền giáo”. Khi được đọc và thẩm định trong bối cảnh khoa học hiện đại, chúng còn là những chứng liệu lịch sử về một xã hội Việt Nam đang biến chuyển, cũng như về những nền văn hóa địa phương mà nhiều khi chưa có nhiều tài liệu thành văn.
2. Nghiên cứu các dân tộc và gìn giữ di sản văn hóa:
2.1. Tây Nguyên: từ truyền giáo đến nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa:
Tại Tây Nguyên, nhu cầu truyền giáo đã thúc đẩy các thừa sai học và hệ thống hóa những ngôn ngữ chưa có truyền thống văn tự Latinh ổn định. Pierre Dourisboure là một trường hợp tiêu biểu. Công trình về tiếng Bahnar của ông không chỉ là phương tiện truyền giáo mà còn góp phần đặt nền cho việc nghiên cứu và La-tinh hóa tiếng Bahnar. Những nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay vẫn khảo sát quá trình hình thành Dictionnaire bahnar-français của Dourisboure, cùng với phần văn phạm và quá trình xây dựng hệ thống chữ viết Bahnar bằng mẫu tự Latinh.
Cùng với Dourisboure, những thừa sai như Jules Alberty, Nicolas Cận, Jean Cassaigne, Paul Guilleminet, Combes, Jacques Dournes… và nhiều người khác đã để lại những công trình hoặc tư liệu liên quan đến các ngôn ngữ và văn hóa bản địa. Những công việc ấy, xét về lâu dài, đã góp phần làm cho các ngôn ngữ Bahnar, Jrai, Kơho, Xêđăng… được ghi nhận, mô tả và lưu giữ trong một hình thức có thể tiếp tục nghiên cứu.
Điều đáng chú ý là ở đây, truyền giáo đã gặp gỡ khoa học ngôn ngữ và dân tộc học. Việc học tiếng của một dân tộc không còn chỉ nhằm “nói cho họ hiểu”, mà dần trở thành “hiểu họ qua chính tiếng nói của họ”.
2.2. Champa: nghiên cứu để bảo tồn ký ức một nền văn hóa:
Một trường hợp đặc biệt nổi bật là Gérard Moussay, thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris. Tại vùng người Chăm, Moussay đã dành nhiều năm nghiên cứu ngôn ngữ, văn học và văn hóa Chăm. Công trình Dictionnaire cam-vietnamien-français xuất bản tại Phan Rang năm 1971, được thực hiện cùng một nhóm cộng tác viên Chăm, là một đóng góp quan trọng đối với việc nghiên cứu tiếng Chăm.
Ông còn tham gia bảo tồn và công bố các bản văn Chăm trong Khao-luc Nguyên-cao chàm – Archives des manuscrits cam (1974), nghiên cứu và chú giải Akayet Dewa Mano (1975), cũng như thực hiện nhiều công trình về ngôn ngữ và văn học Chăm. Các nguồn thư mục học thuật ghi nhận rõ vai trò của Moussay trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, văn học và văn hóa Chăm. Điều đáng quý ở đây là công việc nghiên cứu không chỉ nhằm ghi chép một nền văn hóa từ bên ngoài, nhưng còn là sự cộng tác với chính những trí thức bản địa. Từ điển Chăm–Việt–Pháp năm 1971 là một ví dụ rõ nét về một công trình được thực hiện với nhiều cộng tác viên người Chăm. Đó chính là một hình thức đối thoại văn hóa: nhà nghiên cứu không thay thế chủ thể văn hóa, nhưng cùng với chủ thể văn hóa để làm cho ký ức, ngôn ngữ và văn bản của họ được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau.
3. Đối thoại giữa các tôn giáo và truyền thống văn hóa:
Một phương diện khác của di sản này là sự tiếp xúc giữa Kitô giáo với các truyền thống tôn giáo và văn hóa Việt Nam. Ngay từ thời Alexandre de Rhodes, việc truyền giáo đã diễn ra trong một môi trường văn hóa chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và các tín ngưỡng dân gian. Các công trình và nghiên cứu về ông cho thấy vấn đề thích ứng văn hóa, việc sử dụng ngôn ngữ bản địa và sự tiếp xúc với các truyền thống tôn giáo Việt Nam đã trở thành một phần đáng kể trong tiến trình truyền giáo.
Về sau, đặc biệt với những nhà nghiên cứu như Léopold Cadière, việc tìm hiểu đời sống tôn giáo và phong tục Việt Nam được tiến hành với một tinh thần khảo sát rộng hơn: từ đình làng, gia đình, tổ tiên, phong tục, tín ngưỡng cho đến những biểu hiện của đời sống Công giáo trong môi trường Việt Nam. Điều này cho thấy một chiều kích quan trọng của hội nhập văn hóa: đức tin không tồn tại trong một khoảng không văn hóa. Muốn loan báo Tin Mừng, người truyền giáo phải hiểu ngôn ngữ, ký ức, biểu tượng, tâm thức và những giá trị mà con người đang sống.
Đồng thời, đối thoại đích thực không có nghĩa là xóa bỏ khác biệt. Nó đòi hỏi khả năng lắng nghe, phân định, tôn trọng và tìm kiếm những điểm có thể gặp nhau, trong khi mỗi truyền thống vẫn giữ căn tính của mình.
4. Những gương mặt thừa sai là những nhà nghiên cứu tiêu biểu:
Sau đây là những thừa sai và là nhà nghiên cứu tiêu biểu đã để lại những “di sản ngôn ngữ, văn hóa, học thuật, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… liên quan đến Việt Nam học, dân tộc học…
4.1. Cristoforo Borri (1583–1632): một trong những chứng nhân dân tộc học sớm nhất về Đàng Trong:
Tác phẩm căn bản: Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina[35], Roma, 1631. Đây không phải là một chuyên khảo dân tộc học theo nghĩa hiện đại, nhưng có giá trị dân tộc học và Việt Nam học đặc biệt, vì Borri sống tại Đàng Trong từ khoảng 1618 đến 1622 và trực tiếp quan sát xã hội Việt Nam. Tác phẩm mô tả: địa lý, khí hậu, sản vật và đời sống Đàng Trong; Hội An, Đà Nẵng, Quy Nhơn và các vùng truyền giáo; cơ cấu chính trị và xã hội; phong tục, tập quán; y phục, ăn uống, giao thương; tín ngưỡng và các hình thức tôn giáo của người Việt; Phật giáo, các thần linh và những thực hành tín ngưỡng dân gian; đời sống Kitô hữu và sự tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam với người Âu. Đặc biệt, phần trình bày về tôn giáo bản địa cho thấy Borri đã cố gắng phân loại và giải thích các hệ thống tín ngưỡng mà ông quan sát được. Có thể xếp Borri vào: Tiền sử của Việt Nam học và dân tộc học Việt Nam, đồng thời là một trong những nguồn tư liệu phương Tây sớm nhất về văn hóa Đàng Trong.
4.2. Alexandre de Rhodes (1591–1660) – một nguồn tư liệu nền tảng cho Việt Nam học thế kỷ XVII:
Các tác phẩm quan trọng nhất là:
4.2.1. Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Roma, 1651) – Từ điển Việt–Bồ–La, công trình từ điển học nền tảng của chữ Quốc ngữ.
4.2.2. Linguae Annamiticae seu Tunchinensis brevis declaratio (Roma, 1651) – khảo luận ngữ pháp/giải thích tiếng An Nam – Đàng Ngoài.
4.2.3. Phép giảng tám ngày (Roma, 1651) – sách giáo lý bằng Quốc ngữ, trình bày giáo lý Kitô giáo dưới hình thức đối thoại, đồng thời là một chứng tích đặc biệt quan trọng của tiếng Việt viết bằng mẫu tự Latinh thế kỷ XVII.
4.2.4. Divers voyages et missions du Père Alexandre de Rhodes… (Paris, 1653) – tập ký sự về các hành trình và hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong, Đàng Ngoài, chứa nhiều tư liệu có giá trị về địa lý, xã hội, phong tục và đời sống Việt Nam.
4.2.5. Histoire du Royaume de Tunquin (Paris, 1650) – Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, một nguồn tư liệu quan trọng đối với việc nghiên cứu Việt Nam thế kỷ XVII.
4.3. Léopold Cadière (1869–1955): Việt Nam học và tín ngưỡng dân gian Việt Nam:
Có thể nói, Cadière là người có công trình rộng nhất về Việt Nam học, đặc biệt về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục và tâm thức người Việt. Thư mục của ông gồm hàng trăm công trình thuộc ngôn ngữ học, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo học, địa lý, khảo cổ và văn hóa học. Những tác phẩm đặc biệt quan trọng:
4.3.1. Anthropologie populaire annamite (1915). Đây là một trong những công trình tiêu biểu nhất cho hướng nhân học/dân tộc học người Việt của Cadière.
4.3.2. Croyances et pratiques religieuses des Annamites dans les environs de Huê. Đây là một loạt khảo cứu rất quan trọng về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có:
I. Le culte des arbres – Tục thờ cây (1918);
II. Le culte des pierres – Tục thờ đá (1919);
III. Le culte des bornes – Tục thờ các cột/mốc;
IV. Pierres, buttes et autres obstacles magiques;
V. Pierres des conjurations et talismans-obstacles.
Đây chính là nguồn rất quý để nghiên cứu vũ trụ quan, thần linh, vật linh, ma thuật và tín ngưỡng dân gian của người Việt đầu thế kỷ XX.
4.3.3. La famille et la religion en pays annamite (1930). Nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình – gia tộc – thờ cúng tổ tiên – đời sống tôn giáo, qua đó cho thấy cấu trúc xã hội Việt Nam truyền thống.
4.3.4. Croyances et pratiques religieuses des Annamites (1944–1955; các tập được tái bản sau này). Đây có thể xem là công trình tổng hợp lớn nhất của Cadière về tôn giáo và tín ngưỡng người Việt. Bộ sách sau này được xuất bản lại dưới nhan đề Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens.
4.3.5. L’Annam (1931) và Introduction à l’étude de l’Annam et du Champa (1934). Hai công trình này mở rộng phạm vi từ tín ngưỡng sang Việt Nam học tổng quát, bao gồm lịch sử, địa lý, xã hội, văn hóa và Champa.
Như vậy, có thể định vị Cadière: Nhà Việt Nam học + dân tộc học người Việt + tôn giáo học + tín ngưỡng dân gian học Việt Nam.
4.4. Pierre Xavier Dourisboure – một nhà Bahnar học tiên phong:
Pierre Dourisboure có thể xếp rất rõ vào nhóm những nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, đặc biệt là Bahnar học. Ông không chỉ học tiếng Bahnar để phục vụ truyền giáo, mà đã để lại một hệ thống tư liệu có giá trị ngôn ngữ học:
4.4.1. Vocabularium apud barbaros Bahnar (1870): từ vựng Bahnar – Việt – Pháp, 265/268 trang bản thảo.
4.4.2. Grammatica linguae Bahnar (1871): bản ngữ pháp tiếng Bahnar bằng Latinh.
4.4.3. Hlabar abo / Syllabaire bahnar (1888): sách vần/chữ Bahnar.
4.4.4. Dictionnaire bahnar-français (Hong Kong, 1889): Từ điển Bahnar–Pháp, 45 + 363 trang.
4.5. Jacques Dournes (1922–1993): người mở chiều sâu cho Jörai học:
Nếu Cadière đi sâu vào người Việt, thì Dournes đi sâu vào người Jörai (Gia Rai) và các dân tộc Tây Nguyên. Ông có thời gian dài sống giữa các dân tộc Sré và Jörai, tiến hành nghiên cứu trực tiếp về ngôn ngữ, xã hội, gia đình, thần thoại, tín ngưỡng, văn học truyền miệng và thế giới quan. Sau này ông trở thành nhà nghiên cứu tại CNRS.
Những công trình quan trọng nhất về Jörai:
4.5.1. Coordonnées : structures jörai familiales et sociales (1972). Nghiên cứu: cấu trúc gia đình; quan hệ xã hội; dòng họ; chế độ mẫu hệ; tổ chức cộng đồng Jörai. Đây là một công trình dân tộc học xã hội quan trọng.
