Ủy Ban Giáo Dân – Thường Huấn Tháng 10/2026: Ánh Sáng Của Đối Thoại Và Liên Đới – Đối Thoại Trong Khác Biệt, Xây Nhip Cầu Thay Vì Dựng Bức Tường

Ban nghiên huấn

Ủy ban Giáo dân

Thường huấn tháng 10/2026

CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN

THÁNG 10-2026

Bài 1 – SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO TẠI CHÂU Á – CON ĐƯỜNG ĐỐI THOẠI VÀ TÔN TRỌNG

Bài 2 – NGƯỜI GIÁO DÂN XÂY “NHỊP CẦU TIN MỪNG”- GẶP GỠ LIÊN TÔN, LIÊN VĂN HÓA VÀ CÙNG CHĂM LO CÔNG ÍCH

Bài 3 –  KỸ NĂNG CỘNG TÁC XÃ HỘI VÀ KIẾN TẠO HÒA BÌNH

Bài 4 – KHIÊM TỐN LẮNG NGHE  ĐỂ NHẬN RA SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA NƠI NGƯỜI KHÁC

Bài 1 – SỨ VỤ TRUYỀN GIÁO TẠI CHÂU Á:

CON ĐƯỜNG ĐỐI THOẠI VÀ TÔN TRỌNG

Theo Tông huấn Giáo hội tại Á châu (Ecclesia in Asia)

 Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

Theo Tông huấn “Giáo hội tại Á châu” được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố năm 1999 khi kết thúc Thượng hội đồng đặc biệt về Á châu, diễn ra tại Roma từ ngày 18/4 đến ngày 14/5/1998: Sứ vụ truyền giáo tại Á châu là công cuộc loan báo Đức Giêsu Kitô Cứu Thế bằng con đường đối thoại, hội nhập văn hóa và làm chứng tá trong lòng một lục địa đa dạng về tôn giáo và văn hóa.

1. Bối cảnh và Nền tảng sứ vụ

Bối Cảnh: Châu Á là nơi khai sinh của Chúa Giêsu và cũng là nơi Chúa Giêsu lập Giáo hội. Châu lục lớn nhất này chiếm hai phần ba dân số thế giới. Đây cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn của thế giới và là nơi phát sinh nhiều truyền thống tâm linh khác. Các dân tộc Châu Á đang sống trong một bối cảnh kinh tế xã hội và chính trị rất đa dạng, đồng thời phải đối mặt với biết bao vấn đề khó khăn phức tạp như sự chênh lệch giàu nghèo, vấn đề di cư, sự hình thành các đô thị khổng lồ – môi trường thuận lợi cho các tệ nạn và tội ác. Giáo hội đã kiên trì rao giảng Tin mừng qua nhiều giai đoạn lịch sử, và ngày nay, tuy sống trong một môi trường phức tạp như vậy, nhưng Giáo hội tin tưởng vào tâm tình đạo đức truyền thống của các dân tộc này, những người luôn biết tôn trọng và khao khát các giá trị tâm linh, lúc nào cũng đang trên đường đi tìm Đấng Tuyệt Đối.

Nền tảng sứ vụ: Giáo hội nhìn thấy Thiên Chúa đang mở ra những chân trời mới của một nhân loại đang sẵn sàng đón nhận Tin mừng. Việc thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Giáo hội tại Châu Á bị chi phối bởi hai nhân tố: một là phải nhận thức mình là cộng đoàn các môn đệ của Đức Giêsu Kitô quy tụ chung quanh các mục tử của mình, hai là cũng phải hiểu biết các thực tế xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hóa và kinh tế của Châu Á. Từ đó, cho thấy sự đóng góp duy nhất của Giáo hội cho các dân tộc trên lục địa là rao giảng về Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và người thật, Đấng Cứu Thế độc nhất và duy nhất cho mọi dân tộc. Điều phân biệt Giáo hội với những cộng đồng tôn giáo khác, đó là niềm tin của Giáo hội vào Đức Giêsu Kitô; và Giáo hội không thể cất giấu ánh sáng đức tin quý báu dưới cái thùng (x. Mt 5, 15), bởi vì sứ mạng Giáo hội là chia sẻ ánh sáng đó với mọi người. Giáo hội muốn trao tặng đời sống mới Giáo hội đã gặp được trong Đức Giêsu Kitô, cho tất cả các dân tộc tại Á Châu đang đi tìm sự viên mãn của cuộc sống, để họ có thể sống hiệp thông với Chúa Cha và Con của Người là Đức Giêsu Kitô trong quyền năng Chúa Thánh Thần.

2. Phương thế truyền giáo

Giáo hội tại Á châu thực hiện sứ vụ qua việc đối thoại : đối thoại với các tôn giáo để tìm kiếm sự hòa hợp và chia sẻ tâm linh, đối thoại với các nền văn hóa để hội nhập Tin mừng vào phong tục, tập quán địa phương và đối thoại với những người nghèo khổ để phục vụ qua bác ái và thăng tiến con người.

Đối thoại với các tôn giáo bạn tại châu Á không phải là một chiến thuật để thu hút tín đồ, mà là khám phá và tôn trọng “những tia sáng của Chân lý” vốn đã hiện diện trong các truyền thống tâm linh lâu đời như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Đạo giáo, hay Hồi giáo. Tín hữu Kitô giáo và những người thuộc các tôn giáo khác sống cạnh nhau như những người hàng xóm tốt, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, hỗ trợ nhau trong cuộc sống thường ngày. Cùng nhau hợp tác vì sự phát triển toàn diện và giải phóng con người. Ví dụ như các chương trình cứu trợ thiên tai, bảo vệ môi trường, chăm sóc bệnh nhân nghèo mà không phân biệt tôn giáo. Chia sẻ trải nghiệm tâm linh qua các kinh nghiệm nội tâm sâu sắc về di sản cầu nguyện, chiêm niệm và con đường tìm kiếm Đấng Tuyệt Đối. Sự gặp gỡ này giúp làm phong phú đời sống tâm linh của cả hai bên. Việc đối thoại chuyên môn giữa các tôn giáo để thấu hiểu sâu sắc hơn về các giá trị giáo lý, từ đó gỡ bỏ những rào cản do hiểu lầm lịch sử. Giáo hội nhìn nhận các tôn giáo bản địa chứa đựng những giá trị đạo đức và tinh thần cao quý, định hình nên bản sắc và sự bình an của con người Á châu qua hàng ngàn năm. Tất nhiên, việc đối thoại chân chính đòi hỏi Kitô hữu phải bám rễ sâu vào đức tin của mình, đồng thời cởi mở để đón nhận cái hay của người khác. Đối thoại không có nghĩa là đánh mất căn tính hay thỏa hiệp về giáo lý, mà là làm chứng cho Tin mừng bằng tình yêu thương.

