
Tất cả chúng ta, dù có đạo hay không, đều khao khát sự siêu việt, bởi vì trái tim con người được tạo dựng cho điều ấy. Khi nói đến sự siêu việt, tôi muốn nói đến việc ý thức về một điều gì đó lớn lao hơn chính mình; một điều gì đó vượt trên chúng ta. Đó là trải nghiệm về một điều gì đẹp đẽ, mạnh mẽ đến mức ngôn từ trở nên bất lực và trái tim chúng ta rung động. Có lẽ bạn đã từng cảm nghiệm điều này khi ngước nhìn bầu trời đêm đầy sao, khi đi bộ đường dài giữa vùng Ozarks, hay khi bước vào một ngôi thánh đường đẹp đến nghẹt thở. Những kinh nghiệm tự nhiên về sự siêu việt như thế là những ân huệ hướng chúng ta về Thiên Chúa siêu việt.
Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt – Người không được tạo dựng, vô cùng thánh thiện và vượt quá khả năng thấu hiểu của con người. Người cũng khác chúng ta nhiều hơn là giống chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Người để chúng ta được sống trong tương quan với Người. Vì thế, mặc dù trái tim con người khao khát đủ loại cuộc gặp gỡ với một điều gì đó lớn lao hơn chính mình, nhưng trên hết, nó khao khát được gặp gỡ Thiên Chúa của vũ trụ.
Đáng tiếc là nhiều điều trong nền văn hóa ngày nay lại kéo chúng ta theo hướng ngược lại – về phía những điều nhỏ bé hơn chính mình. Quá nhiều thứ bị thu hẹp vào việc giải trí, hưởng thụ và tính hữu ích. Dĩ nhiên, bản thân những điều bình thường và nhỏ bé không có gì sai trái. Chúng chiếm phần lớn đời sống hằng ngày, và Thiên Chúa đã thiết kế cuộc sống như thế. Nhưng vấn đề nảy sinh khi đó là tất cả những gì chúng ta trải nghiệm, và khi cuộc đời chúng ta chỉ tập trung vào những điều ấy.
Trái lại, đức tin Công giáo đặt phụng vụ làm trung tâm. Phụng vụ đưa chúng ta ra khỏi những gì bình thường của đời sống để bước vào triều thần thiên quốc, vào vẻ huy hoàng của cõi vĩnh hằng! Mỗi Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ: Thiên Chúa mời gọi chúng ta tham dự vào việc thờ phượng trên trời; chúng ta được hiệp thông với Đức Kitô; và rồi được sai đi vào thế giới như những môn đệ truyền giáo, để giúp người khác gặp gỡ Thiên Chúa như chúng ta đã gặp Người.
Trong Thánh lễ, Thiên Chúa mời gọi chúng ta tham dự vào việc thờ phượng Thiên Chúa (Lời mời gọi)
Lời mời ấy bắt đầu ngay khi phụng vụ khởi sự, bởi vì toàn bộ Thánh lễ là một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, Đấng “luôn hiện diện trong Hội thánh của Người, nhất là trong các cử hành phụng vụ.”[1] Chúng ta thường tập trung cách chính đáng vào Chúa Giêsu hiện diện trong Thánh Thể, nhưng Người cũng hiện diện nơi vị linh mục, trong Lời Kinh Thánh được công bố, trong lời ca tiếng hát và trong cộng đoàn quy tụ. Toàn bộ phụng vụ là một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, và chỉ đến phần Hiệp lễ, cuộc gặp gỡ ấy mới đạt tới đỉnh cao.
Trong Hy tế Thánh của Thánh lễ, chúng ta gặp gỡ Chúa Giêsu, và rồi Người mời chúng ta tham dự vào chính việc Người thờ phượng Chúa Cha. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo giải thích rằng nhờ Chúa Giêsu, Hội Thánh “dâng lên Chúa Cha việc thờ phượng… trong đó Thiên Chúa được tôn vinh cách hoàn hảo và con người được thánh hóa” (GLHTCG 1089). Nhưng việc thờ phượng được dâng lên ấy là gì?
Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan Tông đồ đã được thấy một thị kiến về việc thờ phượng trên trời. Trong đó có các thiên thần, các thánh, hương trầm, lời ca và “một Con Chiên như đã bị sát tế” (Kh 5:6). Chúa Giêsu xuất hiện trên trời như một lễ vật hiến tế bởi vì, với tư cách là Vị Thượng Tế vĩnh cửu, Người dâng hy lễ một lần cho tất cả trên thập giá lên Chúa Cha, và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta (x. Rm 8:34).
Chính trong hy lễ này của Thánh lễ mà phụng vụ làm cho Chúa chịu đóng đinh và sống lại hiện diện cách “bí tích” trên bàn thờ của Hội thánh, nhờ đó cho phép chúng ta tham dự vào việc Đức Kitô dâng chính mình lên Chúa Cha trên trời! Không lạ gì khi ngày càng có nhiều người trẻ bị thu hút bởi tính chất vượt khỏi thế giới trần tục của phụng vụ – bởi vì trong Thánh lễ, trời chạm đến đất, và Thiên Chúa siêu việt trở nên hiện diện giữa chúng ta. Chính tại đó, các thiên thần và các thánh hiệp cùng cộng đoàn trần thế, khi Đức Kitô lôi cuốn chúng ta vào công trình cứu độ của Người và vào phụng vụ trên trời.
Vậy trên thực tế, chúng ta tham dự như thế nào? Không đủ nếu chỉ tham dự Thánh lễ như những khán giả thụ động; trái lại, chúng ta được mời gọi hiệp dâng Thánh lễ cùng với vị linh mục. Sau các bài đọc, khi bàn thờ được chuẩn bị, chúng ta có thể – và nên – đặt chính mình lên bàn thờ, cùng với những lễ vật riêng của mình: công việc, niềm vui, đau khổ, thất bại, thành công, gia đình – tất cả và mọi sự đều có thể được đặt lên bàn thờ. Sau đó, khi hy lễ hoàn hảo của Đức Kitô trên đồi Canvê được hiện tại hóa trên chính bàn thờ ấy, những lễ vật bất toàn của chúng ta được đón nhận vào trong hy lễ của Người và được dâng lên Chúa Cha trong hành vi yêu thương hoàn hảo duy nhất của Đức Giêsu.
Hãy thử suy nghĩ theo cách này. Nếu bạn được sống vào thời Đức Kitô chịu đóng đinh và được ban cho đặc ân lớn lao là đứng dưới chân thập giá cùng với Đức Maria, bạn sẽ làm gì ở đó? Cũng như Đức Mẹ, chắc chắn bạn sẽ kết hợp trái tim mình với Thánh Tâm Chúa Giêsu, nối kết tình yêu của mình với lễ dâng tình yêu hoàn hảo của Người lên Chúa Cha. Đặc ân kỳ diệu của Thánh lễ là Đức Kitô ban cho chúng ta, qua bí tích, chính cơ hội ấy – một cơ hội mà trong lịch sử chỉ có một số ít môn đệ được đích thân đón nhận.
Và mặc dù tất cả những lời nói về Canvê và hy tế có thể khiến chúng ta hơi e ngại, nhưng thực ra, Chúa Giêsu rất vui khi đón nhận những lễ vật tình yêu của chúng ta và cho chúng ta tham dự vào việc Người thờ phượng Chúa Cha cách hoàn hảo; cũng như Chúa Cha vui thích đón nhận lễ dâng ấy. Không một thụ tạo đơn thuần nào có thể dâng một sự thờ phượng xứng đáng với quyền uy vô hạn của Thiên Chúa. Vì thế, Đức Kitô quảng đại cho chúng ta được tham dự vào chính việc Người thờ phượng Chúa Cha cách hoàn hảo – chính bởi Người biết rằng đây là nơi niềm vui đích thực và phương thế thánh hóa tốt nhất của chúng ta nằm ở đó.
