… Học Một Sàng Khôn – Hội Nghị Dành Cho Những Người Phụ Trách Huấn Giáo Thuộc Các Hội Đồng Giám Mục Tại Á Châu Năm 2026
… Học Một Sàng Khôn – Hội Nghị Dành Cho Những Người Phụ Trách Huấn Giáo Thuộc Các Hội Đồng Giám Mục Tại Á Châu Năm 2026
WHĐ (24/02/2026) – Đây là bài tổng hợp những ý kiến nổi bật của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hiền từ Hội nghị dành cho những người Phụ trách Huấn giáo thuộc các Hội đồng Giám mục tại Á châu được tổ chức từ 11-12/2/2026 tại Manila, Philippines.
Trong bài “Đi một ngày đàng …”, tôi đã ghi lại những cảm nhận ban đầu khi tham dự Hội nghị dành cho những người Phụ trách Huấn giáo của các Hội đồng Giám mục (HĐGM) tại Á châu, từ 11-12/02/2026 tại Manila, Philippines. Trong bài này, tôi muốn tổng hợp những ý kiến nổi bật trong Hội nghị thành một bản ghi nhớ với ước mong sinh lợi nén bạc đã lãnh nhận. Bài viết của tôi tập trung vào hai câu hỏi: Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 khai sáng những gì cho hoạt động huấn giáo của các Giáo hội tại Á châu? Qua việc thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên, Giáo hội muốn nói với chúng ta điều gì và tại sao nhiều HĐGM tại Á châu chưa thực hiện được Tông thư Thừa tác vụ cổ kính (Antiquum Ministerium)?
1. Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 khai sáng những gì cho hoạt động huấn giáo của các Giáo hội tại Á châu?
Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 đặt huấn giáo trong viễn tượng loan báo Tin mừng, cụ thể là phục vụ cho công cuộc Phúc âm hóa trong giai đoạn mới. Trong đó, xã hội thay đổi sâu rộng và mau chóng bởi hiện tượng văn hóa kỹ thuật số và hiện tượng toàn cầu hóa về mặt văn hóa, còn Giáo hội phải đối diện với hiện tượng nhiều tín hữu tách khỏi đời sống Giáo hội và kinh nghiệm đức tin. Tuy nhiên, “Chúa Thánh Thần tiếp tục khơi lên niềm khao khát Thiên Chúa trong tâm hồn con người, và khơi lên trong Giáo hội một sự nhiệt thành mới, những phương pháp mới và những cách diễn tả mới để loan báo Tin mừng Đức Kitô” (HD 2020, 38).
Định hướng này đòi hỏi chúng ta phải xác định rõ Tin mừng là gì, từ đó mới biết được phải làm gì và làm thế nào để loan báo cách hữu hiệu. Nếu Tin mừng là Đức Kitô, trong Người, Thiên Chúa cho con người được thông phần vào sự sống sung mãn của Ngài, thì loan báo Tin mừng thiết yếu là rao giảng Đức Kitô, như các Tông đồ đã thực hiện trong lời loan báo đầu tiên (kerygma): “Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, Thiên Chúa đã cho Người sống lại. Chúng tôi xin làm chứng về điều đó” (Cv 2,32.36).
Do đó, lời loan báo đầu tiên này cũng phải được công bố và đào sâu trong việc dạy giáo lý (kerygmatic catechesis) nhằm dẫn học viên vào trọng tâm của đức tin là cuộc gặp gỡ sống động với Đức Kitô, đồng thời dẫn họ vào kinh nghiệm sống động của Giáo hội (catechesis as mystagogic initiation). Chính cuộc gặp gỡ sống động với Đức Kitô sẽ lấp đầy tâm hồn và cuộc sống của học viên niềm vui cũng như biến đổi họ trở thành người môn đệ thừa sai.
Việc dạy giáo lý như thế đòi hỏi chúng ta phải thay đổi mô hình dạy giáo lý (model of catechesis) theo hướng tích hợp bốn chiều kích căn bản và không thể tách rời nhau; đó là các chiều kích Kerygma-Martyria: rao giảng Lời Chúa và làm chứng, Leitourgia: phụng vụ và thờ phượng, Diakonia: phục vụ và bác ái, Koinonia: hiệp thông và huynh đệ (x. HD 34).