Đối thoại với các nền văn hóa và hội nhập Tin mừng không chỉ là một phương pháp, mà là một sự đòi hỏi tất yếu của sứ vụ truyền giáo. Á châu là một lục địa giàu bản sắc văn hóa cổ xưa, do đó Tin mừng cần phải được “bén rễ” và mang lấy tâm hồn của người dân nơi đây. Giáo hội cần phải hội nhập Tin mừng vào phong tục, tập quán địa phương. Hội nhập văn hóa là quá trình đổi mới các văn hóa nhờ được đón nhận Tin mừng, đồng thời thể hiện Tin mừng qua các diễn tả chính thức của các nền văn hóa đó. Giống như Chúa Giêsu đã nhập thể làm người trong một bối cảnh văn hóa Do Thái cụ thể, Tin mừng cũng phải “nhập thể” vào các nền văn hóa Á châu để Đức Kitô không bị coi là một “người ngoại quốc” hay một tôn giáo xa lạ từ phương Tây. Giáo hội nhìn nhận và tôn trọng những giá trị chân, thiện, mỹ trong các nền văn hóa Á châu. Những giá trị như hiếu kính cha mẹ, tôn trọng tổ tiên, tinh thần cộng đồng, và sự hài hòa với thiên nhiên là mảnh đất màu mỡ để hạt giống Tin mừng nảy mầm. Tin mừng không phá hủy văn hóa nhưng thanh luyện những yếu tố chưa hoàn thiện (như mê tín dị đoan, phân biệt giai cấp, hay những tập tục hạ thấp phẩm giá con người) và nâng cao các giá trị tốt đẹp lên một tầm cao mới trong Đức Kitô. Tông huấn khuyến khích việc sử dụng ngôn ngữ, âm nhạc, nghệ thuật, phẩm phục và các cử điệu mang sắc thái địa phương trong các cử hành phụng vụ, miễn là giữ nguyên vẹn đức tin cốt lõi của Giáo hội Công giáo. Đạo hiếu và Kính nhớ Tổ tiên là một điểm cực kỳ đặc sắc tại Á châu (đặc biệt là Việt Nam). Giáo hội hoàn toàn dung hợp các nghi thức tôn kính tổ tiên, ngày giỗ, Tết cổ truyền vào trong đời sống đức tin, biến chúng thành cơ hội để tạ ơn Thiên Chúa và thể hiện lòng hiếu thảo Kitô giáo.

Đối thoại với những người nghèo khổ không chỉ là hoạt động từ thiện đơn thuần, mà là một sứ vụ mang tính ngôn sứ và là sự bắt chước sống động chính cuộc đời của Đức Giêsu Kitô. Tại một lục địa mà đại đa số dân số phải đối diện với nghèo đói, bất công và sự gạt ra bên lề xã hội, đối thoại với người nghèo là điều kiện tiên quyết để Tin mừng trở nên có giá trị thực tế. Đây là cuộc gặp gỡ bình đẳng, tôn trọng phẩm giá của người nghèo. Giáo hội không chỉ đến để “cho” mà còn để “lắng nghe” tiếng khóc than, những nguyện vọng chính đáng và học hỏi đức tin, sự kiên cường của họ. Tông huấn nhắc nhở rằng Đức Giêsu đã tự đồng hóa mình với những người đói rách, đau yếu và bị bỏ rơi. Phục vụ người nghèo chính là phục vụ Chúa Kitô. Giáo hội tại Á châu được kêu gọi trở thành “Giáo hội của người nghèo”. Các Kitô hữu phải sống tinh thần nghèo khó của Tin mừng, chia sẻ và đồng hành với những số phận đau thương. Đối thoại với người nghèo gắn liền với việc đấu tranh cho công lý, bảo vệ quyền con người, cung cấp giáo dục, y tế và tạo cơ hội việc làm để họ tự giải phóng mình khỏi cái nghèo.

Tạm kết :

Tại Á châu, cụ thể tại Việt Nam các cuộc hôn nhân giữa một người Công giáo và một người thuộc tôn giáo khác rất phổ biến. Nhiều gia đình đa tôn giáo. Đây là một thách đố nhưng cũng là cơ hội lớn. Sự tôn trọng, hòa thuận và giữ vững đức tin của người bạn đời Công giáo chính là một chứng từ sống động chiếu tỏa Tin mừng cho cả đại gia đình bên vợ hoặc bên chồng. Tông huấn Giáo hội tại Á châu (Ecclesia in Asia) khẳng định tại một lục địa mà Giáo hội chỉ là một thiểu số nhỏ, chính đời sống thường ngày của giáo dân và gia đình là nhịp cầu tự nhiên nhất để mang Chúa đến cho môi trường xung quanh. Người giáo dân có ơn gọi đặc biệt là “thánh hóa trần gian” bằng cách hiện diện và làm chứng tá ngay tại những nơi mà hàng giáo phẩm (linh mục, tu sĩ) không thể tới được. Người giáo dân sống đan xen hằng ngày với anh chị em thuộc các tôn giáo khác. Họ thực hiện cuộc “đối thoại cuộc sống” bằng sự láng giềng tốt lành, tôn trọng, chia sẻ vui buồn và hợp tác trong các hoạt động công ích. Trong nền văn hóa Á châu vốn coi trọng đạo hiếu và các mối quan hệ huyết thống, gia đình chính là chiếc nôi truyền giáo tự nhiên và bền vững nhất.