Thật đáng kinh ngạc, Thiên Chúa vẫn chưa bằng lòng với điều này. Người còn mong muốn một cuộc gặp gỡ sâu xa hơn nữa, và vì thế Người đến với chúng ta qua việc rước lễ. Ở đây, lời mời gọi của Thiên Chúa đạt tới đỉnh cao, khi Người trao ban chính mình cho chúng ta trong Bí tích Thánh Thể – Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính.
Trong Thánh lễ, Thiên Chúa trao ban chính mình cho chúng ta (Hiệp thông)
Ý tưởng Chúa Giêsu ban thịt mình cho chúng ta ăn đã gây cớ vấp phạm cho những người Do Thái nghe Người giảng. Nhiều người trong số họ, sau lời dạy này, “đã rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6:66). Điều ấy vẫn khó tin đối với nhiều Kitô hữu ngày nay, những người coi Thánh Thể đơn thuần chỉ là một biểu tượng. Nhưng đối với người Công giáo, “Thánh Thể là ‘nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô hữu’” (GLHTCG 1324), bởi vì đây là cuộc gặp gỡ thân mật nhất của chúng ta với Chúa.
Lời giáo huấn của Chúa Giêsu hết sức rõ ràng: “Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6:55-56) – khi chúng ta lãnh nhận Chúa qua việc rước lễ, chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta.
Trong Thánh lễ, khi chúng ta nghe những lời “Này là Mình Thầy” và “Này là chén Máu Thầy,” qua vị linh mục, Đức Kitô thực sự hiện diện và trao ban chính mình để kết hợp với chúng ta. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết: “Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu không ban cho chúng ta một ‘vật’, nhưng ban chính mình.”[2] Nói cách khác, ngay trong cấu trúc của Thánh lễ đã có một cuộc gặp gỡ đầy quyền năng với Chúa, Đấng ban cho chúng ta mối tương quan thân mật nhất có thể có trên trần gian.
Điều thú vị là sự hiện diện của Đức Kitô trong Thánh Thể, tức sự hiện diện của Đấng siêu việt giữa chúng ta, chính là một biểu hiện của sự siêu việt của Người. Vì Chúa Giêsu là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, Người có thể hiện diện trọn vẹn trên hàng ngàn bàn thờ cùng một lúc, xuyên suốt thời gian, để hy lễ duy nhất của Người được hiện tại hóa cách bí tích trong suốt lịch sử nhân loại. Vì Người là Thiên Chúa, Đức Kitô có thể che giấu vinh quang vô hạn của mình và ban cho chúng ta chính thân xác phục sinh của Người làm lương thực. Thiên Chúa vĩ đại đến mức Người có thể trở nên nhỏ bé mà không ngừng vĩ đại!
Giờ đây, hãy lùi lại một chút và hỏi: tại sao Thiên Chúa của vũ trụ lại chọn gặp gỡ chúng ta dưới những hình dạng khiêm nhường của bánh và rượu? Điều ấy thật bất ngờ và gần như mang tính vật chất đến mức khó tin.
Thánh Tôma Aquinô giải thích: “Thật thích hợp khi Thiên Chúa ban cho con người một phương thuốc thiêng liêng qua những dấu chỉ vật chất; vì nếu những thực tại thiêng liêng được trao cho con người mà không có tấm màn che, thì tâm trí con người, vốn đang bận tâm với thế giới vật chất, sẽ không thể hướng mình về những thực tại ấy.”[3] Thiên Chúa dạy chúng ta qua những điều vật chất chính bởi vì chúng ta là sự kết hợp giữa vật chất và tinh thần, giữa thân xác và linh hồn. Các dụ ngôn của Chúa Giêsu đầy những hình ảnh cụ thể – con chiên, người gieo giống, những bầu da, người con hoang đàng – bởi vì chúng ta vươn lên đến những khái niệm phi vật chất thông qua những thực tại vật chất. Cũng vậy, chúng ta hiểu các chân lý thiêng liêng tốt hơn qua những điều vật chất. Khi chúng ta được rửa tội vào trong Đức Kitô, điều ấy diễn ra qua nước; khi chúng ta được xức dầu trong lúc bệnh tật, điều ấy diễn ra qua dầu; và khi chúng ta được trao ban sự hiệp nhất với Đức Kitô, điều ấy diễn ra qua bánh và rượu đã được biến đổi.
