Chúa Nhật II Mùa Chay, Năm A (01.03.2026) – Đây Là Con Ta (Mt 17,1-9)

Bài đọc 1: St 12,1-4a

Thiên Chúa gọi ông Áp-ram, tổ phụ dân Người.

Bài trích sách Sáng thế.

1 Hồi ấy, Đức Chúa phán với ông Áp-ram : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. 2 Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.

3“Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ;
Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.
Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.”
4aÔng Áp-ram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông.

Đáp ca: Tv 32,4-5.18-19.20 và 22 (Đ. c.22)

Đ.Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

4Lời Chúa phán quả là ngay thẳng,
mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.5Chúa yêu thích điều công minh chính trực,
tình thương Chúa chan hoà mặt đất.

Đ.Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

18Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa,
kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương,19hầu cứu họ khỏi tay thần chết
và nuôi sống trong buổi cơ hàn.

Đ.Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

20Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa,
bởi Người luôn che chở phù trì.22Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

Đ.Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

Bài đọc 2: 2 Tm 1,8b-10

Thiên Chúa kêu gọi và soi sáng chúng ta.

Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi ông Ti-mô-thê.

8b Anh yêu quý, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng. 9 Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Ki-tô Giê-su, 10 nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Ki-tô Giê-su đã xuất hiện. Chính Đức Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.

Tung hô Tin Mừng: 

Từ đám mây sáng chói, tiếng Chúa Cha phán rằng : Đây là Con yêu dấu, làm vui thoả lòng Ta, hãy vâng nghe lời Người.

Tin Mừng: Mt 17,1-9

Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————

 

Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

 

Sống trong cuộc đời, chúng ta bị ràng buộc bởi nhiều thứ: phong tục làng xóm; não trạng cổ xưa; môi trường xung quanh; sự ích kỷ của bản thân và những thói quen từ nhỏ. Những điều kể trên, có những điểm tốt lành đáng trân trọng, nhưng cũng có những bất cập cần thay đổi. Trong tất cả những điều cần thay đổi, điều khó nhất – mà lại là quan trọng nhất – là thay đổi bản thân. Để chấp nhận thay đổi bản thân, cần có sự can đảm và kiên trì, vì sự thay đổi không bao giờ là dễ dàng.

Đức Hồng y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Bỏ tất cả mà chưa bỏ mình thì bạn chưa bỏ gì cả, vì chính bạn sẽ dần dần quơ góp lại những gì bạn đã bỏ trước đó” (Đường Hy vọng 3). Đức Hồng y cũng viết ở một nơi khác: “Dù có ra khỏi nhà, đi phương xa vạn dặm mà cứ mang theo tất cả tật xấu, thì có khác gì ở nhà đâu? (DHV 5). Quả vậy, thay đổi con người là điều kiện tiên quyết để thay đổi xã hội. Không thể có một môi trường xanh và sạch nếu không có những con người ý thức bảo vệ môi trường. Không thể có một cộng đoàn thánh thiện, nếu mỗi tín hữu không cố gắng để hoàn thiện bản thân. Nhiều khi chúng ta cứ kêu gào đòi thế giới phải thay đổi, nhưng cái gọi là “thế giới” lại là một khái niệm rất tổng quát mơ hồ. Thế giới là tất cả mọi người; tất cả mọi người cũng có nghĩa không một ai. Thế giới bao gồm những cá nhân, và thế giới sẽ thay đổi, khi cá nhân thay đổi.

Khởi đi từ sự kiện Chúa Giê-su biến hình, Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Chay mời gọi chúng ta “lên núi” để thay đổi bản thân. Đây là một điều kiện thiết yếu để sống Mùa Chay có ý nghĩa.

Trước hết chúng ta cần thay đổi quan niệm của chúng ta về Thiên Chúa, Đấng chúng ta tôn thờ. Các môn đệ là những người đã theo Chúa một thời gian dài ba năm. Tuy vậy, cái nhìn của các ông về Thầy mình vẫn còn sơ sài, phiến diện và mang tính trần tục. Khi Đức Giê-su nói đến thập giá, các ông bối rối đến mức hoảng loạn. Tại Xê-da-rê Phi-líp-phê, khi nghe Thầy nói về cuộc khổ nạn và sự chết, Phê-rô vội can ngăn và bị Chúa mắng là Sa-tan. Trong khi Chúa nói về cuộc thương khó, thì các môn đệ lại tranh giành xem ai là người lớn nhất, và đòi phải có một vị trí trong tương lai (x. Mt 20,17-28). Cuộc biến hình giúp các môn đệ thanh lọc hình ảnh về Đấng Mê-si-a mà các ông đang có trong đầu. Qua sự kiện biến hình, Chúa Giê-su muốn nói với các ông: Người là Thiên Chúa quyền năng và vinh quang. Người sẽ chịu đau khổ, nhưng sẽ được tôn vinh. Lời Chúa Cha phán từ đám mây, vừa như một lời giới thiệu, vừa như một khẳng định về sứ mạng của Chúa Giê-su trên trần gian. Khi lên núi, tâm trạng ba môn đệ nặng nề chán nản; khi xuống núi, các ông cảm thấy lạc quan vui mừng.