Hồi tâm

1) Anh chị em có quan tâm đến tín ngưỡng, tôn giáo của các gia đình chung quanh không? Nơi anh chị em sinh sống người Công giáo có đông không?

2) Trong các tương quan bạn hữu, láng giềng anh chị em có bao giờ nói chuyện với nhau về tôn giáo của nhau không? Có thấy được những điều hay, tốt nơi các tôn giáo bạn không?

3) Trong gia đình anh em có trường hợp hôn nhân khác đạo không? Là người Công giáo anh chị em sống như thế nào với những người theo tôn giáo bạn trong gia đình, trong bạn bè và láng giềng?

 

Bài 2 – NGƯỜI GIÁO DÂN XÂY “NHỊP CẦU TIN MỪNG”:

GẶP GỠ LIÊN TÔN, LIÊN VĂN HÓA VÀ CÙNG CHĂM LO CÔNG ÍCH

Lm. Antôn Hà Văn Minh

Tài liệu làm việc cho giai đoạn Châu Lục của Thượng hội đồng Giám mục thế giới lần thứ XVI đã mượn lời tiên tri Isai (54, 2) : “Hãy Nới Rộng Căn Lều” để mời gọi người giáo dân chung tay xây dựng những nhịp cầu Tin mừng, điều đó có nghĩa là người giáo dân được mời gọi bước ra khỏi những giới hạn quen thuộc để gặp gỡ những người thuộc các tôn giáo, văn hóa và hoàn cảnh khác nhau. Người môn đệ Đức Kitô không xây những bức tường ngăn cách nhưng xây những cây cầu nối kết. Căn lều của Hội thánh không phải là nơi dành riêng cho một nhóm người, nhưng là mái nhà rộng mở cho mọi người đang tìm kiếm chân lý, tình yêu và hy vọng

Trong xã hội đa nguyên hôm nay, người giáo dân được mời gọi sống tinh thần đối thoại và tôn trọng. Họ không nhìn người khác như đối thủ hay người xa lạ, nhưng như những người anh chị em cùng chia sẻ phẩm giá con người. Chính thái độ cởi mở ấy giúp hình thành những cuộc gặp gỡ liên tôn và liên văn hóa đầy thiện chí, nơi mọi người cùng nhau khám phá những giá trị chân thiện mỹ và cùng cộng tác để phục vụ con người.

1. Người giáo dân được mời gọi xây dựng văn hóa gặp gỡ

Trước thực trạng chia rẽ, loại trừ, xung đột và chủ nghĩa cá nhân đang ngày càng gia tăng trong xã hội hiện đại, Đức Phanxicô đã nỗ lực kêu gọi cần một “văn hóa gặp gỡ” thay cho văn hóa loại trừ, đối đầu và khép kín. Trong Tông huấn Niềm vui Tin mừng, Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng, Hội thánh phải là một Hội thánh “đi ra”, biết vượt qua những giới hạn của sự an toàn và quen thuộc để gặp gỡ những người đang ở bên lề xã hội. Ngài viết: “Tôi thích một Hội thánh bị bầm dập, bị thương tích và lấm lem vì đã đi ra các nẻo đường hơn là một Hội thánh bệnh hoạn vì khép kín và bám víu vào sự an toàn của mình”[1]. Lời mời gọi này không chỉ dành cho hàng giáo sĩ hay tu sĩ, nhưng cách đặc biệt dành cho người giáo dân, những người hiện diện và hoạt động giữa lòng thế giới.

Lời mời gọi “đi ra” của Đức Phanxicô đối với người giáo dân Việt Nam vẫn còn là một thách đố lớn lao, vì trong một thời gian dài, do nhiều yếu tố lịch sử, xã hội và tâm lý, người giáo dân Việt Nam có khuynh hướng sống đức tin trong phạm vi tương đối khép kín, thường tập trung vào các sinh hoạt nội bộ của giáo xứ hay cộng đoàn mà chưa mạnh dạn mở rộng các tương quan với xã hội chung quanh. Thái độ e dè trước những người khác niềm tin, có thể vì chưa hiểu hết niềm tin các tôn giáo bạn, có khi vì mặc cảm do yếu tố lịch sử để lại, làm cho người giáo dân Việt Nam ngại tham gia các hoạt động xã hội rộng lớn hoặc thiếu sự đối thoại với những người có quan điểm khác biệt. Ngoài ra, do những biến chuyển nhanh chóng của xã hội hiện đại cũng làm gia tăng nguy cơ thu mình vào những nhóm nhỏ cùng sở thích hoặc cùng quan điểm. Thay vì gặp gỡ và lắng nghe, người ta dễ rơi vào tình trạng nghi ngờ, định kiến hoặc giữ khoảng cách với những người khác biệt về tôn giáo, văn hóa hay lối sống. Hệ quả là những cơ hội xây dựng sự hiểu biết và cộng tác vì thiện ích chung bị hạn chế.

Dẫu có khó khăn người giáo dân Việt Nam vẫn được mời gọi lắng nghe tâm tư của Đức Giáo hoàng Phanxicô khi kêu gọi Hội thánh trở thành một “Hội thánh đi ra”, biết mở rộng các cánh cửa để gặp gỡ con người hôm nay. Chính khi dám bước ra khỏi sự khép kín và xây dựng những nhịp cầu đối thoại, người giáo dân mới thực sự thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng giữa lòng xã hội đa dạng của thời đại chúng ta. Quả thật Người giáo dân có một vị trí thuận lợi để xây dựng văn hóa gặp gỡ vì họ hiện diện trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội: gia đình, trường học, môi trường nghề nghiệp, các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư. Chính tại những nơi ấy, họ được mời gọi trở thành chứng nhân của Tin mừng bằng khả năng lắng nghe, đối thoại và cộng tác với mọi người. Thay vì nuôi dưỡng sự nghi kỵ hay đối đầu, người Kitô hữu được mời gọi tạo nên những nhịp cầu liên kết, giúp con người xích lại gần nhau hơn trong tình huynh đệ và sự tôn trọng lẫn nhau.