4.5.2. Pötao : une théorie du pouvoir chez les Indochinois jörai (1977). Đây là tác phẩm nổi tiếng nhất của Dournes về Jörai. Ông nghiên cứu thể chế Pötao, mối quan hệ giữa quyền lực, xã hội, vũ trụ và các thế lực siêu nhiên của người Jörai. Luận án được bảo vệ năm 1973 và xuất bản thành sách năm 1977. Có thể coi đây là một công trình tiêu biểu của Jörai học – dân tộc học Tây Nguyên.
4.5.3. Bois-Bambou : aspect végétal de l’univers Jörai (1968). Nghiên cứu thế giới cây cối, tre, rừng và vũ trụ quan Jörai.
4.5.4. Le parler des Jörai et le style oral de leur expression (1976). Nghiên cứu ngôn ngữ và phong cách truyền khẩu Jörai.
4.5.5. Forêt, femme, folie : une traversée de l’imaginaire joraï (1978). Đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu thế giới biểu tượng, trí tưởng tượng, thần thoại và tâm thức Jörai.
4.5.6. Florilège Jörai (1987). Tập hợp các chất liệu văn học và truyền khẩu Jörai, giúp bảo tồn một phần quan trọng của di sản văn hóa truyền miệng Tây Nguyên.
4.5.7. Situation du Jörai dans le monde austronésien. Đặt người Jörai trong không gian văn hóa – ngôn ngữ Austronesian, vượt khỏi phạm vi nghiên cứu địa phương.
Ngoài ra, Dournes còn nghiên cứu người Sré/Kơho, chẳng hạn Nri: recueil des coutumes srê du Haut-Donnai và Chi-Chê: la botanique des Srê.
4.6. Gérard Moussay (1932–): Chăm học:
Moussay là trường hợp rất đặc biệt: từ hoạt động truyền giáo, ông trở thành một trong những học giả quan trọng về ngôn ngữ và văn hóa Chăm hiện đại. Những công trình chủ yếu:
4.6.1. Dictionnaire cam-vietnamien-français (1971). Đây là công trình nền tảng về ngôn ngữ Chăm, được thực hiện cùng các cộng tác viên người Chăm.
4.6.2. Coup d’œil sur les Cam d’aujourd’hui (1971). Một khảo cứu trực tiếp về người Chăm đương đại, thuộc phạm vi dân tộc học Chăm.
4.6.3. Khao-luc Nguyên-cao Chàm – Archives des manuscrits cam (1974). Đặc biệt quan trọng vì không chỉ nghiên cứu mà còn sưu tầm và bảo tồn văn bản Chăm. Tập II gồm những tư liệu về: nghi lễ trừ tà; giải mộng; nghi lễ thanh tẩy. Đây là nguồn rất đáng chú ý đối với tín ngưỡng và tôn giáo dân gian Chăm.
4.6.4. Akayet Dewa Mano (1975). Moussay phiên âm, dịch và chú giải tác phẩm văn học Chăm này, qua đó nghiên cứu văn học, thần thoại, tư tưởng và thế giới quan Chăm.
4.6.5. Pram Dit Pram Lak : la geste de Rama dans la littérature cam (1976). Nghiên cứu sự hiện diện và biến đổi của truyền thuyết Rama trong văn học Chăm.
4.6.6. Essai de translittération raisonnée du cam (1977). Công trình về chữ viết và hệ thống chuyển tự Chăm, thực hiện cùng các nhà nghiên cứu khác.
4.6.7. Grammaire de la langue Cam (2006). Một công trình ngữ pháp quan trọng, được đánh giá là một nghiên cứu có hệ thống về cấu trúc tiếng Chăm.
Kết
Di sản văn hóa của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam vì thế không chỉ nằm trong những ngôi trường, bệnh viện, nhà thờ, nhà in, từ điển hay sách vở. Một phần rất sâu xa của di sản ấy nằm trong phương pháp gặp gỡ con người qua nghiên cứu và hội nhập văn hóa: học ngôn ngữ của họ, tìm hiểu lịch sử của họ, trân trọng ký ức của họ, đối thoại với truyền thống của họ và cộng tác với chính họ để bảo tồn những giá trị của họ.
Từ Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes đến Léopold Cadière, từ Dourisboure đến Jacques Dournes, từ những công trình về tiếng Việt đến những công trình về Bahnar, Jrai, Kơho và Chăm, có thể nhận ra một dòng chảy xuyên suốt: truyền giáo đã mở ra những cuộc gặp gỡ; những cuộc gặp gỡ ấy làm nảy sinh nghiên cứu; nghiên cứu mở đường cho đối thoại; và đối thoại góp phần hình thành một tiến trình hội nhập văn hóa.
Đó cũng là một trong những đóng góp đáng kể của các thừa sai vào lịch sử văn hóa Việt Nam: không chỉ đem đến một sứ điệp, mà còn học hỏi một nền văn hóa; không chỉ nói với một dân tộc, mà còn lắng nghe dân tộc ấy; không chỉ để lại những công trình, mà còn để lại một truyền thống nghiên cứu và đối thoại giữa các nền văn hóa. Có thể diễn tả tiến trình này theo một công thức: NGHIÊN CỨU ĐỂ HIỂU – ĐỐI THOẠI ĐỂ GẶP GỠ – HỘI NHẬP ĐỂ CÙNG XÂY DỰNG MỘT NỀN VĂN HÓA PHONG PHÚ HƠN.
V. DI SẢN VĂN HÓA KIẾN TẠO VĂN MINH ĐÔ THỊ
Đô thị không chỉ là nơi tập trung dân cư hay trung tâm hành chính, kinh tế của một quốc gia, mà còn là không gian hội tụ và lan tỏa các giá trị văn hóa. Vì thế, nghiên cứu lịch sử đô thị không chỉ là khảo sát sự phát triển của các công trình vật chất, nhưng còn là tìm hiểu những lực lượng đã góp phần kiến tạo nên diện mạo văn hóa của đô thị.
Lịch sử truyền giáo Công giáo tại Việt Nam cũng cần được nhìn dưới góc độ ấy. Mặc dù mục tiêu trước hết của các thừa sai là loan báo Tin Mừng, nhưng trong quá trình hiện diện và phục vụ, các ngài đã góp phần hình thành nhiều trung tâm sinh hoạt tôn giáo, giáo dục, y tế, bác ái và văn hóa. Chung quanh các trung tâm ấy, nhiều cộng đồng dân cư dần được quy tụ, các hoạt động kinh tế – xã hội được mở rộng, các thiết chế giáo dục và bác ái được thiết lập, tạo nên những hạt nhân quan trọng của đời sống đô thị.
Điều đáng chú ý là các thừa sai không xây dựng đô thị theo nghĩa quy hoạch hành chính hay phát triển quyền lực chính trị. Đóng góp của các ngài trước hết là xây dựng những thiết chế phục vụ con người: nhà thờ, chủng viện, tu viện, trường học, bệnh viện, cô nhi viện, nhà in, thư viện, cơ sở bác ái… Những công trình ấy vừa đáp ứng nhu cầu tôn giáo, vừa phục vụ giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn tri thức và phát triển văn hóa. Theo thời gian, nhiều nơi đã trở thành những điểm quy tụ dân cư, thúc đẩy sự hình thành các khu phố, thị tứ và các trung tâm đô thị mới. Nói cách khác, đô thị chính là nơi hội tụ và biểu hiện cụ thể của các giá trị văn hóa đã được kiến tạo qua nhiều thế kỷ. Di sản đô thị vì thế không chỉ bao gồm các công trình kiến trúc còn hiện hữu, mà còn bao gồm cả lối sống cộng đồng, nếp sinh hoạt xã hội, các thiết chế văn hóa và tinh thần phục vụ công ích mà các thừa sai đã góp phần vun đắp.
1. Các trung tâm truyền giáo – hạt nhân của không gian đô thị
1.1. Trung tâm truyền giáo – Khởi điểm của sự quy tụ cộng đồng:
Trong lịch sử truyền giáo, các thừa sai thường khởi đầu sứ vụ bằng việc thiết lập một cư sở truyền giáo (Residentia)[36] tại những địa điểm thuận lợi về giao thông, thương mại hoặc có điều kiện tiếp xúc với dân cư địa phương. Ban đầu, đó chỉ là những ngôi nhà đơn sơ dùng làm nơi cư trú, cầu nguyện và đón tiếp người tìm hiểu Kitô giáo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cộng đoàn tín hữu, các cư sở ấy dần trở thành những trung tâm sinh hoạt tôn giáo và văn hóa của cả một vùng.
Khác với các trung tâm quyền lực chính trị, trung tâm truyền giáo được hình thành từ nhu cầu phục vụ con người. Chung quanh nhà nguyện, nhà thờ hay tu viện, người dân đến tham dự phụng vụ, học giáo lý, học chữ, chữa bệnh, nhận sự trợ giúp bác ái hoặc tham gia các sinh hoạt cộng đồng. Chính quá trình quy tụ ấy đã góp phần tạo nên những hạt nhân đầu tiên của nhiều khu dân cư ổn định.
Nhiều trung tâm truyền giáo còn trở thành nơi gặp gỡ giữa các cộng đồng khác nhau, thúc đẩy sự giao lưu về ngôn ngữ, văn hóa và kinh tế. Theo nghĩa đó, các thừa sai đã góp phần hình thành những không gian xã hội mới, trong đó đời sống tôn giáo gắn kết chặt chẽ với các hoạt động văn hóa và phục vụ cộng đồng.
1.2. Nhà thờ – Trung tâm của đời sống cộng đồng:
Trong truyền thống Kitô giáo, nhà thờ không chỉ là nơi cử hành phụng vụ mà còn là trung tâm quy tụ cộng đoàn. Tại Việt Nam, nhiều nhà thờ được xây dựng từ rất sớm đã trở thành điểm nhấn của các khu dân cư, góp phần định hình không gian sinh hoạt chung của cộng đồng.
Chung quanh nhà thờ thường xuất hiện các trường học, nhà xứ, cơ sở bác ái, nghĩa trang, nhà hội và nhiều công trình phục vụ đời sống xã hội. Những thiết chế này tạo nên một chỉnh thể văn hóa, trong đó các nhu cầu tôn giáo, giáo dục, nhân đạo và cộng đồng được đáp ứng trong cùng một không gian.
Từ góc nhìn đô thị học, nhà thờ không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là một thiết chế xã hội, góp phần tổ chức đời sống cộng đồng, tạo nên bản sắc của từng khu dân cư và củng cố tinh thần gắn kết giữa các thành viên trong xã hội.
1.3. Các thiết chế giáo dục, y tế và bác ái – Động lực phát triển đô thị:
Một đặc điểm nổi bật của các trung tâm truyền giáo là sự phát triển đồng thời của nhiều thiết chế phục vụ con người. Bên cạnh nhà thờ, các thừa sai còn xây dựng trường học, chủng viện, nhà tập, bệnh viện, nhà dưỡng lão, cô nhi viện, nhà in và thư viện.
Những cơ sở ấy không chỉ phục vụ cộng đồng Công giáo mà còn mở rộng cho nhiều thành phần trong xã hội. Nhờ đó, các trung tâm truyền giáo dần trở thành những điểm thu hút dân cư, tạo điều kiện phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ và giao lưu văn hóa.
Sự hiện diện đồng bộ của các thiết chế giáo dục, y tế và bác ái phản ánh một quan niệm phát triển toàn diện, trong đó việc chăm lo đời sống tinh thần luôn gắn liền với việc nâng cao dân trí, bảo vệ sức khỏe và chăm sóc những người yếu thế. Chính quan niệm ấy đã góp phần tạo nên sức sống bền vững cho nhiều cộng đồng đô thị.
1.4. Trung tâm truyền giáo và sự hình thành các đô thị mới:
Trong nhiều trường hợp, sự phát triển của các trung tâm truyền giáo đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tiến trình hình thành các khu phố, thị tứ và thành phố. Các hoạt động giáo dục, y tế, xuất bản và bác ái thu hút ngày càng nhiều người đến sinh sống, học tập và làm việc, từ đó thúc đẩy sự phát triển của hạ tầng và các hoạt động kinh tế.
Dĩ nhiên, không thể quy mọi tiến trình đô thị hóa ở Việt Nam cho các trung tâm truyền giáo. Đô thị là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như địa lý, chính trị, kinh tế và giao thương. Tuy nhiên, tại không ít địa phương, các cơ sở truyền giáo đã đóng vai trò như những hạt nhân văn hóa – xã hội, góp phần đáng kể vào sự hình thành diện mạo đô thị hiện đại.
