Đóng Dóp Của Giáo Phận Đàng Trong/ Đông Đàng Trong/ Qui Nhơn Trong Việc Hình Thành Và Phát Triển Chữ Quốc Ngữ
Đóng Dóp Của Giáo Phận Đàng Trong/ Đông Đàng Trong/ Qui Nhơn Trong Việc Hình Thành Và Phát Triển Chữ Quốc Ngữ
Chữ Quốc ngữ – chữ viết chính thức của Việt Nam là một thành tựu văn hóa của dân tộc trong vòng hơn bốn thế kỷ qua. Sự đóng góp của các thừa sai tại Cư sở Nước Mặn trong giai đoạn phôi thai chữ Quốc ngữ, nhà in Làng Sông và hệ thống tổ chức trường dạy chữ Quốc ngữ tại địa bàn giáo phận Đàng Trong/Đông Đàng Trong/Qui Nhơn là một nỗ lực của giáo phận đóng góp vào thành tựu văn hóa dân tộc. Bài viết này trình bày khái quát tiến trình đóng góp ấy.
I. TỪ GIÁO PHẬN TÔNG TÒA ĐÀNG TRONG ĐẾN GIÁO PHẬN QUI NHƠN
Các thừa sai dòng Tên mở đường truyền giáo ở Đại Việt. Tại Đàng Trong, ngày 15.01.1615, các thừa sai cập bến Cửa Hàn (Đà Nẵng), ở Đàng Ngoài, ngày 19.03.1627, cập bến Cửa Bạng, Thanh Hóa. Sau thời gian truyền giáo, ngày 09.09.1659, hai giáo phận tông tòa Đàng Ngoài và Đàng Trong được thành lập.[1] Hai giáo phận được giao cho Hội truyền giáo “Missions Étrangères de Paris – MEP” đảm nhận truyền giáo.
Ngày 17.05.1844, Giáo phận Tông tòa Đàng Trong được chia thành hai giáo phận Tông tòa: Tây Đàng Trong và Đông Đàng Trong. Tây Đàng Trong gồm sáu tỉnh phía Nam và Cam Bốt. Phần còn lại thuộc Đông Đàng Trong.
Ngày 27.08.1850, phần đất từ Huế ra đến sông Gianh được tách khỏi giáo phận Đông Đàng Trong để thành lập giáo phận Bắc Đàng Trong. Phần còn lại thuộc Đông Đàng Trong.
Ngày 01.07.1907, phần đất từ mũi Kê Gà[2] đến giáp Cà Ná thuộc giáo phận Đông Đàng Trong, sáp nhập vào giáo phận Tây Đàng Trong: Phần đất nầy là tỉnh Bình Thuận ngày nay.
Ngày 03.12.1924, tên gọi giáo phận Qui Nhơn được thay thế cho tên gọi giáo phận Đông Đàng Trong.
Ngày 18.01.1932, vùng Tây nguyên, tách khỏi giáo phận Qui Nhơn để lập thành giáo phận Kontum.
Ngày 05.07.1957, tỉnh Khánh Hoà và Ninh Thuận của giáo phận Qui Nhơn và tỉnh Bình Thuận của giáo phận Sài Gòn lập thành giáo phận Nha Trang.
Ngày 24.11.1960, tất cả các giáo phận tông tòa ở Việt Nam được công bố là giáo phận chính tòa. Kể từ thời điểm này, việc truyền giáo thuộc hàng giáo sĩ địa phương điều hành.
Ngày 18.01.1963, hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín của giáo phận Qui Nhơn lập thành giáo phận Đà Nẵng.