2. Gặp gỡ liên tôn – cùng tìm kiếm những giá trị chung

Công đồng Vaticanô II đã mở ra một hướng đi mới trong tương quan giữa Giáo hội Công giáo và các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Trong Tuyên ngôn Nostra Aetate, các nghị phụ Công đồng khẳng định rằng Giáo hội “không phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện” nơi các tôn giáo khác[2](Giáo hội nhìn nhận rằng nơi các truyền thống tôn giáo khác vẫn có những tia sáng của chân lý, những giá trị đạo đức và những nỗ lực chân thành tìm kiếm Thiên Chúa. Vì thế, các tín hữu Công giáo được mời gọi đối thoại và cộng tác với các tín đồ thuộc những tôn giáo khác trong tinh thần tôn trọng, cảm thông và yêu mến.

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhiều lần nhấn mạnh rằng các tín hữu thuộc những tôn giáo khác nhau có thể và cần phải trở thành những người đồng hành trong việc xây dựng hòa bình. Trong Thông điệp Fratelli Tutti, ngài khẳng định rằng các tôn giáo có thể đóng góp rất lớn cho tình huynh đệ nhân loại khi biết cùng nhau phục vụ công ích và cổ võ hòa bình[3].

Đặc biệt tại Việt Nam, một mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời và mang đậm tính đa tôn giáo. Trên cùng một quê hương, nhiều tôn giáo và tín ngưỡng đã cùng tồn tại, phát triển và góp phần hình thành bản sắc văn hóa dân tộc. Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo cùng các tín ngưỡng dân gian truyền thống đã tạo nên một bức tranh tôn giáo đa dạng nhưng tương đối hài hòa. Chính bối cảnh ấy tạo điều kiện thuận lợi để người giáo dân thực hiện sứ mạng gặp gỡ và đối thoại liên tôn.

Nền văn hóa Việt Nam vốn đề cao tinh thần hòa hiếu, tình làng nghĩa xóm và sự tôn trọng lẫn nhau. Từ bao đời nay, người dân thuộc các tôn giáo khác nhau vẫn cùng chung sống trong một làng quê, cùng chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn của cuộc sống, cùng góp phần xây dựng quê hương và bảo vệ đất nước. Không ít gia đình có những thành viên thuộc các tôn giáo khác nhau nhưng vẫn duy trì được sự hòa thuận và yêu thương. Đây là một nét đẹp văn hóa rất đặc trưng của Việt Nam và cũng là môi trường thuận lợi cho việc phát triển tinh thần đối thoại liên tôn.

Trong bối cảnh đó, người giáo dân được mời gọi trở thành những người xây dựng các nhịp cầu hiệp thông. Việc gặp gỡ liên tôn không nhất thiết bắt đầu từ những cuộc hội thảo lớn hay các chương trình đối thoại chính thức, nhưng trước hết được thực hiện qua những tương quan hằng ngày. Người giáo dân có thể sống tinh thần ấy bằng cách cư xử chân thành với những người khác tôn giáo, tôn trọng niềm tin của họ, chia sẻ những niềm vui và khó khăn trong cuộc sống, đồng thời cộng tác trong các hoạt động phục vụ cộng đồng. Hơn bao giờ hết người giáo dân Việt Nam được mời gọi bước ra khỏi sự khép kín, vượt qua những thành kiến và khác biệt để xây dựng văn hóa gặp gỡ, góp phần củng cố sự đoàn kết dân tộc và làm cho Tin mừng của tình yêu, hòa bình và tình huynh đệ được lan tỏa giữa lòng quê hương Việt Nam.

3. Gặp gỡ liên văn hóa – làm giàu cho nhau trong sự khác biệt

Đối diện với một thế giới đa dạng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống và cách suy nghĩ vừa là một thách đố vừa là một cơ hội đối với sứ mạng của Hội thánh. Bởi vì đây là nguồn phong phú giúp con người hiểu nhau hơn và để cùng nhau phát triển nếu người Kitô biết vượt qua rào cản của thành kiến. Thật vậy gặp gỡ liên văn hóa không chỉ là một nhu cầu xã hội mà còn là một đòi hỏi của Tin mừng. Thiên Chúa yêu thương mọi dân tộc và mọi nền văn hóa. Ngay từ ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã quy tụ những con người thuộc nhiều ngôn ngữ và dân tộc khác nhau trong cùng một đức tin (x. Cv 2,1-11). Điều đó cho thấy sự đa dạng không phải là trở ngại cho sự hiệp nhất, nhưng có thể trở thành sự phong phú khi được đặt dưới tác động của Thánh Thần.

Trao đổi văn hóa với các nền văn hóa khác nhau là hành trình gặp gỡ để Tin mừng được hội nhập vào các nền văn hóa. “Thông qua hội nhập văn hóa, Giáo hội làm cho Tin mừng nhập thể vào các nền văn hóa khác nhau và đồng thời giới thiệu các dân tộc, cùng với nền văn hóa của họ, vào cộng đồng của chính mình. Giáo hội truyền đạt cho họ các giá trị của riêng mình, đồng thời tiếp nhận những yếu tố tốt đẹp vốn có trong họ và đổi mới chúng từ bên trong. Về phần mình, thông qua hội nhập văn hóa, Giáo hội trở thành dấu chỉ dễ hiểu hơn về bản chất của mình và trở thành công cụ truyền giáo hiệu quả hơn”[4].

Tuy nhiên việc hội nhập văn hóa không đơn giản bởi còn đó biết bao nhiêu là rào cản: Một trong những rào cản lớn nhất là những định kiến đã ăn sâu trong suy nghĩ của con người. Người ta thường dễ đánh giá người khác dựa trên những khuôn mẫu có sẵn về dân tộc, tôn giáo, vùng miền hoặc lối sống. Những thành kiến này khiến con người khép kín, thiếu thiện chí lắng nghe và khó đón nhận những giá trị tốt đẹp nơi người khác. Thái độ tự tôn văn hóa khiến việc đối thoại trở nên khó khăn vì thiếu sự tôn trọng và bình đẳng. Sự khác biệt về ngôn ngữ hoặc cách diễn đạt đôi khi dẫn đến những hiểu lầm không đáng có. Mỗi cộng đồng đều có những niềm tin và giá trị riêng. Khi thiếu sự tôn trọng và đối thoại, những khác biệt này dễ trở thành nguyên nhân của xung đột hoặc loại trừ nhau.