Nhưng Thiên Chúa có thể chọn bất cứ thứ vật chất nào; tại sao Người lại chọn thức ăn? Có lẽ lý do rõ ràng nhất là thức ăn nuôi dưỡng chúng ta, và Chúa Giêsu muốn nuôi dưỡng cả thân xác lẫn linh hồn chúng ta. Khi chúng ta dùng một thức ăn nào đó, thức ăn ấy trở thành một phần của chúng ta. Nhưng khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta không đơn thuần đồng hóa Chúa Giêsu vào bản thân mình – trái lại, chúng ta được đồng hóa vào Người. Thánh Augustinô giải thích mầu nhiệm này từ góc nhìn của Chúa Giêsu khi viết: “Ta là lương thực của những người trưởng thành. Hãy lớn lên, rồi con sẽ ăn Ta. Con sẽ không biến đổi Ta thành chính con như thức ăn thể xác, nhưng con sẽ được biến đổi thành Ta.”[4]
Thức ăn cũng đóng một vai trò quan trọng trong Kinh Thánh. Các bữa ăn được dùng để thiết lập tình bạn, hòa bình và bày tỏ lòng hiếu khách. Quan trọng hơn, các bữa ăn được dùng để tạo nên sự hiệp thông qua các giao ước[5]. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu biến đổi bữa ăn Vượt Qua thành bữa tiệc của Giao Ước Mới (x. Mt 26:28), và Người niêm ấn giao ước ấy bằng hy lễ của Người trên đồi Canvê. Thánh Phaolô diễn tả chân lý này khi hỏi: “Chén chúc tụng mà chúng ta chúc tụng, lại không phải là thông phần vào Máu Đức Kitô sao? Và bánh chúng ta bẻ ra, lại không phải là thông phần vào Thân Thể Đức Kitô sao?” (1Cr 10,16). Khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta thực sự được thông phần vào chính Đức Kitô – và tất cả điều này được thực hiện qua những phương thế bình thường (nhưng đã được biến đổi) là bánh và rượu.
Với tất cả những điều ấy trong tâm trí, chúng ta có thể hiểu được câu hỏi: tại sao Chúa lại mong muốn ở với chúng ta nhiều đến thế? Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì Người yêu chúng ta, và tình yêu khao khát sự hiệp nhất. Sự chia cách và phân ly gây đau đớn cho những người yêu nhau. Ngoài việc đến cư ngụ trong chúng ta qua Bí tích Rửa Tội, Chúa Giêsu còn muốn có sự hiệp nhất chỉ có thể đạt được khi Người nên một với chúng ta trong thân xác và linh hồn, dù chỉ trong một thời gian ngắn. Bí tích Thánh Thể, khoảnh khắc thân mật nhất của chúng ta với Chúa trên trần gian, hướng chúng ta trước đến sự hiệp nhất vĩnh cửu và trọn vẹn với Người trên thiên đàng.