Giáo phận Qui Nhơn còn lại ba tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
II. NHỮNG ĐÓNG GÓP THEO DÒNG QUỐC NGỮ QUA THỜI GIAN
1. TỪ NƯỚC MẶN ĐẾN TỰ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA
Trước hết, chúng tôi không phủ nhận vai trò to lớn của chữ Hán, chữ Nôm trong dòng chảy văn hóa Việt. Những tác phẩm văn học, lịch sử… bằng chữ Hán và chữ Nôm mà tiền nhân đã để lại cho con cháu đã minh chứng điều đó. Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đều là chữ Quốc ngữ vì cả hai đều là hình thức ký âm tiếng Việt. Tuy nhiên về phương diện hình thức chữ viết, chữ Quốc ngữ (ký âm tiếng Việt bằng chữ cái La tinh) rất thuận lợi cho mọi người về việc học tiếng Việt. Về khía cạnh diễn đạt, chữ Quốc ngữ có khả năng ghi âm, diễn đạt các lãnh vực văn hóa, khoa học, những lãnh vực trừu tượng, tình cảm… Do đó, chữ Quốc ngữ từ hình thức ký âm “phôi thai”, dần dần được hoàn thiện và thay thế chữ Hán, chữ Nôm. Ở đây chúng tôi dùng “chữ Quốc ngữ” theo quan điểm ký âm tiếng Việt bằng chữ cái La tinh.
Chữ Quốc ngữ chúng ta đang sử dụng như dòng sông không ngừng chảy trong lòng dân tộc suốt hơn 400 năm nay. Cây có cội, sông có nguồn. Tại Hội thảo “Bình Định với chữ Quốc ngữ” được UBND tỉnh Bình Định phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và các cơ quan liên quan tổ chức vào ngày 13.01.2016, Cố Giáo sư Phan Huy Lê đã kết luận: “Trên cơ sở những chứng cứ hiện nay, có thể kết luận, chữ Quốc ngữ trong trạng thái phôi thai, ra đời sớm nhất ở ba trung tâm: Nước Mặn, Hội An và Dinh Chiêm, trong đó Nước Mặn có phần sớm hơn”.[3]
Thế hệ thừa sai Dòng Tên đầu tiên ở Nước Mặn: Cha Buzomi, cha Borri, cha Pina như là những người thợ đan lát thủ công đầu tiên đã “chặt tre, chẻ nan” gầy dựng những “chiếc nan” đầu tiên để định hình cho ra sản phẩm rổ, rá, thúng, nong, nia…phục vụ đời sống dân gian. Việc khởi đầu sáng tạo chữ Quốc ngữ là một sáng kiến của các thừa sai Dòng Tên tại Nước Mặn nhằm nhu cầu truyền giáo cho người Việt. Trong đó, cha Buzomi là Bề trên, người hoạch định công việc; Cha Pina người có khiếu ngôn ngữ; Cha Borri người để lại cho ngày nay chữ Quốc ngữ trong tình trạng phôi thai nhiều nhất. Cha Léopold Cadière, nhà nghiên cứu khoa học, sử học, ngôn ngữ học và tôn giáo dân tộc học nhận định: “Nơi bản tường trình của cha Borri, ngài để lại cho chúng ta những tiêu bản quý báu về những hình thái tiên chinh của chữ Quốc ngữ, một thứ chữ Quốc ngữ trước thời Linh mục Đắc Lộ. Những bút tích này của Linh mục Borri quả là một bổ ích lớn lao cho những ai khi đi sâu nghiên cứu về sự hình thành chữ Quốc ngữ “.[4]
