
Không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng, nhưng là chính Đức Ki-tô đã mặc khải.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ga-lát.
6 Thưa anh em, tôi lấy làm ngạc nhiên, khi thấy anh em trở mặt mau lẹ như thế với Đấng đã kêu gọi anh em nhờ ân sủng của Đức Ki-tô, để theo một Tin Mừng khác. 7 Không có Tin Mừng nào khác đâu, mà chỉ có một vài kẻ phá rối anh em, và muốn làm xáo trộn Tin Mừng của Đức Ki-tô đó thôi. 8 Nhưng nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi ! 9 Như tôi đã nói, và nay tôi xin nói lại : nếu có ai loan báo cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng anh em đã lãnh nhận, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi ! 10 Vậy, giờ đây tôi tìm cách lấy lòng người đời, hay lấy lòng Thiên Chúa ? Phải chăng tôi tìm cách làm đẹp lòng người đời ? Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Ki-tô.
11 Thật vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết : Tin Mừng tôi loan báo không phải là do loài người. 12 Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
1Tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa,
trong cộng đoàn chính nhân, giữa lòng đại hội.2Việc Chúa làm quả thật lớn lao,
người mộ mến ra công tìm hiểu.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
7Những công trình tay Chúa thực hiện
quả là chân thật và công minh.
Huấn lệnh Người ban đều chắc chắn,8bền vững đến muôn đời muôn thuở,
căn cứ vào sự thật lẽ ngay.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
9Người đem lại cho dân ơn giải thoát,
thiết lập giao ước đến muôn đời.
Tôn danh Người thánh thiêng khả uý.10cMãi đến thiên thu còn vang tiếng ngợi khen Người.
Đ.Giao ước đã lập ra, muôn đời Chúa nhớ mãi.
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em. Ha-lê-lui-a.
Ai là người thân cận của tôi ?
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
25 Khi ấy, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” 26 Người đáp : “Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào ?” 27 Ông ấy thưa : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” 28 Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”
29 Tuy nhiên, ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng : “Nhưng ai là người thân cận của tôi ?” 30 Đức Giê-su đáp : “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới chỗ nạn nhân, thấy vậy thì động lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói : ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp ?” 37 Người thông luật trả lời : “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.” Đức Giê-su bảo ông ta : “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
(Nguồn: ktcgkpv.org)
______________________
Suy niệm 1: TGM Giuse Nguyễn Năng
(Nguồn: tgpsaigon.net)
____________________
Suy niệm 2: Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu S.J
HÃY ĐI VÀ LÀM NHƯ VẬY
Suy niệm:
Trong Tin Mừng Mátthêu và Máccô (Mt 22, 36; Mc 12, 28)
vị luật sĩ đặt câu hỏi về điều răn nào là điều răn lớn nhất.
Còn theo Tin Mừng Luca, vị này lại hỏi Đức Giêsu
về việc phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp (c. 25).
Đức Giêsu nghĩ rằng câu trả lời đã có trong sách Luật, nên Ngài hỏi lại ông.
Ông này đã trích sách Đệ Nhị Luật 6,5 và sách Lêvi 19,18 để trả lời.
Động từ yêu mến diễn tả thái độ đối với Thiên Chúa và người thân cận:
“Hãy yêu mến Thiên Chúa với tất cả trái tim con, với tất cả linh hồn con,
với tất cả sức lực con và với tất cả trí khôn con,
và người thân cận như chính mình” (c. 27).
Đức Giêsu khen ông trả lời đúng và khích lệ ông (c. 28).
Như thế giữa Ngài và vị thầy Do thái giáo đã có sự nhất trí nào đó.
Tình yêu không phải là một đòi hỏi mới của Kitô giáo,
nhưng tình yêu đã là điều cốt yếu của Do thái giáo từ xưa.
Vấn đề là phải yêu Thiên Chúa với tất cả trái tim, linh hồn, sức lực và trí khôn.
Từ tất cả được lặp lại bốn lần để nói lên một đòi hỏi tận căn, trọn vẹn.
Nhưng Đức Giêsu còn phải trả lời câu hỏi: “Ai là người thân cận của tôi ?”
Ngài đã trả lời bằng một dụ ngôn nổi tiếng,
qua đó ngài mở rộng quan niệm truyền thống về người thân cận.
Một người từ Giêrusalem xuống Giêrikhô.
Anh phải vượt qua đoạn đường dài gần 25 cây số.
Đoạn đường này thời bấy giờ có nhiều trộm cướp.
Anh đã bị bọn cướp trấn lột, đánh nhừ tử và đặt nằm đó nửa sống nửa chết.
