Ta sẽ dẫn những người ngoại bang lên núi thánh của Ta.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
1 Đức Chúa phán như sau : “Hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ. 6 Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, 7 đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.”
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 66,2-3.5.6 và 8 (Đ. c.4)
Đ. Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài !
2 Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh Tôn Nhan rạng ngời trên chúng con, 3 cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài. Đ.
5 Ước gì muôn nước reo hò mừng rỡ, vì Chúa cai trị cả hoàn cầu theo lẽ công minh, Người cai trị muôn nước theo đường chính trực và lãnh đạo muôn dân trên mặt đất này. Đ.
6 Ước gì chư dân cảm tạ Ngài, lạy Thiên Chúa, chư dân phải đồng thanh cảm tạ Ngài. 8 Nguyện Chúa Trời ban phúc lộc cho ta ! Ước chi toàn cõi đất kính sợ Người ! Đ.
Bài đọc 2 : Rm 11,13-15.29-32
Khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý.
13 Thưa anh em, tôi xin ngỏ lời với anh em là những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi, 14 mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó. 15 Thật vậy, nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hoà giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống ?
29 Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý.
30 Thật vậy, trước kia anh em đã không vâng phục Thiên Chúa, nhưng nay anh em đã được thương xót, vì con dân Ít-ra-en không vâng phục ; 31 họ cũng thế : nay họ không vâng phục Thiên Chúa, vì Người thương xót anh em, nhưng đó là để chính họ cũng được thương xót. 32 Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : x. Mt 4,23
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đức Giê-su rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Mt 15,21-28
Này bà, lòng tin của bà mạnh thật.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
21 Khi ấy, Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn, 22 thì này có một người đàn bà Ca-na-an, ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng : “Lạy Ngài là con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm !” 23 Nhưng Người không đáp lại một lời.
Các môn đệ lại gần xin với Người rằng : “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !” 24 Người đáp : “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” 25 Nhưng bà ấy đến bái lạy mà thưa Người rằng : “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi !” 26 Người đáp : “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” 27 Bà ấy nói : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” 28 Bấy giờ Đức Giê-su đáp : “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật ! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
* Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta một lời giáo huấn tuyệt đẹp về lời cầu nguyện kiên trì, tràn đầy niềm tin. Nhân vật chính không thuộc về dân được chọn nhưng thuộc gốc dân ngoại. Bài Tin Mừng được chuẩn bị bằng một đoạn trích sách ngôn sứ I-sai-a cho thấy Chúa tỏ ra nhân hậu đối với những người ngoại bang gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người. Bài đọc 2 là phần kết thúc thư Rô-ma nhắm đến việc hoán cải của người Do-thái. Cảnh tượng bài Tin Mừng trình bày cho chúng ta thật sống động và tự phát. Thánh Mát-thêu mô tả sự việc tiến triển thật ấn tượng. Đức Giê-su đã nhiều lần đi ra ngoài xứ Pa-lét-tin, đến vùng đất dân ngoại. Lần này, Người rút lui về miền Tia và Xi-đôn, nằm về phía bắc Thánh Địa. Người gặp một người đàn bà Ca-na-an, ở vùng ấy đi ra, kêu lên rằng : “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi ! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm.” Chính tình mẫu tử đã khiến người phụ nữ khẩn thiết kêu xin Chúa giúp đỡ. Con gái bà bị quỷ dữ hành hạ dữ dội nên bà chạy đến cùng Đức Giê-su. Chắc chắn bà đã nghe nói về Người, về lòng nhân từ của Người đối với các bệnh nhân và nhiều phép lạ Người đã làm. Bà chạy đến cùng Đức Giê-su với lòng tin mãnh liệt. Tuy nhiên, lần này thái độ của Đức Giê-su khiến ta bỡ ngỡ, vì khi nghe lời kêu cầu thảm thiết của bà này, Đức Giê-su không đáp một lời nào cả, Người cho thấy rằng Người không muốn can thiệp, Người không muốn làm phép lạ giúp người phụ nữ quá đau khổ này. Các môn đệ lại gần xin với Người rằng : “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !” Các môn đệ nói như vậy không phải vì thương xót người phụ nữ này nhưng là khó chịu vì bị quấy rầy, bởi những tiếng kêu mà người khác cũng nghe và có thể gây chú ý cho những người Do-thái ở đó.