Từ những “chiếc nan” khởi đầu ấy, cha Đắc Lộ xuất bản quyển tự điển Việt-Bồ-La vào năm 1651. Đây là một tác phẩm ghi dấu mốc quan trọng trong việc điển chế hóa chữ Quốc ngữ. Trong “Ad Lectorem – Cùng độc giả” ở phần đầu tự điển, cha Đắc Lộ bày tỏ, ngoài những điều tôi học được từ những người bản xứ khi tôi làm việc ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, lúc đầu tôi học với cha Pina, người anh em cùng Hội Dòng với tôi. Cha Pina rất am tường ngôn ngữ này. Tôi cũng sử dụng những công trình của những đồng môn trước tôi, nhất là công trình của cha Gaspar d’Amaral và cha Antonio Barbosa. Mỗi cha đã biên soạn một quyển tự vị. Cha Gaspar d’Amaral bắt đầu bằng tiếng Việt, cha Antonio Barbosa bắt đầu bằng tiếng Bồ. Hai cha đã chết sớm. Tôi sử dụng công khó của hai cha và tôi thêm tiếng La tinh theo ý của các Hồng y đáng kính…
2. TỪ ĐIỂN VIỆT BỒ LA ĐẾN TỪ ĐIỂN ANAMITICO-LATINUM
2.1. Từ điểnAnamitico-Latinum của Đức cha Pigneau de Béhain
Hơn 100 năm sau kể từ khi cha Đắc Lộ xuất bản tự điển Việt-Bồ-La (1651), Đức cha Đức cha Pigneau de Béhain, Giám mục Tông tòa Đàng Trong (1771-1779) đã soạn quyển tự điển “Anamitico-Latinum – Việt-La tinh”. Bản gốc tự điển này chưa kịp xuất bản thì bị cháy vào năm 1778 trong vụ hỏa hoạn tại Chủng viện Truyền giáo Đàng Trong. Tuy nhiên, một bản viết tay của từ điển này có niên đại là năm 1772 may mắn được gìn giữ tại Văn khố của Hội Truyền giáo Nước ngoài Paris (MEP).
2.2.Từ điểnAnamitico-Latinum của Đức cha Jean Louis Taberd
Theo Georges Taboulet [(1888-1979) nguyên Giám đốc Nha Học Chánh Đông Dương], Đức cha Jean Louis Taberd, Giám mục tông tòa Đàng Trong (1827-1840), dùng bản thảo viết tay từ điển “Anamitico-Latinum” của Đức cha Pigneau de Béhain và hiệu đính, chỉnh sửa, bổ sung để làm thành từ điển cùng tên gọi “Anamitico-Latinum”. Từ điển này còn có tên gọi khác là “Nam Việt Dương Hiệp tự vị” được in ấn, xuất bản tại Ấn Độ năm 1838.[5] Linh mục sử gia Adrien Launay cho rằng Đức cha Taberd đã thay đổi rất ít trong tác phẩm gốc.[6]
Về số mục từ, từ điển Taberd cập nhật có thêm một số từ. Theo các nhà chuyên môn, quyển từ điển này có nhiều ngữ liệu liên quan đến phương ngữ Đàng Trong, đặc biệt phương ngữ Nam bộ. Tuy nhiên phương ngữ Đàng Ngoài vẫn có trong từ điển nhưng ít hơn phương ngữ Đàng Trong. Điều này dễ hiểu vì cả hai vị đều là Giám mục ở Đàng Trong.
Về cấu trúc:
“Nam Việt Dương Hiệp tự vị” được chia làm ba phần
– Phần I: gồm 46 trang, tổng quan về ngữ pháp tiếng Việt. Trong số 46 trang có 8 trang được viết bằng chữ quốc ngữ, các trang khác đều viết bằng chữ La tinh. Đặc biệt 8 trang này (XXXIX đến XLVI – Compendium Vertificationis Anamiticae) chỉ cách làm thơ: thơ lục bát, thơ Đường thất ngôn bát cú, thơ ngũ ngôn, cách làm phú, làm văn tế, câu đối, biền ngẫu.
– Phần II: Gồm 620 trang phần chính văn, mỗi mục từ trong có 3 cột được xếp theo thứ tự: chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, chữ La-tinh. Mục từ được sắp xếp theo vần ABC quốc ngữ (cột 2) chứ không theo số nét và các bộ chữ Hán Nôm.
– Phần III: Phụ lục
* Từ trang (621- 660) có bảng thống kê trên 1.000 loại thực vật ở Đàng Trong (tên gọi Nôm và Quốc ngữ).
* Từ trang (661 – 712) hướng dẫn tra từ điển theo thứ tự các bộ chữ và theo số nét viết, thì có thể tìm trong những trang này.
* Từ trang (713 – 719) hướng dẫn tra theo những chữ Nôm gồm nhiều bộ phức tạp thì phải tìm theo bộ nào.