Để thực hiện mô hình dạy giáo lý này, trước hết giáo lý viên cần chuyển từ vai trò người đơn thuần truyền thụ kiến thức sang vai trò chứng nhân của đức tin, người gìn giữ ký ức về Thiên Chúa, người thầy, người dẫn vào mầu nhiệm, người đồng hành và nhà giáo dục của những người được Giáo hội ủy thác cho (x. HD 110-113). Điều này đòi hỏi chúng ta phải canh tân việc đào tạo giáo lý viên để giúp họ có được nhận thức đầy đủ về ơn gọi của mình và có được cảm thức sâu xa về Giáo hội. Theo Tông thư Thừa tác vụ cổ kính, giáo lý viên được chọn làm thừa tác viên phải là người “có một đức tin sâu xa và trưởng thành nhân bản, tích cực tham dự vào đời sống cộng đoàn Kitô hữu, có khả năng tiếp đón, quảng đại và đời sống hiệp thông huynh đệ. Họ cũng cần được huấn luyện về Thánh kinh, thần học, mục vụ và sư phạm để trở thành những người có khả năng thông truyền sự thật của đức tin và có kinh nghiệm dạy giáo lý” (s. 8).
Kế đến, giáo lý viên cần nắm vững phương pháp luận (methodology) của Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 để chọn cho mình một phương pháp dạy giáo lý đúng đắn và thích hợp (x. HD 197-203). Trong Hướng dẫn Dạy Giáo lý tại Việt Nam 2025, HĐGM đã nhắc lại phương pháp luận này như sau : “Phương pháp đúng đắn trong việc dạy giáo lý không tách đức tin khỏi kinh nghiệm của con người, nhưng soi sáng và giải thích kinh nghiệm ấy dưới ánh sáng của Tin mừng. Phương pháp này giúp giáo lý viên tiếp cận kinh nghiệm với thái độ yêu thương, chấp nhận và tôn trọng, sau đó làm cho kinh nghiệm trở nên đáng sống hơn, nhờ nhận ra trong chính kinh nghiệm ấy sự hiện diện và lời mời gọi của Thiên Chúa, bằng cách nhắc lại những việc kỳ diệu Ngài đã làm cho dân Ít-ra-en trong lịch sử cứu độ (traditio) nhằm giúp cho học viên thấy mình là một phần của lịch sử ấy. Nhờ đó, họ nhận ra những ân huệ Thiên Chúa ban và biết ơn vì những ân huệ này, rồi đón nhận (receptio) và đáp lại (redditio) trong các buổi gặp gỡ giáo lý và trong cuộc sống” (s. 56).
Căn cứ vào phương pháp luận này, có thể nói phương pháp gặp gỡ và đối thoại dựa trên Kinh thánh kết hợp với cử chỉ bẻ bánh mà Chúa Giêsu sử dụng khi đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmaus, là phương pháp dạy giáo lý tuyệt hảo nhất, vì kết cục hai ông đã nhận ra Đấng Phục sinh đang hiện diện và hoạt động trong cuộc đời của mình cũng như được thôi thúc về với cộng đoàn để thuật lại cho mọi người biết những việc đã xảy ra dọc đường và mình đã nhận ra Chúa như thế nào. Trong cuộc gặp gỡ này, Chúa Giêsu không áp đặt cho hai môn đệ những bổn phận phải thực hiện, nhưng mở ra cho họ một chân trời mới tràn ngập niềm vui, thôi thúc họ lên đường mang tin vui đến cho mọi người.
Cuối cùng, giáo lý viên còn phải chọn cho mình một ngôn ngữ mới để diễn tả và thông truyền sự thật của đức tin, phù hợp với tâm lý và hoàn cảnh của người học. Ngoài việc sử dụng các ngôn ngữ truyền thống của Giáo hội như ngôn ngữ Thánh kinh, ngôn ngữ biểu tượng, ngôn ngữ giáo thuyết và ngôn ngữ huấn luyện, cũng như thích nghi cách sáng tạo các ngôn ngữ này với văn hóa của dân tộc, giáo lý viên cần lưu tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ kỹ thật số trong việc dạy giáo lý (narrative and digital catechesis), là những thứ ngôn ngữ dễ chạm đến lòng người: những người sống trong thời đại kỹ trị và chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa kỹ thuật số (x. HD 204-208.213-217.359-372).