Nhìn vào tình cảnh bi đát của anh, có ai muốn thương giúp anh không?
Có ba người đi qua chỗ anh nằm, một là thầy tư tế, hai là thầy Lêvi.
Cả hai đều phản ứng như nhau: thấy và tránh qua bên kia mà đi (cc. 31-32).
Chúng ta không rõ tại sao họ làm thế.
Có thể vị tư tế sợ mình bị ô nhơ qua việc đụng chạm đến xác chết,
vì sách Lêvi (21, 1-3) cấm không được làm thế, trừ phi là xác bà con gần.
Một người Samari là nhân vật thứ ba đi ngang qua nạn nhân.
Hầu chắc nạn nhân này là một người Do Thái,
vì không có chi tiết nào cho thấy anh ta là dân ngoại cả.
Giữa dân Do Thái và dân Samari vốn có mối hiềm thù từ lâu.
Người Samari này cũng thấy nạn nhân như hai người trước,
nhưng đó không phải là cái nhìn lạnh lùng, vô cảm.
Anh thấy bằng trái tim mình, vì thế anh chạnh lòng thương (c. 33).
điều mà hai người trước không có.
Chính sự thúc đẩy của trái tim đã khiến anh làm một loạt hành động cụ thể:
lấy dầu và rượu đổ lên vết thương, băng bó, đặt nạn nhân trên lưng lừa,
đưa về quán trọ săn sóc, ở lại quán trọ nguyên ngày hôm ấy,
trả tiền cho chủ quán và hứa sẽ trở lại trả thêm nếu cần (cc. 34-35).
Lòng thương xót thật sự khiến anh chấp nhận mất công, mất của, mất giờ,
và có thể mất mạng nữa, vì có thể tên cướp vẫn còn núp đâu đây.
Khi giúp cho kẻ lâm nạn, dù biết đó là một người Do Thái kẻ thù của mình,
người Samari đã làm một phép lạ lớn.
Đó là biến mình trở thành người thân cận với anh ấy,
và biến anh ấy, kẻ thù của mình, trở thành người thân cận với mình.
Đây là phép lạ của tình thương phá vỡ và vượt qua mọi biên giới
của chủng tộc, tôn giáo và nhất là vượt qua những thù oán lâu đời.
Để trả lời câu hỏi của vị luật sĩ: ai là người thân cận của tôi ?
Đức Giêsu đặt câu hỏi ngược lại cho vị này: “Theo ông,
trong ba người, ai đã trở nên người thân cận với kẻ bị nạn ?” (c. 36).
Câu hỏi quá dễ, nhưng hàm chứa một điều mới mẻ sâu xa.
Trước khi giúp một người,
tôi không nên tự hỏi người này có thân cận với tôi không.
Chúng ta không chỉ giúp những người thân cận và loại trừ người khác.
Chúng ta giúp một người chỉ vì người đó đang cần chúng ta.
Giúp đỡ cụ thể là cách tạo ra người thân cận
Càng giúp nhiều, ta càng có nhiều người bạn thân.
Vị luật sĩ đã hỏi Đức Giêsu phải làm gì (c. 25).
Kể xong dụ ngôn, Đức Giêsu trả lời: Hãy đi và hãy làm như vậy (c. 37).
Đất nước chúng ta đã giàu lên đáng kể, nhưng vẫn không thiếu người nghèo,
nghèo sức khỏe, nghèo tri thức, nghèo vật chất tối thiểu, nghèo nhân phẩm…
Chúng ta cũng bị cám dỗ “tránh sang bên kia đường”,
thấy mà làm như không thấy những Ladarô nằm trước cửa.
Yêu những người nghèo như chính mình, yêu cả những ai đã làm khổ mình.
Đó là cách chúng ta rao giảng Tin Mừng cho quê hương Việt Nam hôm nay.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
lúc đầu chúng con chỉ muốn cầm tay nhau
để làm thành một vòng tròn khép kín.
Sau đó chúng con hiểu rằng
cần phải buông tay nhau
để nhận những người bạn mới,
để vòng tròn được mở rộng đến vô cùng
và trái tim được lớn lên mãi.
Lạy Chúa, chúng con biết rằng
cần phải nối vòng tay lớn
xuyên qua các đại dương và lục địa.
vòng tay người nối với người,
vòng tay con người nối với Tạo Hóa.
Chúng con thích Chúa
đứng chung một vòng tròn
với tất cả loài người chúng con,
nắm lấy tay chúng con
và đưa chúng con lên cao.
Ước gì việc Chúa giang tay trên thập giá
giúp chúng con biết cầm lấy tay nhau
và nhận nhau là anh em. Amen.