* Phụ lục cuối cùng được đánh số từ 1- 126. Từ trang (1 – 107) những từ Hán Nôm được sắp xếp đối chiếu theo thứ tự ABC chữ Quốc ngữ. Từ trang (108-126) những từ theo bộ chữ Hán đối chiếu chữ Quốc ngữ.
Như thế Từ điển “Nam Việt Dương Hiệp tự vị” tiện lợi tra cứu theo chữ Hán, chữ Nôm hay chữ quốc ngữ đều được dễ dàng.
Về giá trị quyển từ điển, GS.TS. Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học đánh giá: “Cuốn Từ điển Anamitico-Latinum này có một vị trí và một giá trị đặc biệt trong nền văn hóa nước nhà, đặc biệt là trong việc nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng tiếng Việt, trong đó có nhiều từ ngữ cổ, được ghi lại bằng tiếng Việt và chữ Nôm. Ngày nay, chúng ta đi vào lịch sử tiếng Việt, lịch sử ngữ âm-từ vựng-ngữ pháp tiếng Việt qua những biến thiên, va đập, ảnh hưởng, phát triển và biến đổi…chúng ta vui mừng nhận thấy nó đã được nhân dân, được các nhà văn, các nhà bác học…rèn giũa để nó trở thành một thứ tiếng giàu đẹp, phong phú, diễn tả được mọi ý tưởng…Nhưng công việc bảo vệ và phát triển tiếng Việt, làm cho nó không bị pha tạp, biến chất…mà càng ngày càng giàu đẹp, trong sáng, cần đến sự nghiên cứu ở tầm xa, tầm cao, trong đó có việc kế thừa những thành quả của quá khứ. Từ điển này được biên soạn từ cuối thế kỷ 18 (1772-1773), xuất bản đầu thế kỷ 19 (1838), đến nay cơ hồ tuyệt bản, đã ghi lại biết bao từ ngữ tiếng Việt thời đó để chúng ta nghiền ngẫm, đối chiếu. Đồng thời, cái quý giá là những chữ Nôm được ghi lại từ thời ấy, có một giá trị vô cùng quí về nhiều mặt. Đây là một kho tàng quý báu của quá khứ, của lịch sử. Khi những nhà nghiên cứu, những người yêu tiếng Việt và những người muốn tìm hiểu tiếng Việt trong cội nguồn có cuốn Từ điển này trong tay, chắc chắn các vị sẽ phát huy được hết tác dụng và giá trị của nó“.[7]Vì vậy, Quyển từ điển không chỉ có giá trị về mặt phương ngữ mà còn có giá trị lớn về mặt văn hóa.
III. CHỮ QUỐC NGỮ ĐƯỢC ĐƯA VÀO QUY CHẾ HỌC CHÁNH
1. Nghị định và Sắc lệnh
Mặc dù chữ Quốc ngữ đã “nên hình nên dạng” nhưng việc dạy chữ Quốc ngữ phổ thông cho cộng đồng phải đợi mất thời gian khá lâu dài. Khoa thi năm Kỷ Mùi là khoa thi Nho học cuối cùng ở Việt Nam đã được vua Khải Định châu phê (tháng Giêng năm 1919): “Lần này là khoa thi hội cuối cùng của triều đình, nên trẫm muốn gia ân cho sinh viên sĩ tử khoa mục trong cả nước, hễ ai thông thạo hai thứ chữ Nho và chữ Pháp thì trình diện Bộ Học để xin vào ứng thí”.[8] Như vậy nền Nho học ở Việt Nam được kết thúc nơi khoa thi cuối cùng vào ngày 04 tháng 4 năm 1919 được tổ chức tại Huế.