Nhìn từ góc độ này, có thể nói rằng các thừa sai không chỉ xây dựng các cộng đoàn Kitô hữu, mà còn góp phần kiến tạo những không gian xã hội giàu tính nhân văn, nơi các giá trị tôn giáo, giáo dục và văn hóa cùng nhau phát triển.
1.5. Những trung tâm truyền giáo tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam:
Lịch sử truyền giáo ghi nhận nhiều trung tâm đã để lại dấu ấn sâu đậm không chỉ đối với đời sống Giáo Hội mà còn đối với tiến trình phát triển của các địa phương.
Tại Nước Mặn[37] (Quy Nhơn), một trong những cư sở Dòng Tên đầu tiên ở Đàng Trong, các thừa sai đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu tiếng Việt, hình thành chữ Quốc ngữ và phát triển các hoạt động giáo dục, góp phần làm cho vùng đất này trở thành một trung tâm giao lưu văn hóa quan trọng.
Hội An, với vị thế là thương cảng quốc tế, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa các thừa sai và nhiều cộng đồng đến từ châu Âu và châu Á, qua đó hình thành một môi trường giao lưu văn hóa và tôn giáo đặc sắc.
Tại Kẻ Chợ (Thăng Long) và Phố Hiến, các trung tâm truyền giáo phát triển song hành với các đô thị lớn của Đàng Ngoài, góp phần thúc đẩy các hoạt động giáo dục, bác ái và đối thoại văn hóa.
Đến thế kỷ XIX và XX, các giáo phận như Huế, Quy Nhơn, Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều địa phương khác tiếp tục phát triển hệ thống nhà thờ, chủng viện, trường học, bệnh viện và các cơ sở xã hội, góp phần làm phong phú diện mạo văn hóa của các đô thị Việt Nam.
1.6. Di sản của các trung tâm truyền giáo đối với tiến trình đô thị hóa:
Ngày nay, nhiều trung tâm truyền giáo xưa vẫn tiếp tục hiện diện như những điểm nhấn văn hóa và lịch sử của các đô thị Việt Nam. Không ít nhà thờ, chủng viện, trường học, bệnh viện và cơ sở bác ái đã trở thành những công trình di sản có giá trị kiến trúc, lịch sử và xã hội. Quan trọng hơn, các trung tâm ấy để lại một mô hình phát triển trong đó con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo tồn văn hóa, hoạt động bác ái và xây dựng cộng đồng được xem là những yếu tố không thể tách rời của một đô thị phát triển bền vững. Đó chính là di sản lâu dài mà các thừa sai đã góp phần vun đắp cho lịch sử đô thị Việt Nam: không phải trước hết là những công trình vật chất, nhưng là một quan niệm về không gian đô thị như nơi phục vụ con người, nuôi dưỡng cộng đồng và phát triển văn hóa.
2. Kiến trúc đô thị và diện mạo thành phố
2.1. Kiến trúc – Ngôn ngữ của văn hóa đô thị:
Mỗi đô thị đều mang trong mình một “ký ức bằng đá”, được ghi dấu qua các công trình kiến trúc, quảng trường, đường phố và những thiết chế công cộng. Kiến trúc không chỉ phản ánh trình độ kỹ thuật hay xu hướng thẩm mỹ của một thời đại, mà còn biểu hiện quan niệm của con người về cộng đồng, về không gian sống và về những giá trị mà xã hội muốn gìn giữ.
Trong tiến trình truyền giáo tại Việt Nam, các thừa sai không chỉ xây dựng những công trình phục vụ phụng vụ mà còn góp phần hình thành một cách tổ chức không gian đô thị mới. Nhà thờ, chủng viện, trường học, bệnh viện, nhà in và các cơ sở bác ái thường được quy hoạch thành một tổng thể hài hòa, tạo nên những trung tâm sinh hoạt cộng đồng có ảnh hưởng lâu dài đối với diện mạo của nhiều đô thị.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu di sản kiến trúc của các thừa sai dưới góc nhìn đô thị học, điều đáng quan tâm không chỉ là vẻ đẹp của từng công trình riêng lẻ mà còn là cách các công trình ấy góp phần định hình cấu trúc và bản sắc của không gian đô thị.
2.2. Nhà thờ – Điểm nhấn của cảnh quan đô thị:
Ở nhiều thành phố Việt Nam, nhà thờ không chỉ là nơi cử hành phụng vụ mà còn là một trong những công trình kiến trúc nổi bật của đô thị. Tháp chuông, quảng trường, hàng cây, sân nhà thờ và các công trình phụ trợ tạo nên những điểm nhấn dễ nhận biết trong không gian thành phố. Khác với nhiều công trình công cộng khác vốn được xây dựng theo yêu cầu hành chính hoặc kinh tế, nhà thờ thường trở thành một không gian mở, nơi người dân có thể gặp gỡ, nghỉ ngơi, tham gia các hoạt động văn hóa hoặc đơn giản là tìm kiếm một khoảng lặng giữa nhịp sống đô thị. Từ góc độ quy hoạch, sự hiện diện của nhà thờ góp phần tạo nên những trục không gian và những điểm định hướng trong đô thị. Nhiều khu phố phát triển chung quanh các giáo xứ lâu đời, làm cho nhà thờ trở thành một phần của ký ức tập thể và bản sắc địa phương.
2.3. Từ kiến trúc phương Tây đến sự hội nhập với văn hóa bản địa:
Một trong những nét đặc sắc của di sản Công giáo tại Việt Nam là quá trình hội nhập giữa truyền thống kiến trúc Kitô giáo với điều kiện tự nhiên và văn hóa địa phương. Nếu những công trình đầu tiên còn mang đậm dấu ấn kiến trúc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hay Pháp, thì dần dần các kiến trúc sư và nghệ nhân Việt Nam đã biết vận dụng vật liệu bản địa, kỹ thuật xây dựng truyền thống và các yếu tố mỹ thuật dân tộc để tạo nên những công trình vừa mang bản sắc Kitô giáo vừa gần gũi với văn hóa Việt Nam. Quá trình hội nhập ấy không chỉ tạo nên sự đa dạng trong kiến trúc mà còn phản ánh tinh thần đối thoại văn hóa của các thừa sai. Thay vì áp đặt một mô hình duy nhất, nhiều công trình đã biết thích nghi với khí hậu, cảnh quan và đời sống của cộng đồng địa phương.
2.4. Không gian công cộng và đời sống đô thị:
Một đóng góp ít được chú ý nhưng có ý nghĩa lâu dài là việc hình thành các không gian công cộng chung quanh các cơ sở Công giáo. Sân nhà thờ, quảng trường nhỏ, vườn cây, nhà hội, thư viện và các khu sinh hoạt cộng đồng đã trở thành nơi gặp gỡ của nhiều thế hệ cư dân. Những không gian ấy góp phần nuôi dưỡng đời sống cộng đồng trong các đô thị, nơi con người không chỉ làm việc và sinh sống mà còn có cơ hội gặp gỡ, trao đổi và tham gia các hoạt động văn hóa – xã hội. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng hiện nay, khi nhiều thành phố đang thiếu các không gian công cộng dành cho cộng đồng, kinh nghiệm tổ chức không gian của các trung tâm truyền giáo vẫn còn nhiều giá trị tham khảo cho các nhà quy hoạch và quản lý đô thị.
2.5. Kiến trúc Công giáo và bản sắc của nhiều đô thị Việt Nam:
Qua nhiều thế kỷ, không ít công trình Công giáo đã trở thành biểu tượng văn hóa của các địa phương. Dù được xây dựng với mục đích tôn giáo, nhiều nhà thờ, chủng viện, trường học và bệnh viện ngày nay đã vượt ra ngoài phạm vi của cộng đồng Công giáo để trở thành một phần của di sản kiến trúc quốc gia. Điều này cho thấy bản sắc của một đô thị không chỉ được hình thành từ các công trình hành chính hay thương mại, mà còn từ những thiết chế văn hóa và tôn giáo góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của cư dân. Ở nhiều nơi, hình ảnh nhà thờ đã trở thành một dấu ấn quen thuộc trong ký ức đô thị, gắn liền với lịch sử hình thành thành phố, với những biến cố của địa phương và với đời sống thường nhật của nhiều thế hệ người dân.
2.6. Thành phố Kontum – Một đô thị hình thành từ công cuộc truyền giáo:
Trong lịch sử đô thị Việt Nam, Kontum là một trường hợp đặc biệt. Khác với nhiều thành phố vốn phát triển từ trung tâm hành chính, thương cảng hoặc đầu mối giao thương, Kontum hình thành và lớn mạnh trước hết từ một trung tâm truyền giáo. Chính sự hiện diện kiên trì của các thừa sai, cùng với mạng lưới các cơ sở tôn giáo, giáo dục, y tế và bác ái được xây dựng qua nhiều thế hệ, đã góp phần quyết định vào diện mạo của thành phố ngày nay.
Từ giữa thế kỷ XIX, sau những chuyến thám hiểm truyền giáo đầy gian nan của các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris, đặc biệt là các vị như Jean-Baptiste Combes, Pierre Dourisboure (Cố Ân), vùng đất Kontum từng bước trở thành trung tâm của công cuộc truyền giáo tại Tây Nguyên. Từ một vùng cư trú thưa thớt của các dân tộc bản địa, nơi đây dần hình thành một cộng đồng ổn định với những thiết chế xã hội mang tính nền tảng.
Nhà thờ Chính tòa Kontum, Tiểu Chủng viện, Tòa Giám mục, các trường học, bệnh xá, cô nhi viện, các cơ sở đào tạo nghề và các hội dòng hiện diện tại đây không chỉ phục vụ đời sống tôn giáo mà còn góp phần tổ chức đời sống xã hội của cư dân địa phương. Chung quanh các thiết chế ấy, các khu dân cư từng bước mở rộng; các tuyến giao thông được hình thành; các hoạt động thương mại, giáo dục và dịch vụ phát triển; từ đó tạo nên diện mạo của một đô thị miền cao nguyên.
Điều đặc biệt là quá trình hình thành Kontum không tách rời văn hóa bản địa, nhưng diễn ra trong sự gặp gỡ và hội nhập. Các thừa sai học ngôn ngữ của các dân tộc Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai và nhiều cộng đồng khác; đồng thời khuyến khích việc bảo tồn nhiều giá trị văn hóa truyền thống. Kiến trúc Nhà thờ Gỗ Kontum là một minh chứng sinh động cho sự kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật kiến trúc châu Âu với nghệ thuật nhà sàn Tây Nguyên, mở đầu cho một hướng hội nhập văn hóa trong kiến trúc Công giáo Việt Nam.
Không chỉ kiến tạo các công trình, các thừa sai còn góp phần đào tạo nhiều thế hệ giáo lý viên, giáo viên, y tá, nghệ nhân và những người lãnh đạo cộng đồng. Nhờ đó, công cuộc truyền giáo không dừng lại ở việc thiết lập các cơ sở tôn giáo, nhưng còn thúc đẩy sự hình thành một đời sống đô thị biết kết hợp giữa giáo dục, chăm sóc sức khỏe, liên đới xã hội và tôn trọng bản sắc văn hóa địa phương.
Ngày nay (Trước năm 2025), Kontum không chỉ là trung tâm hành chính của tỉnh Kon Tum, mà còn là một trong những trung tâm văn hóa – tôn giáo đặc sắc của vùng Tây Nguyên. Nhiều công trình do các thừa sai xây dựng đã trở thành những biểu tượng của thành phố và là điểm đến của các nhà nghiên cứu, kiến trúc sư, khách hành hương và du khách. Điều đó cho thấy di sản mà các thừa sai để lại không chỉ hiện diện trong ký ức của Giáo Hội, mà đã trở thành một phần của ký ức đô thị và di sản văn hóa quốc gia.
Nhìn dưới góc độ lịch sử đô thị, Kontum cho thấy một mô hình phát triển đặc biệt: một thành phố được kiến tạo không phải trước hết từ quyền lực chính trị hay động lực kinh tế, nhưng từ một mạng lưới các thiết chế giáo dục, y tế, bác ái và văn hóa được xây dựng quanh trung tâm truyền giáo. Đây là một trường hợp hiếm có trong lịch sử Việt Nam, đồng thời là minh chứng tiêu biểu cho thấy công cuộc truyền giáo của các thừa sai đã góp phần không chỉ vào đời sống đức tin mà còn vào quá trình hình thành không gian đô thị và phát triển xã hội ở Tây Nguyên.