Chúa cũng muốn ở với chúng ta bởi vì Người biết rằng chỉ một mình Người mới có thể làm cho chúng ta thực sự hạnh phúc. Thánh John Henry Newman viết:
“con người không đủ cho hạnh phúc của chính mình; con người không hạnh phúc nếu sự hiện diện của Thiên Chúa không ở cùng mình. Khi được tạo dựng, Thiên Chúa đã thổi vào con người sự sống siêu nhiên của Thần Khí, vốn là hạnh phúc đích thực của con người; và khi sa ngã, con người đánh mất ân ban thần linh ấy, cùng với hạnh phúc của mình. Từ đó đến nay, con người luôn bất hạnh; từ đó đến nay, trong lòng con người luôn có một khoảng trống cần được lấp đầy, nhưng con người không biết làm thế nào để lấp đầy nó.”[6]
Chỉ một mình Thiên Chúa có thể lấp đầy khoảng trống ấy – và Người mong muốn lấp đầy nó bằng sự hiện diện đích thực của Người – Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính.
Tôi muốn nhìn lại toàn bộ lịch sử cứu độ dưới khía cạnh sự hiện diện của Thiên Chúa, bởi vì khi hiểu được tiến trình này, chúng ta sẽ càng trân trọng hơn việc mình được diễm phúc là người Công giáo đến mức nào. Trong vườn Địa đàng, Ađam và Evà cư ngụ trên “núi thánh của Thiên Chúa” (Ed 28:14), nơi Chúa là Thiên Chúa đi lại trong vườn (x. St 3:8). Họ đã phạm tội đầu tiên của nhân loại một cách bi thảm và bị đuổi khỏi sự hiện diện trực tiếp của Thiên Chúa. Thực tế, phải đến khi ông Môsê dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa mới lại cư ngụ trên mặt đất, lần này trong một Lều Tạm có thể di chuyển. Kinh Thánh nhấn mạnh sự liên tục trong sự hiện diện của Thiên Chúa bằng cách dùng cùng một động từ để mô tả việc Thiên Chúa đi lại trong vườn Địa đàng và sự hiện diện của Người giữa dân Israel[7]. Sau hàng ngàn năm, một bộ phận nhỏ của nhân loại lại có quyền tiếp cận nơi Thiên Chúa ngự – nhưng rất nhiều điều đã thay đổi. Quyền tiếp cận Thiên Chúa vốn rộng mở trong vườn Địa đàng giờ đây đã bị hạn chế: sự hiện diện của Thiên Chúa được trung gian qua ông Môsê và sau đó là các tư tế Lêvi. Thiên Chúa không còn được tiếp cận trực tiếp; Lều Tạm có những rào cản theo nghĩa đen, bởi tội lỗi đã tạo ra khoảng cách giữa Thiên Chúa và con người. Thậm chí nghiêm trọng hơn, nhân loại sa ngã phải đến gần với sự thận trọng, tuân giữ những quy định nghiêm ngặt, vì sự hiện diện hoàn toàn thánh thiện của Thiên Chúa giờ đây trở nên nguy hiểm đối với họ. Đây thực sự là vấn đề sống còn: trong Cựu Ước, có những lần con người coi thường các mệnh lệnh ấy và bị đánh phạt cho đến chết[8].
Sau cùng, vua Salômôn xây dựng một Đền thờ cố định, nơi Thiên Chúa có thể ngự, và cũng như Lều Tạm, vinh quang của Chúa tràn ngập nơi ấy. Đền thờ của Salômôn nổi tiếng khắp thế giới, và ngay cả người ngoại cũng đến thờ phượng – đó là “nhà cầu nguyện cho muôn dân.” Mặc dù vậy, quyền tiếp cận sự hiện diện của Thiên Chúa vẫn bị giới hạn. Dân ngoại chỉ có thể bước vào sân ngoài của Đền thờ – Sân Dân ngoại. Phụ nữ Israel có thể đi xa hơn một chút, đến Sân Phụ nữ. Đàn ông Israel có thể đi xa hơn nữa, đến Sân Israel. Chỉ các tư tế mới có thể thường xuyên bước vào Sân Tư tế, mặc dù người Israel có thể vào đó khi dâng hy lễ. Và chỉ mỗi năm một lần, vị Thượng tế mới được bước vào Nơi Cực thánh, khu vực sâu thẳm nhất, là nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Người trên mặt đất. Vì thế, ngay cả trong Đền thờ, vẫn có những bức tường bảo vệ theo nghĩa đen giữa sự hiện diện của Thiên Chúa và nhân loại; và chỉ một người, mỗi năm một lần, mới có thể bước vào nơi Thiên Chúa ngự.