Ở Trung kỳ, vua Thành Thái ký Sắc lệnh vào ngày 31.5.1906 về cải cách học chánh bản xứ. Sắc lệnh này chú trọng đến việc dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, chấm dứt sự độc quyền nền Nho học ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tuy nhiên, không loại bỏ hẳn Nho học như ở Nam Kỳ. Điều 17 Sắc lệnh này qui định các huyện, tỉnh phải tổ chức các lớp đào tạo giáo viên dạy chữ Quốc ngữ. Thông tư số 86 của H. Sestier, Quyền Thống sứ Trung Kỳ ngày 23.11.1911:”Phải thiết lập bên cạnh trường dạy chữ Nho, một trường dạy chữ Quốc ngữ cho những thí sinh các kỳ thi hương”.[9]
Khi nền nho học kết thúc, lớp học của thầy đồ nhường chỗ cho lớp học của thầy giáo. Nền giáo dục tân học nhanh chóng lan tỏa khắp nước Việt và liên tục cải cách cho đến ngày nay. Charles Le Myre de Vilers, Thống đốc dân sự đầu tiên của thuộc địa Nam Kỳ đã ký Nghị định thư ngày 14.6.1880 gồm 06 khoản, trong đó:[10]
Mỗi làng, thị xã của Tổng không có trường Pháp, sẽ thiết lập một trường dạy quốc ngữ.
Trong trường hợp thiếu ngân khoản, các làng khác trong tổng sẽ góp phần vào các chi phí bằng một quỹ tương trợ. Quan cai trị những việc bản xứ của quận, được Chánh tổng hoặc Lý trưởng trợ tá, sẽ ấn định phần đóng góp của mỗi làng.
Những làng nhỏ có một trường dạy chữ quốc ngữ sẽ được miễn mọi thuế đóng góp cho trường hàng tổng.
Những giáo viên An nam dạy ở trường dạy chữ quốc ngữ, mà dạy thêm một ít tiếng Pháp sẽ được nhà nước thuộc địa thưởng 200 quan mỗi năm.
Về phía Giáo hội, tổng hợp các bản báo hằng năm trong Compte rendu des travaux và Mémorial, các trường Quốc ngữ trong toàn giáo phận Đông Đàng Trong:[11]
NĂM
SỐ TRƯỜNG
SỐ HỌC SINH
1897
13
983
1914
132
3.296
1919
63
1.763
1925
101
3.010
1929
67
2.398
1933
54
2.716
1937
51
2.624
Thống kê năm 1928 trong giáo phận có 36 trường, 41 thầy cô giáo, 1.073 học sinh nam, 503 học sinh nữ, tổng số học sinh 1576. Lúc bấy giờ học sinh nam, nữ được tổ chức theo lớp riêng, trừ trường hợp không đủ túc số.
Một vài số thống kê trên cho thấy số trường và số học sinh các năm trồi sụt không đồng đều. Năm 1928, các trường hoạt động trên tất cả các tỉnh thuộc Giáo phận Đông Đàng Trong. Số trường ở Bình Định nhiều nhất 20/36 trường với 939 học sinh. Số trường năm 1928 trong giáo phận giảm sút nhiều so với năm 1927 (năm 1927 có 60 trường;[12] năm 1928 chỉ có 36 trường). Chưa lý giải được lý do tại sao.