Đối diện với những rào cản này, chúng ta không sợ hãi, bởi Chúa Thánh Thần, qua hội nhập văn hóa sẽ “dẫn đưa các dân tộc, cùng với văn hoá của họ, vào trong cộng đồng của chính Hội thánh”[5]vì “mỗi dân tộc cống hiến những giá trị và những hình thức tích cực để làm phong phú cách thức mà Tin mừng được rao giảng, hiểu và sống”[6]. Đức Phanxicô đã nhắc nhở khi thực hiện cuộc gặp gỡ các nền văn hóa, chúng ta phải loại bỏ tư tưởng nỗ lực đồng hóa các nền văn hóa về một nền văn hóa đã được “liên kết mật thiết với việc rao giảng Tin mừng và sự phát triển tư tưởng Kitô giáo”[7], ngài nói: “Trong việc loan báo Tin mừng cho các nền văn hoá mới, hay các nền văn hoá chưa tiếp nhận sứ điệp Kitô giáo, điều cơ bản không phải là áp đặt cùng với Tin mừng một hình thức văn hoá nhất định, dù nó đẹp hay lâu đời bao nhiêu. Sứ điệp chúng ta rao giảng luôn luôn mang một bộ áo văn hoá nào đó, nhưng trong Hội thánh chúng ta đôi khi có thể rơi vào tình trạng sùng bái nền văn hoá riêng của mình và vì thế tỏ ra có thái độ cuồng tín hơn là nhiệt tình truyền giáo thực sự”[8].

Thế giới hiện đại là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục và lối sống đôi khi gây ra chia rẽ, nhưng cũng có thể trở thành cơ hội làm phong phú lẫn nhau. Người giáo dân được mời gọi sống tinh thần hội nhập văn hóa: Tôn trọng các giá trị văn hóa của dân tộc và địa phương, trân trọng những nét đẹp nơi các nền văn hóa khác, loại bỏ những định kiến và thái độ khép kín, và thúc đẩy sự hiểu biết và cộng tác giữa các cộng đồng. Tin mừng không phá hủy các nền văn hóa nhưng thanh luyện và nâng cao những giá trị tốt đẹp của chúng. Vì thế, người giáo dân trở thành những người kết nối giữa Tin mừng và văn hóa, giữa đức tin và đời sống xã hội.

4. Cùng chăm lo công ích – con đường cụ thể của tình yêu Kitô giáo

Giáo huấn xã hội của Giáo hội luôn nhấn mạnh đến công ích (bonum commune) như một trong những nguyên tắc nền tảng của đời sống xã hội. Công ích là tổng thể những điều kiện xã hội cho phép các cá nhân, gia đình và cộng đồng đạt tới sự phát triển toàn diện và xứng hợp với phẩm giá con người. Vì thế, người Kitô hữu không chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình nhưng còn có trách nhiệm góp phần xây dựng những điều kiện tốt đẹp để mọi người cùng được thăng tiến. Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy: “Công ích bao gồm tổng số những điều kiện của đời sống xã hội giúp cho các tập thể cũng như từng thành viên đạt tới sự hoàn thiện của mình cách đầy đủ và dễ dàng hơn” (GLHTCG, số 1906). Đồng thời, Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Gaudium et Spes nhắc nhở: “Mỗi người phải coi người lân cận, không trừ ai, như một ‘cái tôi khác’, trước hết phải quan tâm đến đời sống và những phương tiện cần thiết để họ sống xứng đáng với phẩm giá con người” (GS số 27).

Như thế, chăm lo công ích chính là một hình thức sống đức ái xã hội, qua đó người giáo dân trở thành những người xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và hướng đến công ích. Đức Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: “Yêu thương một người là mong muốn và làm điều thiện cho người ấy. Bên cạnh thiện ích cá nhân, còn có một thiện ích gắn liền với đời sống xã hội của con người: đó là công ích. Yêu thương càng hiệu quả khi dấn thân cho công ích.”[9] Tiếp nối tư tưởng đó Đức Phanxicô đã giải thích rằng tình yêu không chỉ được thể hiện trong các mối tương quan cá nhân nhưng còn phải trở thành động lực thúc đẩy việc kiến tạo những thể chế, chính sách và hoạt động phục vụ công ích. Một tình yêu như thế giúp xây dựng “nền văn minh tình thương” và “văn hóa gặp gỡ”, nơi mọi người được đón nhận như anh chị em của nhau[10].

Kết

Người giáo dân trở thành “nhịp cầu Tin mừng” không có nghĩa là áp đặt đức tin lên người khác, nhưng là hiện diện giữa lòng xã hội với tinh thần đối thoại, tôn trọng, lắng nghe và phục vụ. Qua đời sống trung thực, công bằng, bác ái và trách nhiệm, người giáo dân giúp người khác nhận ra những giá trị của Tin mừng đang hiện diện và hoạt động trong thế giới. Họ trở thành những người kết nối giữa đức tin và đời sống, giữa Hội thánh và xã hội, giữa Tin mừng và các nền văn hóa.

Là nhịp cầu Tin mừng, người giáo dân biết trân trọng những giá trị chân thiện mỹ hiện diện nơi các truyền thống tôn giáo khác, đồng thời sẵn sàng đối thoại với tinh thần khiêm tốn và chân thành. Đối thoại không phải là tranh luận để thắng thua, nhưng là cùng nhau tìm kiếm sự thật, xây dựng hòa bình và cộng tác phục vụ con người. Trong một xã hội đa dạng về phong tục, ngôn ngữ và lối sống, người giáo dân biết đón nhận sự khác biệt như một cơ hội để học hỏi và làm phong phú lẫn nhau. Họ góp phần loại bỏ những định kiến, sự kỳ thị và thái độ khép kín, đồng thời cổ võ một nền văn hóa gặp gỡ, nơi mọi người được tôn trọng trong phẩm giá của mình. Không dừng lại ở đối thoại và gặp gỡ, người giáo dân còn xây dựng nhịp cầu Tin mừng bằng việc cùng chăm lo công ích. Họ cộng tác với mọi người thiện chí để xây dựng một xã hội công bằng, nhân bản và huynh đệ hơn. Sự dấn thân trong các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, chăm sóc người nghèo, bảo vệ sự sống, cổ võ hòa bình và phát triển cộng đồng chính là những cách thế cụ thể để diễn tả tình yêu Kitô giáo. Qua những việc làm ấy, người giáo dân không chỉ phục vụ con người mà còn làm cho các giá trị của Tin mừng thấm nhập vào đời sống xã hội.