Do tội lỗi của dân Israel, cuối cùng sự hiện diện của Thiên Chúa rời khỏi Đền thờ, và Đền thờ bị phá hủy vào khoảng năm 587 trước Công nguyên. Mặc dù sau đó người Do Thái xây dựng Đền thờ thứ hai, vinh quang của Thiên Chúa vẫn không tràn ngập nơi ấy. Vì thế, trong khoảng sáu thế kỷ, dù Thiên Chúa hiện diện trong Lời của Người, trong Lề Luật và nơi các Ngôn sứ, Người lại không cư ngụ giữa dân Người.
Nhưng như chúng ta biết, Thiên Chúa trở lại theo một cách đầy kịch tính – không phải trong một tòa nhà phủ đầy mây, nhưng qua việc Con của Người nhập thể, đến cư ngụ giữa chúng ta. Và giờ đây, thay vì phải hành hương đến Giêrusalem để dâng hy lễ, chúng ta có thể đến bất kỳ giáo xứ nào trong số 223.000 giáo xứ trên toàn thế giới[9]. Và khi đến đó, Chúa Giêsu không ở trong một khu vực hạn chế mà chúng ta không thể bước vào hoặc nhìn thấy. Người ở trong Nhà tạm, được đặt cách nổi bật trong nhà thờ. Đấng chính là Đền thờ đích thực giờ đây ngự trong Nhà tạm của mọi nhà thờ Công giáo. Đây là một sự thay đổi lớn so với tình trạng thông thường trong lịch sử.
Nhưng còn đi xa hơn nữa: qua Bí tích Rửa Tội, Ba Ngôi Thiên Chúa cư ngụ vĩnh viễn trong chúng ta nhờ ân sủng thánh hóa, miễn là chúng ta không phạm tội trọng. Qua việc được công chính hóa ban đầu trong Bí tích Rửa Tội, chúng ta thực sự được biến đổi – được làm cho nên công chính, để Thiên Chúa có thể cư ngụ trong chúng ta mà chúng ta không phải sợ bị đánh phạt cho đến chết. Thậm chí còn kinh ngạc hơn nữa, Chúa Giêsu trao ban chính mình cho chúng ta trong Bó tích Thánh Thể – sự hiện diện bí tích của Người cư ngụ trong chúng ta khoảng mười lăm phút, mỗi ngày nếu chúng ta muốn! Tuy nhiên, vẫn còn một tấm màn che: Đức Kitô được che khuất dưới hình dạng của bánh và rượu để thích hợp với sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta chưa thể nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt mà vẫn sống (x. Xh 33:20).
Trong Thánh lễ, Thiên Chúa sai chúng ta lên đường (Sứ mạng)
Sau phần Hiệp lễ, Thánh lễ không đơn thuần kết thúc; Thánh lễ trao cho chúng ta một sứ mạng để tiếp tục công việc của Chúa Con trong thế giới nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Khi gặp gỡ Thiên Chúa qua việc thờ phượng hoàn hảo của Chúa Con và lãnh nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta được biến đổi, rồi được sai đi để loan báo Tin Mừng, để những người khác cũng có thể gặp gỡ Thiên Chúa như chúng ta đã gặp Người. Sách Giáo lý giải thích: “‘Hội thánh trên trần gian, tự bản chất, có tính truyền giáo, bởi vì theo kế hoạch của Chúa Cha, Hội thánh bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.’ Mục đích tối hậu của sứ mạng không gì khác hơn là làm cho con người được tham dự vào sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Thần Khí tình yêu của các Ngài” (GLHTCG 850).