Để phát triển và nâng cao dân trí, việc dạy chữ Quốc ngữ là một kế hoạch được xã hội cũng như Giáo hội đồng tình. Về phía Giáo hội, năm 1904, Đức cha Đamianô Grangeon Mẫn, Giám mục Đông Đàng Trong (1902-1928) đã cho tái thiết nhà in Làng Sông, trang bị kỹ thuật máy in typô hiện đại. Nhà in được giao cho cha Paul Maheu làm Giám đốc. Nhà in cung cấp cho việc truyền bá chữ Quốc ngữ nhiều thể loại, trong đó có những đầu sách cho trường học như: Bài luận Quốc ngữ, Phép đánh vần, Con nít học nói, Con nít học nói cho nhằm nghi lễ, Ấu học, Địa dư sơ lược, Ấu học trưởng thành thân, Địa dư mông học, Sách địa dư, Thiên văn thưởng thức, Sách mẹo Annam tiểu học, Sử ký nước Annam, Tiểu Quốc ngữ-văn pháp cho tiểu học, Toán pháp ấu học, Tục ngữ An Nam, Tập đánh vần chữ Quốc ngữ cho mau biết coi sách…Ngoài ra có những thể loại để phát huy chữ Quốc ngữ như Tiểu thuyết, Truyện: Hai chị em lưu lạc, Chiếc gối nghiêng chăn, Song Nghĩa tự, Chiếc nhẫn vàng, Bài vẽ hoạch,Hiếu kính cha mẹ, Hai vai gánh nặng, Đồ của Hời, Người Việt Nam người yêu nước Nam, Nói lối, Người tội ác, Ngọn đèn công lý, Máu đào lai láng, Lụy tình,Thiệt phận thuyền quyên, Thân gái dặm trường, Tấm lòng bạc bẽo, Tìm của báu…Kịch, tuồng: Vì thương chẳng nệ, Thù nhà nợ nước, Thế tình, Rượu – hài kịch, Quan tòa xử kiện, Ông già hà tiện, Một cha khác mẹ, Mới biết thị phi, Lục súc tranh công, Hoàn kim huyết, Điền lính, Điếm mắc điếm, Đi bắt cướp, Công tử bột đi cưới vợ,…
Cũng để phát triển và nâng cao dân trí, năm 1924, Đức cha ra thơ chưng kêu gọi lập trường Quốc ngữ:
“Cách hơn mười năm nay, Ta đã ra thơ chung rao truyền việc lập trường sơ học. Chẳng may xảy ra cuộc chinh chiến cả thế giới bên Tây, trong Địa phận nhiều nơi thiếu các Cha coi sóc; kế tiếp gặp mấy năm cơ cẩn, nhiều chỗ phải thiếu thốn mọi bề; nên việc lập trường phải đình lại chưa thành.
Nay nhờ ơn Chúa đoái thương, đâu đó an cư lạc nghiệp, mọi nơi đều thơ thới; nên Ta quyết định buộc một địa hạt phải lập ít nữa là một trường tại nơi sở chính, đặng trẻ em nam nữ tựu tới học hành….”
Kèm theo thơ chung này, có “Lời riêng cùng các cha”:
“… Thơ chung nầy truyền cho các Cha lo lập trường cho kíp, và đến kỳ khai sổ cũng phải khai mọi việc về trường học nữa.
Vậy thì các Cha hãy lo lập trường dạy trong Địa hạt. Mà hễ lập rồi, phải năng tới lui xem xét coi thầy giáo có ân cần luyện tập cho học trò hay không; và trẻ nhỏ có siêng năng học hành hay biếng trễ…
Những nơi trẻ nhỏ tựu trường học được cả năm, như các trường tổng, thì càng hay; bằng chẳng thì các Cha liệu những tháng nào tiện hơn mà dạy.
…Những đứa nghèo nàn không thể học được, thì các Cha liệu thế; như bắt nó tới học ít nhiều hồi đầu hôm, hoặc xuất của họ của công-nhu mà giúp nó học, ít nữa là cho nó đọc sách vừa xuôi…” [13]
Trong thiện chí phát triển và nâng cao dân trí, ngoài việc phát triển việc in ấn, giáo phận tổ chức đào tạo nhân sự có khả năng dạy học như Trường thầy giảng (tiền thân dòng Thánh Giuse) và canh tân dòng Mến Thánh Giá (năm 1924).
Có thể ví von “Thiện chí” ấy như một ca khúc có nhiều dấu nhạc khi trầm khi bỗng, tiết tấu khi ngân khi rung dài ngắn… và như tiếng đàn của Kiều “khi tựa gối khi cúi đầu, khi vò chín khúc khi chau đôi mày”. Bản nhạc và tiếng đàn có nhanh có chậm, có vui có buồn, có trầm có bổng, có khoan thai dồn dập mới phong phú, mới ý nhị, bản nhạc mới đáng thưởng thức, mới đáng sống.