Hồi tâm

1) Những biểu hiện nào của sự khép kín, định kiến hoặc loại trừ đang cản trở việc xây dựng văn hóa gặp gỡ trong môi trường tôi đang sống?

2) Tôi có thể cộng tác với họ trong những lãnh vực nào để phục vụ cộng đồng và xây dựng hòa bình?

3) Làm thế nào để người Kitô hữu vừa trung thành với Tin mừng vừa biết trân trọng và học hỏi những giá trị tốt đẹp của các nền văn hóa khác?

4) Làm thế nào để người Kitô hữu vừa trung thành với Tin mừng vừa biết trân trọng và học hỏi những giá trị tốt đẹp của các nền văn hóa khác?

 

Bài 3 –  KỸ NĂNG CỘNG TÁC XÃ HỘI VÀ KIẾN TẠO HÒA BÌNH

Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi mà sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo và quan điểm ngày càng rõ nét, kỹ năng cộng tác xã hội trở thành một yếu tố then chốt giúp con người xây dựng những mối quan hệ bền vững, hài hòa và hiệu quả. Không chỉ dừng lại ở việc phối hợp làm việc chung, kỹ năng này còn là nền tảng để kiến tạo hòa bình – một giá trị cốt lõi giúp duy trì sự ổn định, phát triển bền vững của cộng đồng và xã hội. Việc rèn luyện và phát triển kỹ năng cộng tác xã hội không chỉ giúp cá nhân nâng cao khả năng giao tiếp, giải quyết xung đột mà còn góp phần xây dựng một môi trường sống hòa bình, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau. Chính vì vậy, kỹ năng cộng tác xã hội và kiến tạo hòa bình không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là trách nhiệm của mỗi người trong xã hội hiện đại. Đối với Kitô hữu, kỹ năng cộng tác xã hội không chỉ là khả năng làm việc chung mà còn là biểu hiện của tình yêu thương và sự hiệp nhất theo tinh thần Tin mừng. Đồng thời, kiến tạo hòa bình là sứ mệnh thiêng liêng, được Chúa Giêsu trao ban, như Lời Chúa đã dạy: “Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 9). Điều này đòi hỏi mỗi người chúng ta phải biết tha thứ, cảm thông và xây dựng sự hòa hợp trong mọi mối quan hệ. Chính vì vậy, việc rèn luyện kỹ năng cộng tác xã hội và kiến tạo hòa bình theo Lời Chúa dạy không chỉ góp phần làm đẹp cho đời sống cá nhân mà còn là nền tảng vững chắc để xây dựng một xã hội công bằng, yêu thương và hòa bình.

Cộng đoàn Kitô hữu là nơi thể hiện tình yêu thương như Chúa đã dạy qua sự hiệp nhất và liên đới giữa các thành viên. Với kỹ năng cộng tác, Cộng đoàn sẽ vượt qua được những khác biệt cá nhân để xây dựng sự đồng thuận và hòa hợp. Tinh thần hiệp hành luôn nhấn mạnh mỗi thành viên trong Cộng đoàn cần tham gia, lắng nghe và đồng hành cùng với nhau.

Trong Cộng đoàn, mỗi thành viên cần phải lắng nghe nhau. Nghe nhau không phải là như gió thoảng tai nọ lọt tai kia, nhưng là lắng nghe một cách tích cực. Nghe nhau không chỉ bằng tai nhưng mà bằng cả con người của mình, tôn trọng sự khác biệt của nhau, tôn trọng quan điểm và cảm xúc của tha nhân. Chúng ta cần phải biết lắng nghe nhau trong tình yêu thương để Cộng đoàn không đưa đến sự “tranh luận, võ luận”, gây ra sự mất mát đổ vỡ trong Cộng đoàn.

Mỗi người trong Cộng đoàn cần giao tiếp với nhau trong chân thành và xây dựng cho nhau theo tinh thần Kitô giáo, đó là hành động với nhau trong tình yêu thương, theo gương của Thầy Giêsu: “Hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Cộng đoàn là nơi thể hiện tình yêu thương của Chúa qua sự hiệp nhất và liên đới giữa các thành viên. Khi xây dựng góp ý cho nhau, chúng ta cần phải tìm về nơi chân thiện mỹ và quy hướng Chúa Kitô là Đấng hiền lành và khiêm nhường. Khi giao tiếp với nhau, chúng ta cần tránh những lời nói tiêu cực và giúp nhau tạo ra một môi trường thân thiện và cởi mở.

Trong Cộng đoàn khi có sự xung đột, chúng ta cần phải giải quyết theo tinh thần Kitô giáo, đó là sự tha thứ và hòa giải. Chúng ta không lấy “cái tôi” của mình làm trung tâm, không giữ sự hận thù hay tranh cãi, nhưng là phải biết lấy lợi ích chung, lợi ích của Cộng đoàn làm chính, phải biết tha thứ, tìm kiếm sự hòa giải và cùng nhau xây dựng được niềm tin trong Cộng đoàn.

Khi làm việc với nhau trong Cộng đoàn, chúng ta cần phải biết hướng đến mục tiêu chung của Cộng đoàn. Chúng ta phân chia công việc cách hợp lý để mỗi người đều có phận sự phối hợp nhịp nhàng với nhau. Chúng ta không áp đặt ý kiến cá nhân nhưng là lắng nghe nhau trong sự đa dạng, trong tình yêu thương và trong Chúa Kitô.