Hội nghị không chỉ nhấn mạnh đến sự cần thiết phải canh tân chính việc dạy giáo lý, mà còn ước muốn đường hướng canh tân việc dạy giáo lý này phổ biến rộng rãi đến các ứng sinh chức linh mục trong các đại chủng viện, các tu sĩ trong các hội dòng, các linh mục-tu sĩ-giáo dân đã từng được đào tạo chuyên ngành về huấn giáo, các ban ngành đoàn thể như mục vụ thiếu nhi, giới trẻ, giáo dục, truyền thông, đối thoại liên tôn …, đặc biệt các phụ huynh trong các gia đình … thông qua mọi phương tiện truyền thông như dịch thuật, ấn hành và phát hành sách báo bằng giấy hoặc số hóa, hội thảo và huấn luyện trực tiếp, trực tuyến hoặc ngoại tuyến (direct, online hoăc offline), để có được một nhận thức chung và sự hợp tác đông đảo của mọi thành phần dân Chúa trong nỗ lực canh tân huấn giáo.
2. Qua việc thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên, Giáo hội muốn nói với chúng ta điều gì và tại sao nhiều HĐGM chưa thực hiện được Tông thư Thừa tác vụ cổ kính (Antiquum Ministerium)?
Thiết tưởng chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của hai từ “thừa tác vụ” (ministry) và “thừa tác viên” (minister) để hiểu được ý nghĩa thực sự của việc Giáo hội thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên (Ministry of Catechist). Theo linh mục Stêphanô Huỳnh Trụ, thừa tác vụ là “toàn bộ những việc phục vụ và hoạt động gắn liền với một chức vụ nào đó được giao phó”, vd. thừa tác vụ linh mục là toàn bộ những việc phục vụ và hoạt động gắn liền với chức linh mục như rao giảng, cử hành phụng vụ và các bí tích, cai quản giáo xứ vv…; còn thừa tác viên là “người thừa hành”, “người thi hành một công việc đã được giao phó” hay “người làm thay thế hoặc nhân danh người khác”.
Như thế, qua việc thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên, Giáo hội tiếp nhận giáo lý viên như một thừa tác viên, trao cho họ một chức vụ trong Giáo hội để phục vụ như thầy dạy đức tin hay người thông truyền đức tin qua việc dạy giáo lý. Thừa tác vụ này là một hình thức phục vụ bền vững dành cho Giáo hội địa phương, do đó, họ là những cộng sự viên trung thành với các linh mục và phó tế trong việc dạy giáo lý tại các giáo xứ nhưng phải sẵn sàng thi hành sứ vụ của mình ở bất cứ nơi nào giám mục giáo phận cần đến sứ vụ này (x. AM, s. 8).
Thông qua việc thiết lập thừa tác vụ này, một mặt Giáo hội thừa nhận vai trò quan trọng của giáo dân trong việc tham gia trực tiếp vào sứ vụ loan báo Tin mừng qua việc dạy giáo lý, bằng một sự bổ nhiệm chính thức; mặt khác Giáo hội muốn bày tỏ sự yêu thương, trân trọng, nâng đỡ và khích lệ các giáo lý viên giáo dân cộng tác chặt chẽ hơn với hàng giáo sĩ trong việc thông truyền đức tin và mang niềm vui Tin mừng đến cho mọi người.
Tại Á châu, các HĐGM Thái Lan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Philippines, Mã Lai, … đã và đang thực hiện các bước cần thiết để có thể chọn giáo lý viên vào thừa tác vụ này. Tại Thái Lan, các giám mục đã cho dịch Nghi thức thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên do Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích ban hành ngày 13/12/2021 sang tiếng Thái và phổ biến vào ngày 16/12/2021. Hai năm sau, ngày 22/3/2023, các giám mục đã ban hành “Chỉ dẫn về việc bổ nhiệm giáo lý viên” gồm sáu phần: 1/ Nền tảng lịch sử, 2/ Tầm quan trọng và sự cần thiết, 3/ Định nghĩa, 4/ Những phẩm chất, 5/ Vai trò của giám mục, và 6/ Chỉ dẫn về việc bổ nhiệm giáo lý viên.