Tiếp đến, chúng ta cần xem xét lại lòng trung tín của chúng ta đối với Chúa. Một ngày nọ, Áp-ra-ham nghe tiếng Chúa truyền bỏ mọi sự để lên đường đến nơi Ngài sẽ chỉ cho. Chúa không nói ông sẽ đi đâu. Áp-ra-ham cũng không vặn hỏi xem mình sẽ làm gì để sống. Ông tin vào Thiên Chúa, và ông chắc một điều là Chúa chỉ muốn cho ông những điều tốt lành. Xã hội hôm nay tự nhận là vô thần, nhưng trong thực tế, càng ngày càng có nhiều thứ thần tượng. Những ngẫu thần hôm nay là tiền bạc, người nổi tiếng, minh tinh màn bạc hay ngôi sao bóng đá. Trong xã hội tự nhận là văn minh, lại nhan nhản trên mạng những hình thức bói toán mê tín dị đoan. Giữa một rừng những ngẫu tượng đó, Ki-tô hữu làm thế nào để trung tín với Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa mà Đức Giê-su giới thiệu với chúng ta? Giữa một mớ âm thanh hỗn tạp của những tín ngưỡng khác nhau, làm thế nào để chúng ta chọn lọc ra tiếng Chúa và phân định được thánh ý Ngài? Sự can đảm dám thay đổi bản thân sẽ giúp chúng ta đạt được những điều đó. Như Áp-ra-ham dứt khoát lên đường, mỗi chúng ta cũng cần can đảm lên đường khởi đầu một lộ trình mới. Đó là lộ trình theo Đức Giê-su và luôn phấn đấu để trở nên giống như Người.

Tin vào Thiên Chúa là tin vào Đấng làm cho cái không thể trở thành điều có thể. Thánh Phao-lô mời gọi người môn sinh của mình là Ti-mô-thê đồng lao cộng khổ trong sứ vụ rao giảng Chúa Giê-su. Nhìn theo nhãn giới trần gian, khẳng định Chúa Giê-su đã chết và đã sống lại là điều không tưởng, vì đi ngược lại với thực tại của thế giới con người. Ấy vậy mà lịch sử đã chứng minh, khởi đi từ một nhóm nhỏ các môn đệ có kiến thức khiêm tốn và địa vị bình dân ở xứ Ga-li-lê-a, Danh Đức Giê-su đã được loan báo cho cả thế giới. Trong xã hội hiện đại hôm nay, nhiều người coi đức tin vào Đức Giê-su như một ảo tưởng không còn hợp thời. Ki-tô hữu là người tin vào sức mạnh của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, chúng ta không thể hiểu nổi. Đường lối ấy, thánh Phao-lô gọi là “kế hoạch và ân sủng” của Thiên Chúa. Mặc dù hèn kém và hữu hạn, Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi tham gia kế hoạch diệu kỳ ấy.

Cuộc lên núi của ba môn đệ Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê cần phải cố gắng và chấp nhận mệt mỏi. Tuy vậy, chính trên núi mà các ông đã được chiêm ngưỡng Thầy mình trong một bộ dạng hoàn toàn khác với ngày thường. Cũng chính trên núi này, các ông thay đổi quan niệm về Thầy mình. Mùa Chay thực sự là một cuộc “leo núi”, giúp ta hướng thượng, để nhìn lại mình và can đảm chấp nhận thay đổi bản thân.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)

—————————

 

Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

BÍ MẬT THIÊN SAI

 

Vinh quang Thiên Chúa tỏa rạng trên núi. Tuần trước trên một ngọn núi cao Xa-tan đã cám dỗ Chúa Giê-su và Người đã chiến thắng.  Hôm nay cũng trên một ngọn núi cao khác, vinh quang của Thiên Chúa được tỏ hiện trước mặt ba môn đệ thân tín là Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an.  Họ là chứng nhân việc Chúa biến hình để rồi cũng ba nhân vật nầy sẽ chứng kiến sự biến dạng gương mặt của Đức Giê-su trong vườn Dầu, họ sẽ củng cố đức tin của các môn đệ khác khi gặp hoạn nạn. 

Trong sa mạc, Đức Giê-su như để mình bị bóc lột hết quyền năng và sự an toàn thần thiêng, Người chỉ dựa cậy vào sức mạnh duy nhất là lời Kinh thánh để đẩy lui cám dỗ.  Trái với hôm đó, hôm nay Đức Giê-su mặc áo vinh quang phục sinh, ánh sáng chói lòa là dấu chỉ thuộc về Thiên Chúa, như xác nhận lời giới thiệu của Cha: “Nầy là Con Ta yêu dấu.  Hãy lắng nghe lời Người” (Bài Tin Mừng Mt 17,1-9).