Hòa bình là hoa trái của tình yêu thương và sự hiệp nhất trong Cộng đoàn. Để có được sự hòa bình, chúng ta cần phải biết đối thoại và sống liên đới với nhau. Đối thoại để chúng ta mở ra được sự hiểu biết, xóa bỏ thành kiến với nhau. Chúng ta sống liên đới để có được sức mạnh tập thể, giúp Cộng đoàn vượt qua được những thử thách, cùng nhau giải quyết những thách đố, hỗ trợ nhau trong những khó khăn.

Trong Hội thánh, đã có nhiều tổ chức hoạt động nhằm thúc đẩy sự cộng tác và kiến tạo hòa bình như các nhóm cầu nguyện, các chương trình từ thiện, các buổi đối thoại liên tôn, các dự án phát triển cộng đồng… Các hoạt động này giúp gắn kết con người lại với nhau, để lan tỏa tình yêu thương và hòa bình ra một xã hội rộng lớn hơn. Cá nhân mỗi người chúng ta cũng có thể thực hành kỹ năng cộng tác xã hội trong gia đình, trong Cộng đoàn, nơi làm việc và nơi cộng đồng xã hội bằng cách sống chân thành, biết tha thứ và luôn hướng đến sự hòa hợp. Qua đó, mỗi người trở thành một “kiến trúc sư hòa bình,” góp phần xây dựng một xã hội công bằng, yêu thương, bền vững, góp phần xây dựng một môi trường sống ngày càng tốt đẹp hơn.

Để có được kỹ năng cộng tác xã hội và sống kiến tạo hòa bình, chúng ta phải luôn thường xuyên đào tạo và giáo dục chính mình. Chúng ta cộng tác với nhau đào tạo và giáo dục người khác trong các lớp giáo lý, các hoạt động mục vụ… và nơi sinh hoạt của Cộng đoàn chúng ta. Chúng ta tăng cường thực hành đối thoại, lắng nghe, hòa giải, khuyến khích tinh thần hiệp hành, đồng hành trong mọi hoạt động của Cộng đoàn, xây dựng cho nhau trong tình yêu thương bác ái Kitô giáo.

Kỹ năng cộng tác xã hội và kiến tạo hòa bình không chỉ là những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống thường ngày mà còn là sứ mệnh thiêng liêng mỗi Kitô hữu được mời gọi thực hiện. Qua việc rèn luyện và áp dụng những kỹ năng này, mỗi cá nhân không chỉ góp phần xây dựng những mối quan hệ bền vững, hòa hợp mà còn góp phần kiến tạo một xã hội công bằng, chan hòa yêu thương và sống hòa bình. Hòa bình không chỉ là sự vắng mặt của xung đột mà còn là sự hiện diện của tình yêu thương và sự hiệp nhất trong Cộng đoàn. Vì vậy, mỗi người hãy trở thành những “kiến trúc sư hòa bình” theo lời dạy của Chúa Giêsu, sống và làm việc với tấm lòng yêu thương, tha thứ và cộng tác chân thành, để từ đó lan tỏa ánh sáng của hòa bình yêu thương đến mọi nơi trong cuộc sống.

Hồi tâm:

1) Trong các mối tương quan gia đình và cộng đoàn, tôi có thực sự biết lắng nghe người khác bằng cả con người, tôn trọng sự khác biệt và cảm thông với cảm xúc của họ, hay tôi thường chỉ muốn người khác hiểu và làm theo ý mình?

2) Khi xảy ra bất đồng hay xung đột, tôi đang đặt “cái tôi” của mình lên trên lợi ích chung, hay tôi biết tha thứ, đối thoại và tìm kiếm hòa giải theo tinh thần của Chúa Giêsu?

3) Qua lời nói, cách ứng xử và những việc tôi làm mỗi ngày, tôi đang góp phần xây dựng sự hiệp nhất và bình an trong gia đình, cộng đoàn hay nơi tôi sống, hay vô tình trở thành nguyên nhân gây chia rẽ và tổn thương?

 

Bài 4 – KHIÊM TỐN LẮNG NGHE

ĐỂ NHẬN RA SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA NƠI NGƯỜI KHÁC

PX. Nguyễn Thái

Trong cuộc sống hôm nay, con người dễ bị cuốn vào nhịp sống vội vã, những tiện nghi vật chất, nhu cầu hưởng thụ và khát vọng khẳng định bản thân. Không ít lần, chúng ta quá chú trọng đến việc được nhìn nhận, được khen ngợi và được người khác lắng nghe, đến nỗi không còn đủ thinh lặng để lắng nghe Thiên Chúa và những người đang hiện diện bên cạnh mình.

Một tâm hồn kiêu căng, tự mãn, thích phô trương hoặc giả hình thường khó nhận ra những giới hạn và bất toàn của bản thân. Khi không ý thức mình là thụ tạo mong manh, luôn cần đến ân sủng, chúng ta cũng khó nhận ra tiếng Chúa đang vang lên qua Lời Ngài, tiếng lương tâm và những biến cố của cuộc sống.

Đặc biệt, Thiên Chúa hiện diện nơi mỗi người chúng ta gặp gỡ. Nơi người nghèo, người đau khổ, người bị bỏ rơi và những ai đang cần được yêu thương, chúng ta có thể gặp chính Đức Kitô. Để nhận ra điều ấy, chúng ta cần có một con tim khiêm tốn, biết lắng nghe, biết ra khỏi chính mình và nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa.

1. Khiêm tốn là điều kiện để lắng nghe Thiên Chúa

“Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.” (Gc 4,6)

Khiêm tốn không có nghĩa là phủ nhận những khả năng Chúa ban, nhưng là nhận biết mình là thụ tạo, luôn cần đến Thiên Chúa và sự giúp đỡ của người khác. Người khiêm tốn hiểu rằng mình không phải lúc nào cũng đúng và không thể tự mình sống trọn vẹn.