Tại Hàn Quốc, HĐGM đã giao cho Ban Giáo lý soạn Hướng dẫn căn bản về chương trình đào tạo giáo lý viên dựa trên Hướng dẫn dạy Giáo lý 2020 và Tông thư Thừa tác vụ cổ kính, nhằm hỗ trợ cho việc thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên giáo dân trong các giáo phận. Từ năm 2024 đến nay, Hàn Quốc đã có bốn (4) giáo lý viên được gửi sang Vatican để nhận thừa tác vụ. Họ là những giáo lý viên đã phục vụ hơn hai mươi năm. Việc lãnh nhận thừa tác vụ giúp họ khẳng định và củng cố ơn gọi giáo lý viên, đồng thời động viên các giáo lý viên khác sống ơn gọi của mình với một cam kết mới. Hiện nay, các thừa tác viên này trực tiếp tham gia vào việc đào tạo các giáo lý viên.
Tại Ấn Độ, HĐGM chấp nhận việc thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên và trong Năm Thánh 2025, đã gửi ba (3) giáo lý viên sang Vatican nhận thừa tác vụ từ Đức Thánh cha Lêô XIV. Các thừa tác viên này đã trở thành mẫu gương cho hàng ngàn giáo lý viên trong các giáo phận. Để bảo đảm cho việc thiết lập này được khai triển ở các giáo phận, một chương trình đào tạo giáo lý viên theo mô hình song song (mô hình kết hợp học và hành ngay tại môi trường làm việc) được phát triển dưới hình thức trực tuyến hoặc ngoại tuyến để giáo lý viên có đủ điều kiện xin lãnh nhận thừa tác vụ.
Cùng với các giáo lý viên Hàn Quốc và Ấn Độ, hai (2) giáo lý viên Philippines cũng đã nhận Thánh giá từ Đức Thánh cha Lêô XIV như dấu chỉ sứ mạng của họ, trong Thánh lễ bế mạc ba ngày Năm Thánh dành cho giáo lý viên tại Quảng trường Thánh Phêrô, vào ngày 28/9/2025. Họ đã từng phục vụ trong cả hai lãnh vực huấn giáo và giáo dục trong nhiều năm và sẽ tiếp tục phục vụ trong vai trò đào tạo giáo lý viên cũng như hướng dẫn các giáo lý viên mới.
Tại Mã Lai, vào ngày 08/8/2025, Tổng giám mục Giáo phận Kuching đã trao ban thừa tác vụ cho hai mươi hai (22) giáo lý viên phục vụ trọn thời gian, đến từ nhiều giáo xứ khác nhau.
Tại Đài Loan, Bangladesh, Indonesia, Việt Nam và đặc khu hành chính Ma Cao thuộc Trung Quốc, các giám mục đều sẵn sàng thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên, nhưng cần có thêm thời gian để phân định vì hầu hết giáo lý viên ở đây phục vụ như những thiện nguyện viên tại các giáo xứ và được huấn luyện vừa đủ để phục vụ bán thời gian (part-time), trong khi thừa tác vụ này đòi hỏi đương sự phải được huấn luyện chuyên sâu và phục vụ dài lâu; thêm vào đó, các giáo phận hoặc giáo xứ không có đủ khả năng tài chánh để tài trợ cho các giáo lý viên phục vụ trọn thời gian (full-time).