3. Đời sống cộng đồng và sự hình thành văn hóa đô thị
3.1. Giáo xứ – Tế bào của cộng đồng đô thị:
Trong tiến trình hình thành các đô thị Việt Nam, giáo xứ không chỉ là một đơn vị tổ chức tôn giáo mà còn là một cộng đồng xã hội có tính ổn định cao. Chung quanh nhà thờ và các thiết chế mục vụ, nhiều thế hệ tín hữu đã cùng nhau xây dựng một nếp sống dựa trên sự liên đới, tương trợ và trách nhiệm chung. Khác với quan niệm thuần túy về một cộng đoàn phụng vụ, giáo xứ trong lịch sử truyền giáo còn đảm nhận nhiều chức năng giáo dục, bác ái, văn hóa và xã hội. Trường học, hội đoàn, lớp giáo lý, các hoạt động cứu trợ và chăm sóc người nghèo đã làm cho giáo xứ trở thành một môi trường đào luyện con người toàn diện. Từ góc nhìn văn hóa đô thị, giáo xứ góp phần hình thành ý thức cộng đồng, tạo nên những mối tương quan bền chặt giữa các gia đình và nuôi dưỡng tinh thần trách nhiệm đối với đời sống chung. Chính những yếu tố ấy là nền tảng quan trọng của một đô thị nhân văn.
3.2. Hội đoàn – Trường học của tinh thần cộng tác:
Một trong những nét đặc sắc của truyền thống Công giáo là sự phát triển của các hội đoàn giáo dân. Ngay từ thời các thừa sai, nhiều hình thức quy tụ giáo dân đã được tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu cầu nguyện, giáo dục, bác ái và phục vụ cộng đồng. Các hội đoàn không chỉ giúp củng cố đời sống đức tin mà còn đào luyện kỹ năng tổ chức, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác giữa các thành viên. Qua việc cùng nhau thực hiện các công việc chung, nhiều người được rèn luyện ý thức phục vụ và năng lực lãnh đạo cộng đồng. Trong bối cảnh đô thị hiện đại, khi nhịp sống dễ dẫn đến sự cô lập của từng cá nhân, kinh nghiệm sinh hoạt hội đoàn vẫn cho thấy giá trị của việc xây dựng những cộng đồng nhỏ biết chia sẻ trách nhiệm, phát huy sáng kiến và cùng nhau phục vụ thiện ích chung.
3.3. Văn hóa liên đới và các hoạt động bác ái:
Từ những ngày đầu truyền giáo, các thừa sai luôn gắn việc loan báo Tin Mừng với việc chăm sóc những người nghèo, người bệnh, trẻ em mồ côi, người già neo đơn và các nhóm dễ bị tổn thương. Nhiều bệnh xá, cô nhi viện, nhà dưỡng lão và cơ sở cứu trợ được thiết lập không chỉ để đáp ứng những nhu cầu trước mắt mà còn góp phần xây dựng một nền văn hóa liên đới trong xã hội. Tinh thần ấy dần trở thành một nét đặc trưng của nhiều cộng đồng Công giáo. Các hoạt động bác ái không chỉ diễn ra trong những thời điểm khẩn cấp mà còn trở thành một lối sống, một phương thức giáo dục về lòng nhân ái và trách nhiệm đối với tha nhân. Đối với đời sống đô thị, văn hóa liên đới góp phần giảm bớt sự phân hóa xã hội, củng cố các mối tương quan giữa con người và tạo nên những mạng lưới hỗ trợ cộng đồng có ý nghĩa lâu dài.
3.4. Giáo dục công dân và ý thức trách nhiệm xã hội:
Một đóng góp quan trọng khác của các thừa sai là việc đào luyện con người biết sống có kỷ luật, tôn trọng luật pháp, giữ chữ tín và ý thức về bổn phận đối với cộng đồng. Những giá trị ấy được chuyển tải không chỉ qua giáo lý mà còn qua hoạt động giáo dục trong các trường học, chủng viện và hội đoàn. Việc giáo dục trách nhiệm không nhằm đào tạo những cá nhân chỉ biết quyền lợi của mình, nhưng hướng đến việc hình thành những con người biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng, biết cộng tác với người khác và biết tham gia tích cực vào đời sống xã hội. Trong tiến trình phát triển đô thị, đây là một yếu tố rất quan trọng. Một thành phố văn minh không chỉ được xây dựng bằng cơ sở hạ tầng hiện đại mà còn bằng những công dân có ý thức trách nhiệm, biết tôn trọng các quy tắc chung và góp phần gìn giữ trật tự xã hội.
3.5. Văn hóa gia đình – Nền tảng của đời sống đô thị:
Các thừa sai luôn coi gia đình là “Giáo hội tại gia” và là môi trường đầu tiên để giáo dục nhân cách. Vì thế, cùng với việc xây dựng giáo xứ và trường học, các ngài cũng quan tâm đến việc củng cố đời sống hôn nhân, giáo dục con cái và gìn giữ các giá trị đạo đức trong gia đình. Nhiều thế hệ tín hữu được hình thành trong môi trường gia đình biết đề cao tình yêu thương, sự chung thủy, lòng hiếu thảo và tinh thần trách nhiệm. Những giá trị ấy không chỉ có ý nghĩa tôn giáo mà còn góp phần tạo nên sự ổn định của đời sống xã hội và của các cộng đồng đô thị. Ngày nay, giữa những biến đổi nhanh chóng của đời sống hiện đại, di sản ấy vẫn mang ý nghĩa thời sự, nhắc nhở rằng sự phát triển của đô thị phải bắt đầu từ việc xây dựng những gia đình bền vững và nhân bản.
3.6. Văn hóa đối thoại và sự chung sống hài hòa:
Trong nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, các cộng đồng Công giáo đã cùng chung sống với các cộng đồng thuộc những truyền thống tôn giáo và văn hóa khác. Quá trình ấy đặt ra nhu cầu đối thoại, tôn trọng sự khác biệt và cộng tác vì lợi ích chung. Nhiều thừa sai đã học ngôn ngữ địa phương, tìm hiểu phong tục tập quán và nỗ lực hội nhập vào đời sống của người dân. Tinh thần ấy góp phần hình thành một văn hóa gặp gỡ, trong đó sự khác biệt không phải là nguyên nhân của chia rẽ mà trở thành cơ hội để hiểu biết và cộng tác. Đây cũng là một trong những nền tảng của đời sống đô thị hiện đại, nơi nhiều cộng đồng cùng chia sẻ một không gian sống và cùng nhau xây dựng một xã hội hòa bình, bao dung và phát triển.
4.1. Đô thị truyền giáo và tiến trình hiện đại hóa:
Lịch sử hiện đại hóa ở Việt Nam là kết quả của nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội tác động lẫn nhau. Trong tiến trình ấy, các trung tâm truyền giáo Công giáo không phải là lực lượng duy nhất, nhưng đã góp phần đáng kể vào việc hình thành nhiều yếu tố nền tảng của đời sống đô thị hiện đại. Thông qua việc xây dựng nhà thờ, trường học, bệnh viện, chủng viện, nhà in, cơ sở bác ái và các thiết chế phục vụ cộng đồng, các thừa sai đã góp phần đưa vào Việt Nam nhiều mô hình tổ chức xã hội mới, những phương thức quản lý, giáo dục và chăm sóc con người mang tính hệ thống. Các thiết chế ấy không chỉ phục vụ đời sống Giáo Hội mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nhiều địa phương. Nhìn từ góc độ lịch sử, các trung tâm truyền giáo có thể được xem như những “hạt nhân văn hóa” góp phần chuẩn bị cho tiến trình hiện đại hóa của nhiều đô thị Việt Nam.
4.2. Hình thành các thiết chế phục vụ công ích:
Một trong những đặc điểm nổi bật của các trung tâm truyền giáo là việc xây dựng đồng bộ nhiều thiết chế công ích. Trường học đào tạo con người; bệnh viện và bệnh xá chăm sóc sức khỏe; cô nhi viện, viện dưỡng lão và các cơ sở bác ái bảo vệ những người dễ bị tổn thương; nhà in và thư viện phổ biến tri thức. Điều đáng chú ý là nhiều thiết chế ấy được tổ chức với phương thức quản lý khá hiện đại, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, có quy chế hoạt động ổn định và hướng đến việc phục vụ lâu dài. Chính mô hình này đã góp phần giới thiệu những kinh nghiệm tổ chức xã hội mới, phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại. Trong nhiều trường hợp, các thiết chế Công giáo còn trở thành nguồn cảm hứng cho việc hình thành hoặc cải tổ các cơ sở giáo dục, y tế và xã hội tại nhiều địa phương.
4.3. Đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội:
Các thừa sai đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo con người. Hệ thống trường học, chủng viện, trường kỹ thuật và các cơ sở dạy nghề đã góp phần hình thành nhiều thế hệ biết chữ, có kiến thức chuyên môn và có ý thức phục vụ cộng đồng. Không ít học sinh được đào tạo trong các trường Công giáo sau này trở thành giáo viên, bác sĩ, luật gia, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, kỹ sư và những người đảm nhận nhiều trách nhiệm trong đời sống xã hội. Điều đó cho thấy đóng góp của các thừa sai không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc phát triển đất nước.
4.4. Thúc đẩy giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế:
Các đô thị truyền giáo thường là những nơi diễn ra sự gặp gỡ giữa Việt Nam với nhiều nền văn hóa khác nhau. Thông qua các thừa sai, người Việt có cơ hội tiếp cận với nhiều thành tựu về khoa học, giáo dục, kỹ thuật in ấn, âm nhạc, kiến trúc và tư tưởng nhân văn của thế giới. Ngược lại, chính các thừa sai cũng góp phần giới thiệu ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa và phong tục Việt Nam ra quốc tế thông qua các công trình nghiên cứu, từ điển, bản đồ, sách du ký và các tác phẩm dân tộc học. Nhờ đó, các trung tâm truyền giáo trở thành những điểm kết nối giữa Việt Nam với đời sống học thuật và văn hóa toàn cầu.
4.5. Góp phần hình thành văn hóa quản trị đô thị:
Bên cạnh các công trình vật chất, các thừa sai còn để lại những kinh nghiệm đáng quý về quản trị cộng đồng. Việc điều hành giáo xứ, trường học, bệnh viện, chủng viện và các cơ sở bác ái đòi hỏi sự phân công trách nhiệm, tinh thần cộng tác, quản lý tài chính minh bạch và ý thức phục vụ công ích. Mặc dù những mô hình ấy chủ yếu nhằm phục vụ đời sống Giáo Hội, nhưng nhiều nguyên tắc tổ chức của chúng như đề cao trách nhiệm cá nhân, tôn trọng quy chế, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và chú trọng đào tạo nhân sự vẫn có giá trị tham khảo đối với việc quản trị các thiết chế xã hội hiện đại.
Theo nghĩa đó, di sản của các thừa sai không chỉ nằm ở các công trình còn hiện hữu mà còn ở những phương thức tổ chức và quản trị góp phần xây dựng một nền văn hóa đô thị có kỷ cương và trách nhiệm.
4.6. Hiện đại hóa gắn liền với phát triển con người:
Một bài học quan trọng từ các trung tâm truyền giáo là quan niệm về sự phát triển toàn diện. Đối với các thừa sai, hiện đại hóa không đồng nghĩa với việc chỉ phát triển cơ sở vật chất hay kỹ thuật, nhưng phải đồng thời nâng cao trình độ học vấn, chăm sóc sức khỏe, bồi dưỡng đời sống tinh thần và củng cố các giá trị đạo đức. Quan điểm ấy vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh phát triển hiện nay. Một đô thị không thể được xem là hiện đại nếu chỉ có những công trình kiến trúc đồ sộ mà thiếu các không gian văn hóa, thiếu sự quan tâm đến người nghèo, thiếu giáo dục chất lượng và thiếu những cộng đồng biết sống liên đới. Di sản của các thừa sai nhắc nhở rằng mục tiêu cuối cùng của mọi tiến trình hiện đại hóa vẫn là sự phát triển toàn diện của con người.
4.7. Di sản đô thị và những định hướng cho tương lai:
Trong thế kỷ XXI, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đô thị hóa nhanh chóng với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Áp lực dân số, biến đổi khí hậu, bảo tồn di sản, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng sống đòi hỏi một tầm nhìn phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và môi trường. Từ góc nhìn đó, di sản đô thị của các thừa sai tiếp tục gợi mở nhiều bài học có giá trị: lấy con người làm trung tâm của phát triển; kết hợp giáo dục, y tế, văn hóa và bác ái trong cùng một chiến lược phát triển cộng đồng; tôn trọng bản sắc địa phương đồng thời mở rộng giao lưu quốc tế; bảo tồn các giá trị lịch sử trong tiến trình đổi mới.
Dĩ nhiên, những bài học ấy cần được vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với bối cảnh của Việt Nam hôm nay. Tuy nhiên, chúng vẫn là những kinh nghiệm quý giá, cho thấy một mô hình phát triển trong đó tiến bộ vật chất luôn gắn liền với chiều sâu văn hóa và trách nhiệm xã hội.
Kết: Di sản văn hóa đô thị – Một hành trình vẫn đang tiếp diễn:
Nhìn lại hơn bốn thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, có thể khẳng định rằng các thừa sai Công giáo đã góp phần tạo nên nhiều giá trị vượt lên trên phạm vi của hoạt động truyền giáo. Những trung tâm truyền giáo, các thiết chế giáo dục, y tế, bác ái, nghiên cứu, xuất bản và truyền thông đã cùng nhau hình thành nên những không gian văn hóa có ảnh hưởng lâu dài đối với tiến trình phát triển của nhiều đô thị Việt Nam.
Điều quan trọng hơn, di sản ấy không chỉ thuộc về quá khứ. Mỗi ngôi trường tiếp tục đào tạo các thế hệ trẻ, mỗi bệnh viện vẫn chăm sóc người bệnh, mỗi nhà thờ vẫn quy tụ cộng đồng, mỗi thư viện và trung tâm nghiên cứu vẫn lan tỏa tri thức. Chính trong sự tiếp nối ấy, di sản văn hóa đô thị của các thừa sai vẫn đang được làm phong phú qua sự đóng góp của các thế hệ hôm nay.
Vì thế, nhìn nhận đúng giá trị của di sản này không chỉ là một công việc của sử học hay văn hóa học, nhưng còn là một trách nhiệm đối với tương lai. Bảo tồn và phát huy những giá trị mà các thừa sai đã góp phần vun đắp chính là góp phần xây dựng những đô thị Việt Nam ngày càng văn minh, nhân bản, giàu bản sắc và phát triển bền vững.
KẾT LUẬN CHUNG
DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC THỪA SAI CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM: MỘT GIAO ĐIỂM GIỮA ĐỨC TIN, VĂN HÓA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
Như một “trực giác” của một “cảm thức đức tin” (Sensus fidei) được xây dựng trên nền tảng mạc khải Thánh Kinh và Thánh Truyền, hơn 60 năm trước, Công đồng Vaticanô II, qua Hiến chế tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) đã dõng dạc tuyên bố với các Kitô hữu và mọi người trên thế giới:
Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Kitô, vì vậy, Thánh Công Đồng được quy tụ trong Chúa Thánh Thần, tha thiết mong muốn soi dẫn mọi người bằng ánh sáng của Người, đang chiếu tỏa trên khuôn mặt Giáo Hội, để Tin Mừng được loan báo cho mọi loài thụ tạo (x. Mc 16:15). (Hiến chế tín l;ý về Giáo Hội – Lumen Gentium = LG số 1)
Vâng, ơn gọi và sứ mệnh của Giáo Hội xuyên suốt hai ngàn năm qua chính là thực thi mệnh lệnh của Đấng Cứu Thế: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,14). Trên con đường dài với bao thăng trầm dâu bể của lịch sử loài người, những biến đổi can qua của nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa, những tác động tích cực hay tiêu cực, chủ quan hay khác quan… thì sứ mệnh của Giáo Hội, của mỗi Kitô hữu vẫn mãi là: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp miền Giuđê, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Và dĩ nhiên, việc “làm chứng” hay “tỏa sáng gương mặt Đức Kitô” không bao giờ là một sự “áp đặt” hay “trịch thượng” xem thường các giá trị tinh thần, các nền văn hóa bản địa, nhưng là sự trân trọng đón nhận trong phân định và thanh lọc, như giáo huấn của Vaticanô II qua Sắc lệnh Truyền Giáo (Ad Gentes = AG):
“Bởi vậy, tất cả những gì tốt đẹp đã được gieo vãi trong tâm hồn con người, hoặc trong những nghi lễ và văn hóa đặc thù của các dân tộc, sẽ không bị hủy bỏ, nhưng được chữa lành, thăng tiến và hoàn thiện để Thiên Chúa được tôn vinh, ma quỷ phải nhục nhã và con người được hạnh phúc.” (AG số 9).
“Thật vậy, khi đến với dân tộc nào, phải thật sự quý trọng di sản, tiếng nói và phong tục của dân tộc đó” (AG số 16)
Riêng công cuộc truyền giáo tại Á châu này, ngay từ thế kỷ 17, chính thức qua văn kiện “Huấn thị 1659” của Thánh Bộ Truyền bá đức tin, Tòa Thánh đã ân cần căn dặn các Giám mục Tông tòa được sai đến vùng đất này:
“Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đổi những phép xã giao, tập tục, phong hóa của họ, trừ khi nó hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý. Có gì vô lý bỉ ổi hơn mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý, hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Trung Hoa chăng ? Không phải mang thứ ấy đến cho họ, bèn là mang chân lý đức tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến những nghi lễ ấy, miễn là chúng không xấu ; ngược lại, chân lý ấy, muốn cho người ta bảo tồn và duy trì chúng là đàng khác.” (HT 1659, Chương III, số 13)
“Hơn nữa, để cổ võ việc viết sách và khảo cứu đạo giáo trong những miền đó, cần phải dịch từ tiếng la tinh hoặc Hy Lạp sang tiếng địa phương một số sách thần học của các thánh nhân và những sách khác như vậy. Cho nên, chư huynh hãy cẩn thận tìm tại nơi chư huynh ở hoặc nơi khác một cộng sự viên nào khả dĩ chu toàn công việc ấy, nghĩa là thạo cả hai ngôn ngữ và cả đạo lý. Tìm được người nào, hãy trình cho Thánh Bộ được rõ. Chư huynh hãy tận tâm và gắng lo sáng lập nhiều trường học để dạy miễn phí la ngữ cho thanh thiếu niên bản xứ, còn giáo lý thì dạy bằng tiếng bản quốc. Hãy lo sao cho các phụ huynh công giáo giao con em theo học với chư huynh cùng với các cộng sự viên của chư huynh chứ đừng để chúng theo học người bên lương.” (HT 1659, Chương III, số 21).
Từ những định hướng đúng đắn và cần thiết đó, có thể nói được, suốt hơn bốn thế kỷ loan báo Tin mừng và hiện diện trên đất Việt Nam, các thừa sai Công giáo đã để lại một di sản phong phú và đa dạng. Bên cạnh sứ mạng đức tin, các ngài còn là những người học hỏi ngôn ngữ, nghiên cứu văn hóa, xây dựng trường học, mở bệnh viện, phát triển kỹ thuật in ấn, sáng tạo nghệ thuật, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và góp phần hình thành nhiều thiết chế xã hội có giá trị lâu dài.
Ở Chương I: Di sản văn hóa xây dựng con người, chúng ta vừa khảo sát những đóng góp của các thừa sai trong việc góp phần xây dựng con người Việt Nam trên nhiều phương diện: từ ngôn ngữ, giáo dục, tri thức, nhân bản đến đời sống tinh thần và đạo đức. Những đóng góp ấy không chỉ làm phong phú đời sống của các cộng đồng Công giáo mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Đặc biệt, việc hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ, sự phát triển của hệ thống giáo dục, việc đào tạo nhân lực và sự cổ võ tinh thần học hỏi đã trở thành những yếu tố quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.
Tiếp đó, Chương II: Di sản văn hóa kiến tạo xã hội, chúng ta đã nhận thấy rằng: hoạt động truyền giáo không dừng lại ở việc biến đổi từng cá nhân, nhưng còn góp phần hình thành nhiều thiết chế văn hóa và xã hội. Từ các công trình nghệ thuật, nghiên cứu khoa học, xuất bản, truyền thông cho đến việc xây dựng các trung tâm truyền giáo và góp phần định hình nhiều không gian đô thị, các thừa sai đã tham gia vào tiến trình kiến tạo đời sống cộng đồng bằng nhiều con đường khác nhau. Những đóng góp ấy cho thấy truyền giáo không chỉ là việc loan báo một niềm tin, mà còn là việc xây dựng những điều kiện giúp con người phát triển toàn diện về tri thức, văn hóa và đời sống xã hội.
Dĩ nhiên, một công trình nghiên cứu lịch sử cũng đòi hỏi thái độ khách quan. Không thể phủ nhận rằng lịch sử truyền giáo tại Việt Nam từng trải qua những giai đoạn phức tạp, chịu tác động của các biến động chính trị, những khác biệt văn hóa và cả những giới hạn của từng thời đại. Tuy nhiên, các thừa sai cũng là những con người của lịch sử, nên hoạt động của các ngài không tránh khỏi những giới hạn trong nhận thức hay phương pháp, trong kỹ năng hay ứng xử mục vụ. Dù sao, chính một cách tiếp cận quân bình sẽ giúp việc đánh giá di sản truyền giáo trở nên khách quan, khoa học và thuyết phục hơn.
Từ góc nhìn hiện nay, những di sản ấy vẫn còn nhiều giá trị gợi mở. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công cuộc hội nhập quốc tế, phát triển đô thị, chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế tri thức, nhiều kinh nghiệm của các thừa sai vẫn giữ nguyên ý nghĩa: coi trọng giáo dục như nền tảng của phát triển; kết hợp tri thức với đạo đức; phát triển khoa học trong sự tôn trọng con người; thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn hóa; gìn giữ bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập; xây dựng các thiết chế phục vụ cộng đồng; và đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động phát triển. Cách tiếp cận liên ngành này cho phép kết nối thần học với sử học, văn hóa học, xã hội học, nhân học, đô thị học, giáo dục học, ngôn ngữ học và truyền thông học, từ đó giúp nhận diện đầy đủ hơn những tác động đa chiều của hoạt động truyền giáo đối với đời sống dân tộc.
Cuối cùng, chuyên khảo mong muốn góp một tiếng nói vào việc xây dựng một cái nhìn quân bình và đối thoại đối với lịch sử. Lịch sử không nên bị giản lược thành những phán đoán một chiều, cũng không nên bị chi phối bởi những định kiến của bất cứ phía nào. Việc nhận diện và trân trọng những giá trị văn hóa mà các thừa sai Công giáo đã góp phần vun đắp không nhằm phủ nhận vai trò của các truyền thống khác, nhưng góp phần khẳng định rằng nền văn hóa Việt Nam được hình thành từ sự gặp gỡ, giao lưu và tiếp biến của nhiều nguồn mạch và lựa chọn khác nhau. Chính trong sự gặp gỡ ấy, bản sắc văn hóa Việt Nam ngày càng trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn và có khả năng hội nhập sâu rộng với cộng đồng nhân loại.
Khép lại chuyên khảo này, có thể khẳng định rằng di sản lớn nhất mà các thừa sai Công giáo để lại không chỉ là những công trình vật chất, những cuốn sách, những trường học hay những nhà thờ, nhưng trước hết là một tinh thần phục vụ con người bằng con đường văn hóa. Chính tinh thần ấy đã giúp Tin Mừng bén rễ vào lòng dân tộc, đồng thời góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam. Và cũng chính tinh thần ấy tiếp tục mời gọi các thế hệ hôm nay biết trân trọng quá khứ, dấn thân trong hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai trong đó đức tin, văn hóa và sự phát triển luôn đồng hành vì phẩm giá con người và thiện ích của toàn xã hội.