Khoảng thời thập niên 40 cho đến cuối thập niên 50, công việc phát triển dân trí của giáo phận như nốt nhạc trầm. Theo dòng các Bản thông tin địa phận Qui Nhơn, năm 1958 bắt đầu mở lại một số trường tiểu học. Niên khóa 1958-1959, có 03 trường trung học trong giáo phận được khai giảng: Trường Trinh Vương Qui Nhơn, trường Sao Mai Đà Nẵng và trường Đặng Đức Tuấn Tuy Hòa. Sau đó lần lượt một số trường Trung học được khai giảng như trường Kim Thông Quảng Ngãi, trường Đức Trí Tam Kỳ, trường Đăng Khoa Trà Câu, Quảng Ngãi, trường Trương Vĩnh Ký Mằng Lăng, trường Đông Mỹ Tuy Hòa, trường Đặng Đức Tuấn Gia Hựu, trường Lasan (năm 1972 là trường Vi Nhân), trường thánh Giuse Kim Châu, trường Lưu Phương Vĩnh Thạnh-Gò Bồi, trường Nhà Đá, trường Toàn Mỹ, trường Thăng Tiến Lý Sơn, đây là trường trung học đầu tiên trên đảo Lý Sơn. Cuối năm 1969 thêm các trường ở Quảng Ngãi: Trường Phụng Sự Châu Ổ, trường Tiến bộ Bình Thạnh, trường Thiện Mỹ Bình Hải.
Sau khi tách Quảng Nam, Quảng Tín để thành lập giáo phận Đà Nẵng, giáo phận Qui Nhơn còn lại ba tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Bản thống kê học vụ niên khóa 1963-1964 của giáo phận:
Năm 1968-1969:
IV. THAY LỜI KẾT
Trong suốt dòng lịch sử giáo phận, việc phát triển dân trí là sự thể hiện tấm lòng của Giáo hội khi đi trong nhân loại. Để tạm kết bài viết này, xin được kể ra đây vài câu chuyện tiêu biểu liên quan:
1. Về Dòng Đồng Công ở Mỹ Chánh, Phù Mỹ.
Ngày 16.10.1957, từ Thủ Đức, phái đoàn truyền giáo của Dòng Đồng Công do cha Matthêô Maria Phạm Văn Hóa làm trưởng đoàn đến nhận khu truyền giáo Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ. Dòng Đồng Công xây dựng Nhà nguyện và trường trung học tại Mỹ Chánh lấy tên là trường Toàn Mỹ. Ngày 15.8.1959 trường Toàn Mỹ được khai giảng.
Trước lễ Giáng Sinh năm 1965, giáo phận giao cho Dòng Đồng Công phụ trách giáo xứ Nhà Đá. Dòng xây dựng trường học, thường gọi là Trường Đồng Công Nhà Đá, dạy cả sáng chiều, dung nạp được gần 1.000 học sinh, hoàn toàn miễn phí.
Đọc lại chút thông tin nhân dịp phát thưởng ở trường Toàn Mỹ niên khóa 1961-1962, thấy được chút tình của các tu sĩ Dòng Đồng Công: “Trong bài diễn từ khai mạc, cha Phạm Văn Hóa, Hiệu trưởng sáng lập trường Toàn Mỹ có nói: Trong hai quận Phù Cát và Phù Mỹ, với dân số là 226.874 người, ba năm trước đây, đã không có một trường trung học, đang khi ở Qui Nhơn, với nhân số là 32.027 người, có tới 7 trường Trung học…
Trước tình cảnh quá thua thiệt đó của thanh thiếu niên, mặc dù thiếu thốn phương tiên, từ một đám ruộng sình lầy, chúng tôi đã mạnh dạn xây cất trường Toàn Mỹ, ngõ hầu nâng đỡ phần nào cho đồng bào, cho trẻ em hiếu học, bơ vơ…”[14]
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lệ, Chủ tịch tập đoàn công nghệ TMA, thành lập và Giám đốc Công viên sáng tạo TMA Bình Định. Ông từng tâm sự, tôi quê Mỹ Thọ. Thời chúng tôi đi học ở Toàn Mỹ, sáng dậy mẹ làm cơm vắt, túm lá chuối, chút muối đậu phộng hay miếng dừa nướng, con cá khô nướng…mang theo ăn trưa, học ngày hai buổi.[15] Nếu không có trường Toàn Mỹ ở Mỹ Chánh, thế hệ chúng tôi không biết tìm con chữ ở đâu. Nhờ có Toàn Mỹ, tôi được ít chữ làm nền, sau đó tiếp tục học hành ở nhiều nơi để có được ngày hôm nay.