Đây không phải là công việc chỉ dành cho các linh mục, tu sĩ hay những người giáo dân chuyên làm việc truyền giáo. Nhờ Bí tích Rửa Tội, tất cả chúng ta đều được sai đi để chia sẻ về Thiên Chúa, Đấng đã quá đỗi tốt lành với chúng ta. Điều này đòi hỏi chúng ta phải làm theo lời khuyên của Thánh Phêrô: “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 3,15).
Tôi hiểu điều này theo hai phương diện: chúng ta nên sẵn sàng kể một cách ngắn gọn câu chuyện Chúa đã biến đổi cuộc đời mình như thế nào; đồng thời cũng phải chuẩn bị một câu trả lời ngắn gọn về lý do tại sao, xét trên phương diện trí tuệ, chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa và Người đã thiết lập Hội thánh Công giáo (những điều được rút ra từ kinh nghiệm cá nhân của chúng ta về Người). Bằng cách ấy, chúng ta có thể giúp người khác gặp gỡ Đức Kitô qua con tim hoặc qua lý trí. Nếu bạn chỉ cần có một bản tóm tắt dài hai hoặc ba phút cho mỗi phương diện, bạn đã sẵn sàng để chia sẻ Tin Mừng. Thật sự đơn giản như vậy.
Khi tôi mới được thụ phong linh mục, tôi nhớ có một lần, lúc bước ra khỏi cửa, tôi nói với vị cha sở đầu tiên của mình: “Hãy giữ vững đức tin.” Ngài đáp: “Không, đừng chỉ giữ vững đức tin; hãy loan truyền đức tin!”
Hy tế Thánh lễ là cuộc gặp gỡ thân mật nhất của chúng ta với Chúa trên trần gian. Điều chúng ta cần làm lúc này là ghi nhớ rằng toàn bộ Thánh lễ có thể được hiểu qua ba khía cạnh: lời mời gọi, hiệp thông và sứ mạng, để chúng ta có thể trân trọng hơn, sống sâu sắc hơn và khao khát chia sẻ ân phúc tuyệt vời này.
Tác giả: Đức Giám mục James Conley[10] – Nguồn: What We Need Now (01/9/2026)
Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
(giaophanvinhlong.net)
———————
[1] Sacrosanctum Concilium, số 7.
[2] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Sacramentum Caritatis, số 7.
[3] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologica, III, Câu hỏi 61, Điều 1, Hồi đáp.
[4] Thánh Augustinô, Confessions, Quyển 7, Chương 10.
[5] Chẳng hạn, giao ước tại núi Sinai giữa Thiên Chúa và dân Israel được niêm ấn bằng một bữa tiệc hy tế (x. Xh 24:11), cũng như giao ước giữa Giacóp và Laban (x. St 31:46).
[6] Thánh John Henry Newman, Sermon 21.
[7] “Trong Sáng thế 3,8, động từ hithallék (‘đi lại’), được dùng để mô tả việc Thiên Chúa ‘đi lại’ trong vườn Địa đàng, cũng chính là động từ được dùng để mô tả sự hiện diện của Thiên Chúa trong Nhà Tạm: ‘Ta sẽ đi lại giữa các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta’ (Lv 26:12).” Steven C. Smith, Nhà của Chúa (Steubenville: Franciscan University Press, 2017), tr. 87.
[8] Chẳng hạn: Uzzah, Nadab và Abihu.
[9] G-Catholic, “Giáo hội Công giáo trên Thế giới.”
[10] Đức cha James D. Conley, D.D., S.T.L. là Giám mục Lincoln. Khẩu hiệu giám mục của ngài cũng chính là khẩu hiệu của Thánh John Henry Newman: cor ad cor loquitur, nghĩa là “con tim nói với con tim.” Bài tiểu luận này được chuyển thể từ bài diễn văn chính tại Đại hội Thánh Thể cấp giáo phận Springfield–Cape Girardeau, ngày 15 tháng 8 năm 2026.