(Nguồn: WHĐ)
_________________________
Suy niệm 3: Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, S.J
“Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37).
Quý ông bà và anh chị em thân mến,
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta nghe mẩu đối thoại giữa Đức Giê-su và một nhà thông luật (có lẽ là một kinh sư) về sự sống đời đời. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể nhận thấy rằng điều kiện để có thể đạt tới sự sống đời đời không chỉ dừng lại ở một ý tưởng “mến Chúa yêu người” nhưng còn cần được thể hiện điều ấy bằng một hành động cụ thể.
Đức Giê-su giúp cho vị kinh sư này hiểu rõ bản chất của việc “mến Chúa yêu người” chính là lòng xót thương người, dù người ấy là ai và như thế nào. Câu chuyện dụ ngôn “Người Samarianô Nhân Lành” chính là lời khẳng định rõ ràng nhất cho chân lý này của Đức Giê-su.
Một số nhà chú giải Kinh Thánh giải thích cho chúng ta biết rằng hình ảnh người Samarianô nhân lành chính là hình ảnh về Đức Giê-su, Đấng cũng là mục tử nhân lành, dám hy sinh tính mạng cho đàn chiên. Chúng ta hãy chiêm ngắm hình ảnh của người Samarianô trong dụ ngôn “Người Samarianô Nhân Lành” để nhận ra hình ảnh của Thầy Giê-su và học với Người cách sống bằng hành động cụ thể giới luật yêu thương của Thầy Chí Thánh.
Trước hết, người Samarianô là một người biết xót thương người khác (c.33). Gặp người bị nạn, “ông ta lại gần” (c.34) chính là hình ảnh Ngôi Hai xuống thế làm người. Sau đó, ông ta “lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương của nạn nhân” là hành vi thiết lập các bí tích của Đức Giê-su, điển hình là Bí tích Xức dầu. Ông ta “đưa nạn nhân vào quán trọ” tựa như hình ảnh Chúa Chịu Nạn trao Đức Mẹ cho Thánh Gioan và Chúa Giê-su Phục Sinh trao sứ mạng chăm sóc con chiên cho Thánh Phê-rô cũng như cho Giáo Hội. “Ông trao cho chủ quán hai quan tiền” (c.35) là một số tiền lớn và có giá trị, tượng trưng cho việc Chúa Giê-su trao ban Thánh Thần và các năng quyền đặc thù cho Giáo Hội. Sau cùng, “ông hẹn ngày quay trở lại để tính toán sổ sách cho chủ quán” là hình ảnh chờ đợi ngày Chúa ngự đến lần thứ hai để phán xét người sống và kẻ chết.
Tóm lại, lời giảng dạy của Chúa Giê-su luôn sống động và chân thật vì nó được rút ra từ chính kinh nghiệm sâu xa và chân thật của Người, kinh nghiệm về một tình yêu trao hiến với trọn con tim chân thành tinh ròng. Kinh nghiệm về việc trở nên bạn với người khác. Kinh nghiệm về việc đến với người khác và coi họ là người thân cận của mình: “Ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (c.36) Kinh nghiệm này khác với kinh nghiệm và suy nghĩ của vị kinh sư: “Ai là người thân cận của tôi?” (c.29)
Mẩu đối thoại giữa Đức Giê-su và vị kinh sư trong đoạn TM hôm nay khá quen thuộc. Tuy nhiên, khi chiêm ngắm Lời Chúa qua câu chuyện dụ ngôn “Người Samarianô Nhân Lành”, quý vị có cảm thấy Lời Chúa thách đố tâm can mình, làm tim quý vị nhói đau khi nhận thấy có đôi khi mình rất giống “thầy tư tế” và “thầy Lê-vi”, nghĩa là quý vị đặt công việc và lợi ích bản thân lên trên tính mạng con người, hoặc quý vị có thể nói về giới luật “mến Chúa yêu người” nhưng chưa thể sống giới luật ấy bằng hành động cụ thể? Hoặc có đôi khi mình giống với vị kinh sư vì coi người khác không phải là người thân cận, thay vì bản thân mình phải là người thân cận với người khác?
Quý vị hãy tâm sự với Chúa về những thách đố diễn ra trong tâm trí mình khi suy niệm bài TM hôm nay và xin Chúa ban cho quý vị có được một tình yêu tinh ròng như Chúa muốn, hoặc như “Người Samarianô Nhân Lành”, quý vị nhé!
Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!
Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ, giáo xứ Hoa Lư, Pleiku
_______________________
WGPKT(04/10/2026) KONTUM