Riêng với những người Kitô hữu, khi ý thức sứ mệnh “Thừa sai” của mình cũng là lúc biết phó thác mọi sự cho ân sủng của Thiên Chúa, như Gaudium et Spes đã nhắn gởi:
Với nguồn thiên ân sung mãn, Tin Mừng tác động từ bên trong làm cho những đức tính và nét đẹp cao quý nơi tâm hồn các dân tộc hay của từng thời đại được thêm phong phú, được củng cố, bổ túc và tái tạo chúng trong Chúa Kitô” (GS số 58).
_________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 CAO HUY THUẦN, Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), Nxb Hồng Đức 2017.
2 TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2021.
3 PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), Nxb Văn học 2024,
4 LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, , Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ, Nxb Hồng Đức 2023.
5 BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ, Kỷ yếu Hội thảo (13.01.2016 TẠI Quy Nhơn), Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2016.
6 NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, Nxb Khoa học xã hội 2020.
7 HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA, Tài liệu Hội thảo 25&26.10.2019.
8 LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những ngọn đuốc hồng, Tủ sách Nước Mặn 2026.
9 LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, Nxb Đồng Nai 2025.
10 LM. ĐÀO QUANG TOẢN, Tìm hiểu lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, 2013.
11 BAN THƯỜNG HUẤN LINH MỤC GIÁO PHẬN QUI NHƠN 2026, Dilexi Te, một Giáo hội nghèo và vì người nghèo.
[1] CAO HUY THUẦN, Các giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), Nxb Hồng Đức 2017, Tổng luận trước khi vào đề, tr. 7-10.
[2] Redemptor Hominis (Đấng Cứu Chuộc Con Người) là Thông điệp đầu tiên của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, được ban hành ngày 4 tháng 3 năm 1979, chỉ vài tháng sau khi ngài được bầu làm Giáo hoàng (16.10.1978).Thông điệp có thể được cô đọng trong một tư tưởng trung tâm: Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc con người, và con người chỉ thực sự hiểu được phẩm giá, ơn gọi và vận mệnh của mình trong Đức Kitô.
[3] MONITA AD MISSIONARIOS (NHẮN NHỦ CÁC THỪA SAI): Văn kiện của Công nghị (hay Công đồng) Ajuthia 1664 (Ayutthaya – Kinh đô của Thái Lan lúc bấy giờ) được hai đức Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài: Lambert de la Motte và Fr. Pallu, triệu tập họp cùng với 5 linh mục từ ngày Thứ Sáu sau Thứ Tư Lễ Tro tức ngày 29.02.1664 (Năm nhuận) cho đến tháng 5.1664. Văn kiện thường được gọi tắt là “MONITA”. Đây là “Kim Chỉ nam” cho công cuộc truyền giáo tại Á Châu vào thế kỷ XVII. (X. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2021)
[4] MONITA, Chương II, Tiết 5. (X. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, sđd, tr. 201).
[5] Thánh Giêrônimô (347–420): hay Jerome (Hieronymus) sinh khoảng năm 347 tại Stridon, thuộc vùng Dalmatia (nay nằm giữa Croatia và Slovenia). Sau khi học văn chương và triết học tại Rôma, ngài lãnh nhận bí tích Rửa tội rồi sống đời khổ tu tại Syria để đào sâu Kinh Thánh. Nhờ thông thạo tiếng Latinh, Hy Lạp và Hípri, ngài trở thành một trong những học giả Kinh Thánh lỗi lạc nhất của Giáo Hội. Theo lời mời của Đức Giáo hoàng Damasô I, ngài thực hiện việc hiệu đính và dịch toàn bộ Kinh Thánh sang tiếng Latinh, hình thành bản Vulgata, bản văn chính thức của Giáo hội Tây phương suốt hơn một thiên niên kỷ. Những năm cuối đời, ngài sống tại Bêlem, điều hành tu viện, chuyên nghiên cứu, giảng dạy và trước tác. Ngài qua đời năm 420 và được tôn phong là Tiến sĩ Hội Thánh.
[6] Thánh Cyrillô (826-869) và Mêthôdiô (815-885): Cyrillô and Methôdiô là hai anh em ruột, sinh tại Thessalonica (Hy Lạp) vào đầu thế kỷ IX. Cyrillô tên khai sinh là Constantinus, nổi tiếng uyên bác về triết học và ngôn ngữ; Mêthôdiô từng là quan chức trước khi trở thành đan sĩ. Năm 863, hai ngài được sai đến truyền giáo cho các dân tộc Slav tại Đại Moravia. Thánh Cyrillô sáng tạo bảng chữ cái Glagolitic, nền tảng cho chữ Kirin (Cyrillic) sau này, đồng thời hai ngài dịch Kinh Thánh và các sách phụng vụ sang tiếng Slav. Công trình của các ngài đặt nền móng cho văn hóa và Kitô giáo của nhiều dân tộc Đông Âu. Năm 1980, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hai ngài là Đồng Bổn mạng châu Âu, cùng với thánh Biển Đức.
[7] Linh mục Matteo Ricci (1552–1610): Sinh năm 1552 tại Macerata (Ý) và gia nhập Dòng Tên năm 1571. Sau thời gian học tại Rôma dưới sự hướng dẫn của nhà toán học Christopher Clavius, ngài được sai sang Viễn Đông năm 1578. Từ năm 1583, ngài bắt đầu sứ vụ truyền giáo tại Trung Hoa và nhanh chóng nổi tiếng nhờ uyên thâm về toán học, thiên văn, địa lý và triết học. Ricci chủ trương hội nhập văn hóa, mặc trang phục nho sĩ, sử dụng tiếng Hán thành thạo và đối thoại với giới trí thức Trung Hoa. Ngài biên soạn nhiều tác phẩm bằng Hán văn, trong đó nổi tiếng là Bản đồ thế giới Vạn Quốc Toàn Đồ (Kunyu Wanguo Quantu) và nhiều sách triết học, khoa học. Phương pháp truyền giáo của ngài mở ra một hướng đi mới cho công cuộc loan báo Tin Mừng tại châu Á. Ngài qua đời tại Bắc Kinh năm 1610 và hiện đang trong tiến trình được phong chân phước.
[8] Roberto de Nobili (1577–1656): Roberto de Nobili sinh năm 1577 trong một gia đình quý tộc tại Montepulciano (Ý). Gia nhập Dòng Tên năm 1597, ngài được sai đến Ấn Độ và bắt đầu truyền giáo tại Madurai từ năm 1606. Ngài chọn lối sống khổ hạnh như một đạo sĩ Ấn Độ, học thông thạo tiếng Tamil, Sanskrit và Telugu, đồng thời nghiên cứu sâu triết học và văn hóa Hindu. Roberto de Nobili phân biệt giữa các tập tục văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo, nhờ đó phát triển một phương pháp hội nhập văn hóa mang tính tiên phong trong lịch sử truyền giáo. Dù gặp nhiều tranh luận trong Giáo hội, đường hướng của ngài về sau được nhìn nhận như một đóng góp quan trọng cho thần học hội nhập văn hóa. Ngài qua đời tại Mylapore (Ấn Độ) năm 1656, để lại ảnh hưởng sâu rộng đối với các thế hệ thừa sai sau này, đặc biệt tại châu Á.
[9] PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), Nxb Văn học 2024, tr. 58: “Kể từ thời François Xavier cho đến khi Dòng Tên bị giải thể (tạm thời) vào năm 1773, các giáo sĩ Dòng Tên đã soạn 164 cuốn tự điển, 165 cuốn văn phạm, 167 cuốn giáo lý và 430 văn bản bằng 134 ngôn ngữ và 6 phương ngữ”
[10] Alexandre de Rhodes (1593 – 1666): Là công dân Avignon lãnh địa của Giáo hoàng (1348 – 1791). Ngài hoạt động tại Đàng Trong hai lần: Lần đầu từ năm 1624 – 1626; lần hai từ năm 1640 – 1645; tại Đàng ngoài từ năm 1627 – 1630. Sau khi (vĩnh viễn) rời Đàng Trong, cha Đắc Lộ đã về giáo đô Rôma để tại đây (sau đó tại Pháp) ngài tích cực vận động Tòa Thánh gởi Giám mục sang vùng viễn Đông. Từ năm 1655-1660 ngài đi truyền giáo ở Ba Tư và qua đời tại Isfahan. Trong thế hệ thừa sai Dòng Tên đầu tiên truyền giáo tại Việt Nam, có thẻ nói được, ngài có công lớn nhất trong việc kiện toàn chữ Quốc ngữ khi đích thân biên soạn và xuất bản hai tác phẩm Quốc ngữ (được xem như) đầu tiên: Tự điển “Việt-Bồ-La” và cuốn giáo lý “Phép giảng tám ngày”. Cả hai cuốn được in tại nhà in đa ngữ của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin tại Rôma năm 1651. (X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, , Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ, Nxb Hồng Đức 2023, CHƯƠNG BA, CUỘC ĐỜI, SỨ VỤ VÀ CÁC TÁC PHẨM CỦA CHA ALEXANDRE DE RHODES, từ tr. 128-302).
[11] BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ, Kỷ yếu Hội thảo (13.01.2016 TẠI Quy Nhơn), Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 2016, GS. PHAN HUY LÊ, Tổng kết Hội thảo khoa học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, tr. 620.
[12] NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, Nxb Khoa học xã hội 2020, “KHÔNG CÓ ÔNG TỔ DUY NHẤT CỦA CHỮ QUỐC NGỮ”, tr. 296-316.
[13] X. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA, Tài liệu Hội thảo 25&26.10.2019).
[14] X. M. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những ngọn đuốc hồng, Tủ sách Nước Măn 2026, tr. 165-249.
[15] Thừa sai PIERRE DOURISBOURE(1825–1890): Pierre Dourisboure (Cố Ân) sinh ngày 19.9.1825 tại Pháp, gia nhập Hội Thừa sai Paris và lên đường sang Đàng Trong năm 1849. Sau khi đến vùng truyền giáo, ngài được sai lên Tây Nguyên và từ 1851 bắt đầu gắn bó sâu xa với các dân tộc Bahnar. Ngài là một trong những thừa sai MEP tiên phong tại Kontum và sau này giữ chức Bề trên Miền Truyền giáo Kontum (1857–1885). Điểm đặc biệt nơi Cha Dourisboure là không chỉ truyền giáo mà còn nghiên cứu sâu tiếng nói, phong tục và đời sống của người Bahnar. Ngài kiên trì học tiếng Bahnar, tìm cách hệ thống hóa cách phát âm và ghi âm tiếng Bahnar bằng mẫu tự La-tinh, đồng thời quan tâm đến các thổ ngữ khác trong vùng. Công trình nổi bật nhất của ngài là: Dictionnaire Bahnar-Français, Hong-Kong, 1889. Đây là một tư liệu ngôn ngữ đặc biệt quý giá, không chỉ đối với lịch sử truyền giáo mà còn đối với lịch sử ngôn ngữ học và chữ viết Bahnar. Giáo phận Kontum đánh giá tác phẩm này như một di sản văn hóa quan trọng, ghi lại tiếng nói và vốn từ Bahnar vào cuối thế kỷ XIX. Dourisboure còn để lại tác phẩm Les Sauvages Bahnars (Paris, 1929), một nguồn tư liệu quan trọng về lịch sử truyền giáo, phong tục, xã hội và đời sống của người Bahnar; tác phẩm này được biên soạn từ những kinh nghiệm trực tiếp của ngài trong nhiều thập niên sống giữa các dân tộc Tây Nguyên. Cha Dourisboure qua đời ngày 8.11.1890 tại Marseille, sau khoảng bốn mươi năm phục vụ tại vùng truyền giáo Đông Đàng Trong và Tây Nguyên.
[16] Thừa sai JEAN-PIERRE COMBES (1825–1857): Jean-Pierre Combes (Cố Bê) sinh ngày 28.6.1825 tại Rouairoux, giáo phận Albi, Pháp. Ngài gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris, được thụ phong linh mục ngày 17.6.1848 và lên đường truyền giáo tại Đàng Trong ngày 6.9.1848. Từ năm 1850, ngài được sai đến vùng Tây Nguyên và trở thành một trong những vị thừa sai tiên phong truyền giáo cho người Bahnar, đồng thời là Bề trên đầu tiên của Miền Truyền giáo Kontum (1851–1857). Tại Kon Kơ Xâm, Cha Combes dành trọn những năm cuối đời cho việc học tiếng Bahnar, tiếp xúc với các buôn làng và xây dựng những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên. Ngài đã soạn giáo lý bằng tiếng Bahnar và dịch các kinh bổn căn bản, qua đó góp phần quan trọng vào việc hình thành phương thức ghi chép và sử dụng chữ La-tinh để diễn đạt tiếng Bahnar. Cha Combes qua đời ngày 14.9.1857 tại Kon Kơ Xâm, khi mới 32 tuổi, sau một thời gian ngắn nhưng đầy gian khổ phục vụ các dân tộc Tây Nguyên. Các tư liệu của Giáo phận Kontum ghi nhận ngài như “vị tông đồ đầu tiên của người Bahnar”. Giá trị di sản: Nếu Cha Combes là một trong những người đặt nền móng cho việc truyền giáo và biên soạn những văn bản Bahnar đầu tiên, thì công trình của ngài mở ra một hướng đi quan trọng: học tiếng bản địa, ghi chép tiếng nói bản địa và dùng chính ngôn ngữ ấy để giáo dục đức tin.
[17] Thừa sai JULES ALBERTY (1874–1959): Sinh: 23 tháng 11 năm 1874, tại Sars-Poteries, Pháp. Thụ phong linh mục: 23 tháng 9 năm 1899. Gia nhập Hội Thừa sai Paris (MEP):1894; được sai đi truyền giáo ngày 15 tháng 11 năm 1899. Đến Việt Nam: 1899, thuộc Địa phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn). Jules Alberty hoạt động lâu năm tại vùng truyền giáo Tây Nguyên, đặc biệt trong môi trường các dân tộc bản địa. Ngài dành nhiều công sức học tiếng bản địa, ghi chép và hệ thống hóa ngôn ngữ để phục vụ việc truyền giáo và mục vụ. Đóng góp đáng chú ý của Alberty nằm ở việc nghiên cứu và ghi chép ngôn ngữ các dân tộc Tây Nguyên bằng mẫu tự La-tinh, góp phần biến những ngôn ngữ vốn chủ yếu được truyền khẩu thành những ngôn ngữ có thể được ghi chép, giảng dạy và lưu giữ bằng văn bản. Công việc này không chỉ có giá trị mục vụ mà còn tạo nên một lớp tư liệu ngôn ngữ học sơ kỳ về Tây Nguyên, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu tiếng nói, văn hóa và đời sống các dân tộc bản địa. Alberty là cộng tác viên quan trọng của Paul Guilleminet trong việc nghiên cứu tiếng Bahnar. Hai vị cùng thực hiện Lexique français-bahnar et bahnar-français (1940); Alberty còn biên soạn Manuel de conversation français-bahnar (1944), và cộng tác trong công trình Dictionnaire bahnar-français của Guilleminet xuất bản năm 1963. Jules Alberty Qua đời: 17 tháng 2 năm 1959, tại Kontum, Việt Nam VÀ ĐƯỢC An táng TẠI Kontum.
[18] JACQUES DOURNES (1922–1993): Tên Việt thường được biết với tên Đăm Bô (Dam Bo), sinh ngày 27.5.1922 tại Saint-Pol-sur-Ternoise, Pháp, thụ phong linh mục năm 1945 và gia nhập Hội Thừa sai Paris. Ngài đến Việt Nam năm 1946, phục vụ trước hết tại vùng Di Linh với người Sré (Kơho), rồi từ năm 1955 chuyển lên vùng Kontum và Tây Nguyên, gắn bó đặc biệt với người Jörai (Gia Rai). Dournes là một trường hợp đặc biệt: từ kinh nghiệm truyền giáo, ngài dần trở thành nhà dân tộc học, ngôn ngữ học và nhân học chuyên sâu về các dân tộc Tây Nguyên. Ngài học tiếng bản địa, nghiên cứu xã hội, phong tục, tín ngưỡng, thần thoại, văn học truyền khẩu và thế giới quan của người Sré và Jörai. Ngay từ năm 1949, ngài đã soạn từ điển tiếng Sré và tham gia công việc chuẩn hóa hệ thống phiên âm ngôn ngữ này. Năm 1969 trở về Pháp, cha Dournes tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu; năm 1973, ngài bảo vệ luận án về Pötao, nghiên cứu cơ cấu quyền lực nơi người Jörai. Các công trình của ngài về ngôn ngữ, thần thoại, văn học truyền khẩu và cấu trúc xã hội Jörai được giới nghiên cứu đánh giá là những đóng góp quan trọng cho dân tộc học Đông Nam Á. Đặc biệt, Fonds Jacques Dournes hiện được lưu giữ tại các trung tâm nghiên cứu và lưu trữ của Pháp, gồm nhiều bản ghi âm văn học truyền khẩu, tư liệu ngôn ngữ, hình ảnh và hiện vật về các cộng đồng Tây Nguyên.
[19] Thừa sai GABRIEL NICOLAS (1876–1947): Gabriel Nicolas – Cố Cận (thường gọi Nicolas Cận) sinh năm 1876; thụ phong linh mục năm 1900. Từ năm 1905-1908, ngài được sai đến vùng Hà Bầu – Tiên Sơn, nơi cư trú và truyền giáo giữa người Jrai. Ngài đã chú ý đặc biệt đến tiếng nói bản địa, vận dụng mẫu tự La-tinh và bổ sung các dấu thích hợp để ghi âm tiếng Jrai, đồng thời biên soạn tập Catéchisme en Jrai. Sau thời gian phục vụ tại Hà Bầu, ngài tiếp tục hoạt động mục vụ tại nhiều địa sở ở vùng Kontum – Tây Nguyên. Ngài qua đời ngày 09 tháng 01 năm 1947.
[20] Thừa sai JEAN CASSAIGNE (1895–1973): Jean Cassaigne là một linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), được biết đến đặc biệt qua công cuộc truyền giáo, phục vụ người dân tộc thiểu số và chăm sóc người phong cùi tại Việt Nam. Ngài sinh ngày 30.01.1895, tại Grenade-sur-l’Adour, Landes, Pháp. Gia nhập Hội Thừa sai Paris năm 1920 và được thụ phong linh mục năm 1925. Sau đó ngài được sai sang Việt Nam. Hoạt động truyền giáo tại vùng Tây Nguyên, đặc biệt giữa các dân tộc bản địa. Ngài học tiếng địa phương, sống gần gũi với đồng bào và chú trọng việc đào tạo giáo lý viên bản xứ. Ngài đặc biệt nổi tiếng vì đã dành nhiều tâm huyết cho những người mắc bệnh phong, xây dựng và tổ chức các cơ sở chăm sóc họ, nhất là tại Di Linh. Cassaigne không chỉ chữa trị về thể xác mà còn giúp những người bị xã hội xa lánh tìm lại phẩm giá và đời sống cộng đồng. Năm 1941, ngài được bổ nhiệm làm Giám mục Tông tòa Sài Gòn. Tuy nhiên, sau khoảng mười năm, vì sức khỏe và căn bệnh phong, ngài xin từ nhiệm năm 1955.
Sau khi từ nhiệm, Cassaigne trở lại Di Linh, tiếp tục sống và phục vụ những người phong cùi cho đến cuối đời. Đức cha qua đời ngày 31.10.1973, tại Di Linh, Việt Nam. Trong số các thừa sai hoạt động tại Tây Nguyên đầu thế kỷ XX, Jean Cassaigne (1895–1973) giữ một vị trí đặc biệt trong việc nghiên cứu, ghi chép và phổ biến ngôn ngữ của người Kơho (Koho) tại vùng Di Linh. Những công trình tiêu biểu của ngài gồm: Lexique moï-français-annamite, Tân Định, Sài Gòn, 1929, 108 trang; Petit manuel de conversation courante en langue moï (Koho et Chau Sore), Sài Gòn, 1930, 64 trang; Manuel de conversation français-koho, 2e édition, Sài Gòn, 1935, 104 trang. Bên cạnh các công trình từ vựng và hội thoại, Cassaigne còn biên soạn và cho in các tài liệu giáo lý, kinh nguyện và phụng vụ bằng tiếng Kơho, tiêu biểu như Catéchisme Kơho (1938), và về sau các sách về kinh đọc, giáo lý và phụng vụ được in tại Pháp năm 1951. Những văn bản này cho thấy việc nghiên cứu ngôn ngữ nơi Cassaigne không tách rời đời sống mục vụ, nhưng đồng thời đã tạo nên một kho tư liệu thành văn quý giá về tiếng Kơho. Đặc biệt, giữa thập niên 1930, Cassaigne còn tham gia Ủy ban Đà Lạt về việc thống nhất cách phiên âm các ngôn ngữ bản địa Tây Nguyên. Năm 1935, Ủy ban gồm chín thành viên đã nghiên cứu một hệ thống chữ viết chung cho các ngôn ngữ Tây Nguyên; hệ thống này dựa phần lớn trên mẫu tự Quốc ngữ, đồng thời bổ sung những ký hiệu cần thiết để diễn tả các âm đặc thù. Cassaigne tham dự với tư cách người am hiểu tiếng Kơho…
[21] Thừa sai GÉRARD MOUSSAY (1932–2012): Gérard Moussay sinh ngày 16 tháng 8 năm 1932 tại Brecé, thuộc giáo phận Laval, Pháp. Ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris (MEP) ngày 20 tháng 9 năm 1954 và được thụ phong linh mục tại Laval ngày 29 tháng 6 năm 1957. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, ngài lên đường truyền giáo tại Việt Nam, thuộc địa phận Nha Trang. Từ năm 1958, cha Moussay phục vụ mục vụ tại vùng Ninh Thuận và Bình Tuy, đặc biệt giữa các cộng đoàn Công giáo di dân. Năm 1968, nhận thấy nhu cầu tìm hiểu và bảo tồn văn hóa của người Chăm, ngài chuyển đến Phan Rang, sống và làm việc giữa cộng đồng Chăm. Tại đây, ngài thành lập Trung tâm Văn hóa Chăm, quy tụ các trí thức và các vị cao niên Chăm để sưu tầm, bảo tồn, phiên âm, dịch thuật và công bố các văn bản cổ Chăm. Công trình nổi bật nhất của ngài trong giai đoạn này là Dictionnaire cam-vietnamien-français / Tự-điển Chàm-Việt-Pháp, xuất bản tại Trung tâm Văn hóa Chăm, Phan Rang, năm 1971. Tác phẩm được thực hiện với sự cộng tác của một số học giả Chăm, trong đó có Nại Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đàng Năng Phương, Lưu Quang Sáng, Lâm Gia Tĩnh và Trương Văn Tôn. Năm 1974, ngài tiếp tục công bố Khao-lục Nguyên-cao Chàm – Archives des manuscrits cam, gồm những tư liệu quan trọng về văn học và đời sống tôn giáo Chăm; năm 1975, hoàn thành công trình nghiên cứu và dịch thuật Akayet Dewa Mano. Những công trình này góp phần quan trọng vào việc bảo tồn ngôn ngữ, văn học và ký ức văn hóa Chăm trong một giai đoạn nhiều tư liệu cổ đang đứng trước nguy cơ thất truyền. Sau năm 1975, Gérard Moussay sang Indonesia, làm việc tại giáo phận Padang, Sumatra. Ngài tiếp tục nghiên cứu ngôn ngữ Minangkabau, hoàn thành luận án về ngôn ngữ này và sau đó xuất bản Dictionnaire minangkabau-indonésien-français (1995). Từ năm 1993, ngài trở về Paris và đảm nhiệm việc điều hành Văn khố Hội Thừa sai Paris, góp phần tổ chức, bảo tồn và phát huy một khối lượng lớn tư liệu lịch sử truyền giáo tại châu Á. Cha Gérard Moussay qua đời ngày 1 tháng 2 năm 2012 tại Pháp, thọ 79 tuổi. Đóng góp nổi bật: Gérard Moussay là một trường hợp tiêu biểu cho việc nghiên cứu và bảo tồn di sản ngôn ngữ – văn học – văn hóa của người Chăm. Dictionnaire cam-vietnamien-français và các công trình sưu tầm văn bản Chăm của ngài có giá trị đặc biệt trong lịch sử nghiên cứu và bảo tồn ngôn ngữ Chăm hiện đại. Các nghiên cứu sau này cũng đánh giá Grammaire de la langue cam của Moussay là một công trình có hệ thống và quan trọng đối với ngữ pháp Chăm.