Đức Giám mục Giáo phận Ma Cau, qua kinh nghiệm, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn lý do tại sao nhiều giám mục chưa thực hiện được Tông thư Thừa tác vụ cổ kính. Ngài còn có sáng kiến dùng “Nghi thức Chúc lành và Sai đi” (Catechist Blessing and Commissioning) để tiếp nhận các giáo lý viên trong giáo phận, thay cho “Nghi thức Thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên” (The Rite of institution of Catechist), khi mà giáo phận chưa có đủ điều kiện thiết lập thừa tác vụ này. Theo ngài, việc thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên chưa thực hiện được tại Ma Cao, vì những lý do sau :
a/ Giống như các thừa tác vụ khác, thừa tác vụ giáo lý viên có tính “bền vững” (stability) nên chỉ được nhận có một lần cho cả đời, do đó, ứng viên phải được giám mục thẩm định là có đủ điều kiện và những phẩm chất cần thiết, trong khi giáo phận chưa tạo đủ điều kiện để giáo lý viên có được những phẩm chất này. Thêm vào đó, đa số giáo lý viên ở Ma Cao chỉ dạy giáo lý như những thiện nguyện viên vào những giờ rảnh rỗi, do đó, họ không nhất thiết phải phục vụ “thường xuyên” thông qua một thừa tác vụ;
b/ Việc trao ban thừa tác vụ là một phụ tích (á bí tích) vốn định hình con người và ấn định cách giáo lý viên tham gia vào đời sống và sứ vụ của Giáo hội thông qua một thừa tác vụ chuyên biệt, chứ không đơn thuần là một sự bổ nhiệm hay phân công, do đó, không nhất thiết tất cả các giáo lý viên đang phục vụ tại các giáo xứ phải trở thành các thừa tác viên;
c/ Hơn nữa, “Thư của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích gửi cho các Chủ tịch Hội đồng Giám mục về Nghi thức thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên” đề cập đến bản chỉnh sửa Ấn bản thứ hai về việc Thiết lập thừa tác vụ người Đọc sách, người Giúp lễ và Giáo lý viên (Editio typica altera De institutione Lectorum, Acolythorum et Catechistarum) sẽ được xuất bản nhân kỷ niệm 50 năm (1972-2022) ban hành Tông thư Ministeria Quaedam, có kèm theo những ghi chú (Praenotanda). Tuy nhiên, bản văn này vẫn chưa được xuất bản, do đó, các giáo hội địa phương chưa có được những chỉ dẫn cụ thể, thống nhất và cập nhật để thưc hiện Tông thư Antiquum Ministerium.
Trong hoàn cảnh này, ngài tiếp nhận các giáo lý viên bằng hình thức “Chúc lành và Sai đi”, vì Giáo lý Hội Thánh Công giáo số 1672 đã chỉ ra cho chúng ta một số chúc lành được ban như một phụ tích hay á bí tích : “Một số chúc lành có giá trị lâu dài vì chúng thánh hiến con người cho Thiên Chúa, hoặc dành riêng các vật và nơi chốn cho việc cử hành phụng vụ. Trong số những chúc lành dành cho con người […], có chúc lành cho một số thừa tác viên của Giáo hội như người đọc sách, giúp lễ, dạy giáo lý …”
Cùng với những vị phụ trách huấn giáo trong các HĐGM tại Á châu, chúng ta phải nhìn nhận rằng hai văn kiện Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 và Tông thư Thừa tác vụ cổ kính2021 thực sự là những món quà quý giá cho Giáo hội trong nỗ lực canh tân huấn giáo theo viễn tượng loan báo Tin mừng và phục vụ cho công cuộc Tân Phúc âm hóa: văn kiện thứ nhất thúc đẩy phúc âm hóa chính việc dạy giáo lý, để việc dạy giáo lý trở thành công cụ hữu hiệu cho việc phúc âm hóa (evangelized and evangelizing catechesis) gia đình, giáo xứ, và xã hội; văn kiện thứ hai tạo cơ hội để giáo dân tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin mừng qua việc dạy giáo lý, bằng cách cộng tác chặt chẽ hơn với các linh mục và phó tế tại các giáo xứ và sẵn sàng thi hành sứ vụ của mình ở bất cứ nơi nào giám mục giáo phận cần đến. Bằng cách này, cả hai văn kiện không chỉ khai sáng hay gợi hứng, mà còn huy động nhân vật lực cần thiết cho sự phát triển của huấn giáo trong thời đại tục hóa và kỹ thuật số. Phần chúng ta, chúng ta sẽ làm gì để có thể cùng tiến bước với các Giáo hội tại Á châu trong nỗ lực canh tân huấn giáo nhằm phục vụ cho công cuộc loan báo Tin mừng?