* Lúc bấy giờ Đức Giê-su giải thích lý do tại sao Người từ chối can thiệp : Việc đó không thuộc sứ vụ của Người. Người nói : “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, hiểu rất rõ sứ vụ trong cuộc đời trần thế của Người, giới hạn trong dân Ít-ra-en mà thôi. Đức Giê-su hiền lành và khiêm nhường không muốn đi quá giới hạn này, không muốn có những sáng kiến làm lệch sứ vụ của Người. Về phía Đức Giê-su, đó là lòng khiêm nhường sâu xa, luôn vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Dù giàu lòng thương xót nhưng Đức Giê-su không hề muốn làm phép lạ này. Tuy nhiên, người phụ nữ không hề thất vọng. Bà đến gần Đức Giê-su, bái lạy mà thưa Người rằng : “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi !” Người đáp : “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Lời này của Đức Giê-su thật cứng cỏi vì Người so sánh người đàn bà Ca-na-an với chó con, lẽ ra người phụ nữ có thể nổi giận sau khi nghe Đức Giê-su nói như vậy. Nhưng hoàn toàn trái ngược, bà nài nỉ khi lặp lại lời của Đức Giê-su : “Thưa Ngài, đúng vậy, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bà chấp nhận lời Đức Giê-su. Người đàn bà này tỏ ra rất mực khiêm nhường : bà chấp nhận bị so sánh với một con chó con nhưng bà thành công khi kiên trì kêu cầu. Nếu chó con không được phép ăn những gì trên bàn của chủ, thì cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống. Nỗ lực của người đàn bà Ca-na-an để cứu con gái mình thật đáng cho ta ngưỡng mộ. Lúc “bấy giờ Đức Giê-su đáp : ‘Này bà, lòng tin của bà mạnh thật ! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.’ Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh.” Dù sứ vụ của Đức Giê-su bị giới hạn, nhưng Đức Giê-su có thể vượt qua giới hạn đó do đức tin mạnh mẽ của người phụ nữ này chắc chắn là được Cha trên trời gợi ý. Vì lý do đó mà Đức Giê-su tỏ lòng thương xót đối với bà. Đoạn Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su luôn chạnh lòng thương hết thảy mọi người.
* Chúng ta thấy Thiên Chúa đã mở rộng tình yêu của Người đến với những người ngoại bang trong bài đọc 1. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã chọn một dân tộc để yêu thương họ. Tuy nhiên, nhiều bản văn của Cựu Ước cho thấy sự giới hạn này không hề cứng nhắc. Rốt cuộc, những đặc ân dân riêng Chúa chọn được hưởng, thì các dân tộc khác cũng được hưởng nhờ. Ngôn sứ I-sai-a không ngần ngại khi nói rằng Thiên Chúa sẽ dẫn những người ngoại bang lên núi thánh, nghĩa là lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, những ai gắn bó cùng Đức Chúa, để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Thiên Chúa không hứa điều gì quá lạ thường hơn điều đó, liên kết trọn vẹn các dân tộc với dân Chúa chọn để sống thân mật với Người.
Người nói tiếp : “Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.” Ý định của Thiên Chúa là muốn cứu độ toàn thể nhân loại. Khi Thiên Chúa ban một ơn đặc biệt cho ai đó, thì Người không chỉ muốn ban ơn cho người đó mà thôi mà qua người đó, Chúa muốn ban muôn ơn lành cho tất cả mọi người. Chẳng hạn chúng ta nghĩ đến Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã nhận một ân huệ đặc biệt là làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa, để rồi cộng tác với Con Thiên Chúa đem ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.
Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô giải thích thái độ của ngài trước sự cứng lòng tin của người Do-thái không muốn đón nhận ân sủng của Thiên Chúa ban cho nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Như người đàn bà Ca-na-an, ngài không mất hết hy vọng, ngài nói rằng vinh quang sứ vụ của ngài sẽ giúp cho đồng bào của ngài nhận được ơn cứu độ, ngài giải thích rằng ơn gọi của Thiên Chúa là không thể thay đổi được. Vì thế, những người Do-thái luôn là đối tượng của một tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa và chắc chắn Thiên Chúa muốn họ được cứu độ. Nhưng phải nói rằng Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người. Nếu họ vẫn cố chấp, vẫn tự mãn, vẫn kiêu ngạo, thì họ không nhận được ơn Chúa. Tuy nhiên, lòng thương xót của Chúa dành cho họ là không giới hạn. Thánh Phao-lô quả quyết : “Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người”, nghĩa là Chúa muốn cứu độ hết thảy mọi người.
Chúng ta phải mở rộng con tim của chúng ta cho tình yêu phổ quát mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Chúng ta đừng có những ý nghĩ hẹp hòi nhưng phải luôn có một con tim quảng đại để đón nhận tất cả những ai Chúa cho chúng ta gặp trên đường đời.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.
Tự vấn :
Trong những lúc gặp khó khăn, gặp thử thách gian truân, chúng ta có chạy đến cùng Chúa với lòng tin tưởng hay là chán nản, thất vọng, muốn buông xuôi tất cả ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Đức tin phá đổ mọi rào cản”
(G. Bessière, trong cuốn “Dieu si proche”, NXB Desclée de Brouwer, 1992, tr. 136-137).
Người ta không biết tên bà, người ta gọi bà là “người phụ nữ Ca-na-an”. Tuy nhiên bà giữ một vai trò độc đáo.
Đức Giê-su và các môn đệ vừa vượt ranh giới, bởi vì tình hình căng thẳng ở Ga-li-lê : Dĩ đào vi thượng mà. Họ đi về hướng Bắc, đến Tia và Xi-đôn, ngày nay là miền Nam Li-băng. Đã từ nhiều thế kỷ, người Do-thái giữ một khoảng cách đối với dân chúng miền này, tôn giáo của người Ca-na-an bị người dân trung thành với Thiên Chúa Ít-ra-en khinh miệt.