[22] X. LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, Nxb Đồng Nai 2025, Bài Hai: Linh mục Việt Nam tiên khởi, những hạt gạo trên sàng, tr. 134-135.
[23] X. LM. ĐÀO QUANG TOẢN, Tìm hiểu lịch sử Dòng Mến Thánh Giá, 2013, tr. 80.
[24] Thừa sai Henri Denis – Biển Đức Thuận (1880–1933): Cha Henri Denis, tên dòng là Biển Đức Thuận (Benoît Thuận), sinh ngày 17 tháng 8 năm 1880 tại Boulogne-sur-Mer, miền Bắc nước Pháp. Xuất thân từ một gia đình Công giáo bình dân, ngài sớm được đào tạo trong môi trường chủng viện và nuôi dưỡng lòng nhiệt thành truyền giáo. Sau khi gia nhập Hội Thừa sai Paris (MEP), ngài được thụ phong linh mục ngày 7 tháng 3 năm 1903 và lên đường sang Việt Nam ngày 29 tháng 4 cùng năm. Ngày 31 tháng 5 năm 1903, ngài đặt chân đến Đà Nẵng, bắt đầu sứ vụ tại giáo phận Huế. Sau thời gian học tiếng Việt, cha lần lượt đảm nhận công việc giảng dạy tại Tiểu chủng viện An Ninh và phục vụ mục vụ tại các giáo xứ. Trong những năm tháng ấy, ngài gắn bó sâu sắc với người dân Việt Nam, tìm hiểu ngôn ngữ, phong tục và hoàn cảnh sống của họ. Kinh nghiệm truyền giáo đã giúp ngài nhận ra nhu cầu xây dựng một cộng đoàn đan tu chiêm niệm dành cho người Việt.
Ước nguyện lớn lao của cha Henri Denis là thiết lập một đời sống đan tu chiêm niệm tại Việt Nam, nơi các tu sĩ có thể chuyên tâm cầu nguyện, hy sinh, lao động và kết hợp mật thiết với Đức Kitô. Ngày 15 tháng 8 năm 1918, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngài thành lập đan viện tại Phước Sơn, Quảng Trị, với danh hiệu ban đầu là Dòng Đức Bà An Nam. Đây chính là khởi điểm của truyền thống đan tu Xitô Thánh Gia Việt Nam ngày nay. Cha Biển Đức Thuận không chỉ là một nhà sáng lập, mà còn là người cha thiêng liêng của cộng đoàn. Ngài cổ võ một đời sống đan tu lấy Đức Kitô làm trung tâm, noi gương Thánh Gia Nadarét, chuyên chăm cầu nguyện, thực hành khổ chế, sống khó nghèo, khiêm nhường và lao động. Ngày 2 tháng 2 năm 1920, ngài chính thức lãnh nhận áo dòng; ngày 21 tháng 3 năm 1923, ngài tuyên khấn lần đầu và đến ngày 21 tháng 3 năm 1926, ngài tuyên khấn trọn đời. Ngài qua đời ngày 25 tháng 7 năm 1933 tại đan viện Phước Sơn, để lại một cộng đoàn đang phát triển và một di sản thiêng liêng quý báu. Sau đó, đời sống đan tu Phước Sơn tiếp tục phát triển; năm 1934, cộng đoàn được sáp nhập vào Dòng Xitô, và năm 1964, Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam được chính thức hình thành theo quyết định của Tòa Thánh.
[25] Dòng Xitô (O.Cist.) được thành lập năm 1098, khi Thánh Robert thành Molesme cùng các bạn đồng hành lập Đan viện Cîteaux tại Bourgogne (Burgundy) nước Pháp để sống Luật Thánh Biển Đức một cách đơn sơ và trung thành hơn. Các vị sáng lập tiếp theo là Thánh Alberic thành Cîteaux và Thánh Stephen Harding; sau đó Thánh Bênađô thành Clairvaux đã làm cho Dòng phát triển mạnh khắp châu Âu. Sau đó gần 9 thế kỷ, năm 1892, có một nhánh Xitô cải tổ, muốn trở về sống tinh thần nhiệm nhặt của Luật Biển Đức. Đây là Dòng Xitô nhặt phép (Ordo Cisterciensis Strictioris Observantiae – Viết tắt:OCSO) hay còn được gọi là “Dòng Xitô Trappist” hay “Nghiêm luật”.
[26] Dòng “Xitô Thánh Gia Việt Nam” (Ordinis Cisterciensis Sanctae Familiae – O.Cist. Sanctae Familiae Vietnamensis) là Hội Dòng Xitô tự trị trong đại gia đình Xitô nguyên thủy (O.Cist.) được chính thức thành lập ngày 6.10.1964 do ĐGH Phaolô VI thông qua Thánh Bộ Tu sĩ.
[27] DILEXI TE (Ta đã yêu con): Tông huấn của Đức Thánh cha Lêô XIV gởi cho các Kitô hữu về tình yêu dành cho người nghèo. Đây là “văn kiện Huấn quyền” đầu tiên trong triều đại Giáo hoàng của Đức Lêô XIV, được ngài ký vào vào chính ngày lễ kính thánh Phanxicô Assisi trong Năm thánh thường lệ (4.10.2025) và được công bố chính thức ngày 9.10.2025. (X. BAN THƯỜNG HUẤN LINH MỤC GIÁO PHẬN QUI NHƠN 2026, Dilexi Te, một Giáo hội nghèo và vì người nghèo, Bài 1: GM. MATTHÊÔ NGUYỄN VĂN KHÔI, Tổng quan về tông huấn Dilexi Te của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, tr. 8-53.
[28] Populorum Progressio (Phát triển các dân tộc): Thông điệp về xã hội của Đức Giáo hoàng Phaolô VI, được ngài ban hành ngày 26.3.1967. Đây là một văn kiện xã hội rất quan trọng của Giáo hội Công giáo thế kỷ XX, được ban hành trong bối cảnh Công đồng Vaticanô II vừa kết thúc (1965).
[29] THƯ ĐỨC THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II GỬI CÁC NGHỆ SĨ ngày 04 tháng 04 năm 1999.
[30] X. NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, sđd, “NHÀ IN LÀNG SÔNG-MỘT TRONG BA TRUNG TÂM TRUYỀN BÁ CHỮ QUỐC NGỮ VÀ VĂN HỌC QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN” của tác giả Nguyễn Thanh Quang, tr. 222-227.
[31] Albert Schlicklin (1857-1932), còn được biết với tên gọi Cố Chính Linh (“cố” là cố đạo, “Chính Linh” là tên âm Việt của ông), là một linh mục Công giáo La Mã người Pháp. Ông là người có công dịch bộ Kinh Thánh từ tiếng Latinh sang ngôn ngữ Việt Nam. Bản dịch của ông cho tới ngày nay vẫn là cơ sở cho các bản dịch Kinh Thánh chính thức. Ông sinh ngày 12 tháng 11 năm 1857 tại Liebsdorf, vùng Alsace (Pháp). Được Hội Thừa sai Paris gửi đến Việt Nam năm 1885, với sự giúp đỡ của các học giả Công giáo người Việt, ông nghiên cứu ngôn ngữ Việt và tập trung cho việc chuyển ngữ bộ Kinh Thánh từ bản Kinh Thánh Latin Vulgate, là bản Kinh Thánh được Tòa Thánh Vatican chính thức công nhận. Khoảng năm 1913 – 1914, Hội Thừa Sai Paris tại Hongkong cho phát hành bản Kinh Thánh Cựu ước, được in song ngữ bản Latin Vulgate với bản dịch Việt ngữ của ông. Năm 1916, Kinh Thánh Tân ước cũng được phát hành và cũng in song ngữ, một bên chữ Việt một bên chữ Latin. Ngoài công trình dịch Kinh Thánh ra, ông còn viết một số tác phẩm bằng Việt ngữ như: “Sách dạy về gốc tích cội rễ sự đạo”, 1908, “Thần học tín lý”, 1908, “Thần học luân lý”, 1911, “Công giáo luân lý khoa”, 1919, “Triết học khoa”, 1917, “Phép mộ sự khôn ngoan”, 1917; Ông qua đời ngày 2 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội.
[32] Gérard Gagnon, C.Ss.R. (tên Việt: Cha Nhân, bút danh Tâm Ngọc), sinh ngày 08 tháng 5 năm 1914, mất ngày 22 tháng 7 năm 2009; linh mục thừa sai người Canada thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, một trong những dịch giả Kinh Thánh tiếng Việt quan trọng nhất sau Cố Chính Linh. Bộ Kinh Thánh của ngài được xuất bản tại Đà Lạt (1962–1963), gồm 5 tập: Ngũ Thư, Lịch sử, Triết minh (Khôn ngoan), Tiên tri và Tân Ước.
[33] Tổng luận Thần học (Summa Theologiae) là kiệt tác thần học lớn nhất của Thánh Tôma Aquinô (1225–1274) và là một trong những công trình có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với tư tưởng Công giáo Tây phương. Tác phẩm được thánh Tôma biên soạn khoảng 1265–1274, với mục đích trình bày toàn bộ nền tảng của thần học Kitô giáo theo một phương pháp có hệ thống, mạch lạc và có tính sư phạm. Bộ sách đồ sộ này đã được LINH MỤC GIUSE TRẦN NGỌC CHÂU – Gp. Qui Nhơn dịch sang Việt ngữ, được xuất bản bởi nhà xuất bản Phương Đông năm 2017.
[34] LÉOPOLD MICHEL CADIÈRE (1869–1955): Léopold Michel Cadière, linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), sinh ngày 14.2.1869 tại Aix-en-Provence (Pháp) và qua đời ngày 6.7.1955 tại Huế. Ngài được thụ phong linh mục năm 1892 và đến Việt Nam cuối năm ấy; gần như trọn cuộc đời còn lại của ngài gắn bó với miền Trung Việt Nam, đặc biệt với Giáo phận Huế. Cadière không chỉ là một nhà truyền giáo mà còn là một học giả đa ngành về Việt Nam, nổi bật trên ba lãnh vực: lịch sử, ngôn ngữ học và dân tộc học. Ngài đặc biệt chú ý đến tiếng Việt, tín ngưỡng, phong tục, đời sống gia đình, làng xã và đời sống tôn giáo của người Việt. Trong số những công trình quan trọng có Phonétique annamite: dialecte du Haut-Annam (1902), các nghiên cứu về tiếng Việt và đặc biệt bộ Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens – một công trình đồ sộ về tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt (Bản dịch Việt ngữ của Đỗ Trinh Huệ, Nxb Thuận Hóa 2015). Cadière đã góp phần hình thành một phương pháp nghiên cứu Việt Nam dựa trên quan sát thực địa, học tiếng bản địa, thu thập tư liệu dân gian và đối thoại trực tiếp với văn hóa địa phương. Vì thế, ông không chỉ để lại những công trình cho Giáo hội, mà còn trở thành một trong những học giả phương Tây quan trọng của ngành Việt Nam học đầu thế kỷ XX.
[35] CRISTOFORO BORRI, Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Relation de la nouvelle mission des pères de la compagnie de Jésus au royaume de la Cochinchine – Tường trình về sứ vụ mới của các cha Dòng Chúa Giêsu tại Vương quốc Đàng Trong, Bản dịch tiếng Việt của Thanh Thư: Xứ Đàng Trong, Nxb Tổng hợp Thanh phố Hồ Chí Minh 2019, một ký sự nghiên cứu đầy giá trị toàn cảnh vùng Đàng Trong về lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, quân sự, thương mại…, được xuất bản khoảng 16 lần (từ 1631-1931), và ngoài bản văn bằng tiếng Ý, đã được dịch ra 5 thứ tiếng Latinh, Pháp, Hà Lan (Plemish), Đức, Anh.
[36] Để hiểu rõ về khái niệm “Cư sở”, xin xem: BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, sđd, CHƯƠNG II: CÁC THỪA SAI DÒNG TÊN TỪ MA CAO ĐẾN ĐÀNG TRONG, tr. 51-55.
[37] NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, sđd, NƯỚC MẶN, CẢNG THỊ VÀ TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO, tác giả: Linh mục Gioan Võ Đình Đệ, tr. 35-48.