Chỉ khi biết dừng lại, thinh lặng và lắng nghe, chúng ta mới có thể nhận ra tiếng Chúa. Tiếng Chúa có thể được nhận ra qua Lời Ngài, tiếng lương tâm, những người Ngài gửi đến và cả những biến cố trong cuộc đời. Vì thế, chúng ta cần dành chỗ cho sự thinh lặng trong tâm hồn, để đón nhận điều Chúa muốn nói với mình.

Người luôn cho mình là đúng sẽ khó đón nhận lời góp ý. Người chỉ muốn nói mà không muốn nghe sẽ khó nhận ra điều Thiên Chúa muốn dạy. Vì thế, khiêm tốn là cánh cửa mở tâm hồn chúng ta trước sự thật, ân sủng và sự hiện diện của Thiên Chúa.

2. Nhận ra hình ảnh Đức Kitô nơi tha nhân

“Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40)

Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh Ngài. Vì thế, mỗi người đều có phẩm giá cao quý, dù họ nghèo khó, yếu đuối, đau bệnh, thất bại hay khác biệt với chúng ta. Tha nhân không phải là phương tiện để chúng ta sử dụng, cũng không phải là gánh nặng cần tránh né, nhưng là người được Thiên Chúa yêu thương.

Đức Giêsu đã đồng hóa mình với những người bé nhỏ và đau khổ. Khi quan tâm đến người đói khát, thăm viếng người đau bệnh, an ủi người cô đơn hay giúp đỡ người nghèo khó, chúng ta đang phục vụ chính Đức Kitô. Ngược lại, khi khinh thường, loại trừ hoặc làm tổn thương một người bé mọn, chúng ta cũng xúc phạm đến chính Chúa.

3. Lắng nghe để yêu thương và phục vụ

“Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.” (1 Ga 3,18)

Nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tha nhân không chỉ dừng lại ở một cảm xúc hay suy nghĩ đạo đức, nhưng cần được thể hiện bằng những hành động cụ thể. Lắng nghe người khác là bước đầu của tình yêu. Khi thật sự lắng nghe, chúng ta giúp người đối diện cảm nhận rằng họ có giá trị, được tôn trọng và không bị bỏ rơi.

Nhiều người không cần chúng ta đưa ra những lời khuyên lớn lao, nhưng chỉ cần một người sẵn lòng hiện diện, lắng nghe và đồng hành. Đức Giêsu luôn đến gần con người, chạm đến nỗi đau của họ, chữa lành và trao ban niềm hy vọng. Người môn đệ của Chúa cũng được mời gọi bước ra khỏi sự tiện nghi của mình để đến với những người đang cần được nâng đỡ.

Chứng tá trong cuộc sống

Đối với tôi, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống không phải là điều dễ dàng. Đức tin còn yếu, lòng khiêm tốn còn hạn chế, nên nhiều lần tôi chưa nhận ra rằng Chúa vẫn luôn đồng hành, hướng dẫn, gìn giữ và ban ơn, từng giờ và từng biến cố của cuộc đời.

Nhiều khi tôi chỉ tìm Chúa trong những điều lớn lao, phi thường mà quên rằng Chúa vẫn hiện diện trong những điều rất đơn sơ: một lời động viên, một sự giúp đỡ âm thầm, một người biết lắng nghe, một cơ hội để phục vụ, hay cả những thử thách giúp tôi trưởng thành hơn trong đức tin.

Càng đến gần Chúa, tôi càng nhận ra rằng mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương và là anh chị em của tôi trong Đức Kitô. Vì thế, tôi cố gắng tập lắng nghe họ nhiều hơn, kiên nhẫn hơn trước những yếu đuối của họ và thể hiện tình yêu bằng những việc làm cụ thể: cầu nguyện, thăm hỏi, động viên, chia sẻ và giúp đỡ trong khả năng của mình.

Trước đây, có thể tôi còn ngần ngại khi gặp gỡ những người có hoàn cảnh khác biệt hoặc đang gặp nhiều khó khăn. Nhưng càng ý thức rằng Đức Kitô hiện diện nơi người nghèo, người đau khổ và những người bị bỏ rơi, tôi càng cảm thấy được mời gọi đến gần họ hơn. Tôi muốn hiện diện bên họ không phải như một người ban phát, nhưng như một người anh chị em biết cảm thông, lắng nghe và đồng hành.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, Chúa vẫn hiện diện và nói với chúng con mỗi ngày qua Lời Ngài, qua tiếng lương tâm, qua Giáo hội, qua những biến cố của cuộc sống, và đặc biệt qua những người chúng con gặp gỡ. Nhưng để nhận ra Ngài, chúng con cần có một tâm hồn khiêm tốn và thinh lặng. Khi biết hạ mình xuống, chúng con mới có thể lắng nghe; khi biết lắng nghe, chúng con mới có thể hiểu và cảm thông.

Lạy Chúa, xin cho mỗi cuộc gặp gỡ trong đời chúng con trở thành một cơ hội gặp gỡ Chúa; mỗi lời nói trở thành lời nâng đỡ; mỗi việc làm trở thành một cử chỉ yêu thương; và cả cuộc đời chúng con trở thành chứng tá sống động cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Hồi tâm

4. Trong đời sống hằng ngày, điều gì khiến tôi khó lắng nghe Thiên Chúa và người khác? Tôi có thể tập sống khiêm tốn, thinh lặng hơn bằng cách nào?

5. Trong những người nghèo khó, đau khổ, cô đơn hoặc khác biệt mà tôi gặp gỡ, ai đang cần tôi quan tâm và đến gần hơn? Tôi có thể nhìn họ bằng ánh mắt của Chúa như thế nào?

6. Sau khi suy niệm bài này, tôi sẽ thực hiện việc cụ thể nào để lắng nghe, yêu thương và phục vụ một người đang cần được nâng đỡ?

 

Nguồn: WHĐ (05/10/2026)

__________________________

[1] Đức Phanxicô, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 49.

[2] Công đồng Vat. II., Sắc lệnh Nostra Aetate, số 2.

[3] X Đức Phanxicô, Tông huấn Fratelli Tutti, số 271-285.

[4] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 52

[5] Đức Phanxicô, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 116

[6] Nt

[7] Nt số 117

[8] Nt

[9] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Caritas in Veritate, số 7.

[10] X. Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, số 183.