Biến cố biến hình trên núi Ta-bo xảy ra sau khi Đức Giê-su thất bại tại Ga-li-lê, đám đông tính khí thất thường trở mặt và kiếm chuyện không tin vào lời của Người, Người rút lui về Xê-da-rê Phi-líp-phê, phía đầu nguồn sông Gio-đan để chuyên tâm huấn luyện các môn đệ của mình.  Một cuộc phỏng vấn nhỏ xảy ra để hiểu biết thêm tin tức và lòng dạ các môn đệ: “Người ta bảo con Người là ai?” –  “Còn anh em bảo Thầy là ai?”.  Thay mặt cho nhóm Mười Hai, ông Phê-rô nói: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”.  Lời tuyên xưng nầy được Đức Giê-su ca ngợi là do “Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” thúc đẩy.

Đức Giê-su thiết lập Hội thánh trên Phê-rô khi yên tâm về lòng tin của các môn đệ, và trao cho ông chìa khoá Nước Trời (x. Mt 16,13-20).  Đã đến lúc Đức Giê-su phải nói ra điều đau lòng, Người loan báo việc người sẽ tử nạn, việc nầy làm lung lay và làm chao đảo lòng tin các môn đệ.  Ông Phê-rô can gián Thầy đừng đi con đường khổ nạn và bị Thầy quở trách là Xa-tan, là không am hiểu ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.  Bối cảnh nầy đưa đến cuộc hiển dung lạ lùng trên núi Ta-bo, biến cố biến hình như là lời khẳng định chiến thắng chung cuộc trong trận thư hùng với đối phương, cho dù Thầy phải ngang qua tù ngục và tử nạn.  Hiển dung là để củng cố đức tin nơi các môn đệ khi cuộc tử nạn xảy đến.

Sự hiện diện của Ê-li-a và Mô-sê trong lần hiển dung đó, chúng ta biết Ê-li-a đại diện cho hàng Tiên tri và Mô-sê đại diện cho lề Luật, hai gương mặt đại biểu của Cựu ước.  Hai vị đàm đạo với Đức Giê-su về việc Người chịu chết, đây là sự gặp gỡ giữa Cựu ước và Tân ước có Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an làm đại diện, cả hai giao ước được hoàn tất nơi Đức Giê-su, cho nên “Hãy vâng nghe lời Người”.  Hoạt cảnh nầy cho thấy rõ Đức Giê-su là trung tâm ơn cứu độ, Cựu ước và Tân ước được hoàn tất nơi chính bản thân Người.  Tuy nhiên còn phải giữ bí mật thiên sai nầy, thiên cơ chưa được tiết lộ vì e rằng thiên hạ sẽ hiểu sai lầm về sứ mệnh cứu thế của Đức Giê-su, coi Người là cứu tinh theo nghĩa trần gian mà thôi.  “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (c. 9). 

Hãy vâng nghe lời Người”, không chỉ nghe bằng tai mà thôi nhưng còn quan tâm để ý đến cách sống và lời Người nói nữa, để bắt chước sống như Người.  Tổ phụ A-pra-ham là hình ảnh biểu hiện sự dấn thân dứt khoát của Đức Giê-su, ông đã ra đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa khi tuổi đời đã cao mà chưa có con nối dõi tông đường, ông vâng lời Thiên Chúa lên đường đến nơi bất định, ông ra đi mà không biết mình đi về đâu, hoàn toàn phó thác vâng theo thánh ý Thiên Chúa.  Chính vì vậy mà tổ phụ A-pra-ham đã trở nên cha của các kẻ tin và trở nên mối phúc lành: “Nhờ ngươi mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (x. Bài đọc 1. St 12,1-4a). 

Cũng thế nhờ cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su mà  trần gian được cứu độ, tức là được chúc phúc.  Đức Giê-su là A-pra-ham Mới, là nền tảng đức tin của dân mới, cho nên “Hãy vâng nghe lời Người”.  Lời của Người  đã trở nên cảm hứng cho mọi suy tư thần học, luân lý và bí tích, mọi môn thần học đều khởi đi từ đây, từ nền tảng này, là cơ sở vững chắc cho mọi kiến trúc thần học Ki-tô giáo.

Lạy Chúa Giê-su, xin hãy nâng đỡ con khi con gặp khủng hoảng đức tin, xin cho con dứt khoát dấn thân theo Chúa cho dù gặp gian nan thử thách, gièm pha và bất lợi trên đường đời. A-men

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

______________________

Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)

WGPKT(28/02/2026) KONTUM