2. Về Thầy Giuse Phạm Đức Triêm Dòng Chúa Cứu Thế
Tại Bình Hải, cuối năm 1969, trường Thiện Mỹ dành cho học sinh từ lớp một đến lớp bảy được hoàn thành. Thầy cô giáo là những thầy cô ở các xã trong vùng, chỉ có cô Hồng, cháu của cha Hành từ Ông Đồn, Long Khánh về ở đây phụ trách lớp 6.
Một lần tôi đến Bình Hải tìm hiểu lịch sử vùng đất, thăm viếng bà con, trên bàn thờ của một số gia đình thuộc diện chính sách có công cách mạng, có hình một người giống nhau, tôi hỏi thăm mới biết đó là thầy Giuse Phạm Đức Triêm. Các gia đình đều bộc bạch cùng một ý: Chúng tôi đi làm cách mạng, vợ con ở nhà nheo nhóc, biển giã mà không có đàn ông thì đàn bà con nít làm được chi. Không có ông thầy giúp đỡ cái ăn, cái chữ thì con cái chúng tôi hôm nay không biết ra sao. Lần hồi tôi tìm hiểu, được biết thầy Giuse Phạm Đức Triêm, trợ sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, thầy đến đây với cha Thiệp và ở lại với cha Hành lo cho dân. Thầy thấy dân thì nghèo, rau muống biển thì bạt ngàn, làm gì cho hết. Thầy tổ chức nuôi heo. Heo lớn chở lên thị trấn Châu Ổ bán. Lúc bấy giờ từ Bình Hải đi Châu Ổ phải đi đường biển, qua vịnh Nho Na, Vũng Việt Thanh, qua mũi Nam Châm đến Vũng Quít (Dung Quất) đến cửa Sa Cần (cửa sông Trà Bồng đổ ra biển), vào bến ghe Bình Thạnh, từ bến ghe chở heo đến Châu Ổ bán. Tiền kiếm được dùng để trang trải các nhu cầu, giúp đỡ con em nhà nghèo có miếng cơm, tập sách, cây thước, cây bút để các em kiếm con chữ. Hiện nay các gia đình trong làng còn thương nhớ thầy, làm giỗ cho thầy vào ngày 05 tháng 6 hằng năm.
Cha Fx. Hương quê giáo xứ Tân Dinh. Khi nhỏ giúp cha Vialleton (cố Truyền), khi cha Vialleton được bổ nhiệm phục vụ miền truyền giáo Kontum (1875), chú Hương vào chủng viện. Học ở Tiểu chủng viện Làng Sông rồi ra học ở Chủng viện Nước Nhỉ. Năm 1880, đi giúp ở Mằng Lăng. Năm 1881 thầy Hương về Làng Sông, hữu duyên, gặp cha Vialleton mới từ Kontum về. Cha con đã biết nhau, gặp được nhau mừng rỡ. Cánh đồng truyền giáo Kontum rất cần người tiếp sức. Cha Vialleton xin cha Bề trên Van Camelbeke Hân[17] cho thầy Hương đi Kontum với cha. Thầy Hương ở Kontum dạy chữ Quốc ngữ. Say sưa với công việc, “quên cả lối về, quên cả chính mình”. Năm 1887, thầy về lại Làng Sông để học thêm thần học.[18] Không sao! Giúp xứ mấy năm cũng được, miễn gieo được chữ Quốc ngữ là được.
Kỷ niệm 10 năm Hội thảo “Chữ Quốc ngữ tại Bình Định”