Một phụ nữ của xứ này đến kêu xin Đức Giê-su chữa con gái bà. Chúa làm thinh. Khi các môn đệ nài xin Chúa ban phép lạ để thoát khỏi người đàn bà quấy rầy, thì Chúa trả lời rằng : “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ít-ra-en mà thôi.” Rồi khi người đàn bà sấp mình dưới chân Chúa, thì Người còn tỏ ra cứng cỏi hơn : “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Và đây chính là lúc sự việc diễn ra.
Một người phụ nữ chộp lấy cách gọi khinh bỉ đó và đối đáp lại bằng câu ví : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bà ấy không phản đối, không chống lại. Bà chỉ kêu mời Đức Giê-su đi tới cùng. Đức Giê-su ngạc nhiên : “Lòng tin của bà mạnh thật ! …” Và đứa con được lành bệnh.
Đức Giê-su vừa bước qua một ranh giới, ranh giới nội tâm. Chúa mở rộng tâm hồn cách quyết liệt. Câu đối đáp của người phụ nữ ngoại này có chiều kích nhân đạo và tôn giáo vô hạn.
Đối với các Ki-tô hữu đến từ các dân tộc và tôn giáo khác – người ta thường kêu là “dân ngoại” – đoạn Tin Mừng thuật lại việc Đức Giê-su đến với người ngoại quốc, được coi là quý hoá. Bởi vì họ có thể đồng hoá với viên đại đội trưởng, với người phụ nữ Ca-na-an. Khi có cuộc tranh luận xem có cần phải theo đạo Do-thái để theo chân Đức Giê-su không, thì người ta nhắc lại kỷ niệm này.
Tại sao Đức Giê-su khen ngợi người phụ nữ Ca-na-an ? Chính là vì đức tin kiên trì của bà. Nhìn bà, chúng ta cũng khám phá ra rằng chúng ta cần phải học hỏi người khác, đôi khi cần chúng ta phải bỏ đi cái nhìn hẹp hòi của mình, và nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đến từ nơi khác.
2.“Đức tin của một người phụ nữ ngoại”
(F. Declos, trong cuốn “Prends et mange la Parole”, NXB Centurion – Doculot, 1992, tr. 73).
Người phụ nữ Ca-na-an, tuy biết rằng những người Do-thái mà bà đang khẩn cầu này nhìn bà cách kinh tởm vẫn cứ nài nỉ dai dẳng. Các môn đệ, những người rất tôn trọng truyền thống, gợi ý với Thầy mình : “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !”
Đây là cuộc gặp gỡ do Chúa Quan Phòng xếp đặt. Vì lòng kiên trì của người phụ nữ sẽ thắng thái độ thinh lặng “theo luật” của Đức Giê-su. Nào Người sẽ giữ thái độ khép kín trong bốn bức tường định kiến của dân tộc Người chăng ? Nhưng vị ngôn sứ Na-da-rét đã phản ứng một cách bất ngờ và gây sốc biết bao. Bằng chỉ một lời, Đức Giê-su đã quét sạch mọi cấm kỵ, mọi luật lệ, mọi quy ước do những con người nhỏ nhen tạo ra, và bắt đầu một cuộc đổi đời mà sẽ trở thành cuộc hiệp thông giữa mọi người.
Đứng trước nhóm Biệt phái tức tối và nhóm môn đệ bàng hoàng, Đức Giê-su đã trân trọng lời của một phụ nữ, trân trọng đức tin của một người ngoại đạo, thái độ chứng tỏ cho mọi người thấy tâm hồn cao thượng và lòng tin tưởng sâu xa của bà. Bà nhận được phép lạ như lòng mong ước, đồng thời nhận được tình bạn của vị tôn sư, điều mà bà không dám nghĩ tới.
Giờ đây, người “dơ” trở nên mẫu mực cho người “sạch”. Người mà đáng lẽ phải bị ruồng bỏ giờ đây được đón tiếp, người đáng lẽ bị nguyền rủa giờ đây được chúc mừng. Người phụ nữ Ca-na-an bị các môn đệ khinh bỉ, giờ đây được sư phụ của họ tôn vinh. Người khách lạ trở nên người thân thuộc, và “con chó nhỏ” được ngồi vào bàn ăn của Chúa. Sát bên Người.
Chúng ta cũng có những phụ nữ Ca-na-an, những con chó nhỏ. Tinh thần Ghét-tô (pháo đài) về giai cấp, địa vị luôn rình rập ta. Tính tự cao tự đại khiến ta nghi kỵ ra mặt, khinh bỉ người khác không giấu giếm, hoặc kiêu căng nghĩ mình là trên hết. Nhưng nhiều khi những “con chó nhỏ” giúp ta nhảy qua rào cản của bè phái để mở ra đón nhận sự phong phú từ người khác, và mở ra đón nhận tình huynh đệ toàn cầu. Đâu là những “người khách lạ” khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể ?