Vượt trên tính bền vững: Sự tử tế như một giá trị phổ quát có khả năng tái sinh công ích và biến đổi xã hội
Tomasa Calvo
Ngày nay, một trong những từ khóa then chốt của thế giới toàn cầu hóa là tính bền vững. Từ này dường như mang một sức hấp dẫn gần như kỳ diệu, lôi cuốn chúng ta và khiến chúng ta tin rằng chỉ cần cổ võ tính bền vững, chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc và cứu vãn thế giới. Cách suy nghĩ này phần nào khoác cho khái niệm về tính bền vững một sắc thái gần như mang tính cứu độ, đầy cuốn hút.
Tính bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của chính họ, đồng thời bảo đảm sự quân bình giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội. Để đạt được phát triển bền vững, cần phải hài hòa ba trụ cột nền tảng này.
Trong nhiều tháng qua, dù có vẻ phức tạp, tôi vẫn suy tư về mối tương quan giữa tính bền vững và sự tử tế. Một cách tiếp cận khả dĩ là nhìn nhận tính bền vững như một tiến trình năng động nhằm tìm kiếm sự quân bình giữa phúc lợi con người và sự tôn trọng môi trường; còn sự tử tế như một nhân đức thúc đẩy con người hành động với thiện tâm, quảng đại và lòng trắc ẩn đối với các thụ tạo khác. Tuy nhiên, mối tương quan này không phải lúc nào cũng hiển nhiên hay đơn giản, bởi vì có nhiều yếu tố cản trở việc thực hiện cả tính bền vững lẫn sự tử tế trong một thế giới toàn cầu hóa, đa dạng và đầy bất bình đẳng. Chẳng hạn, một số tác giả cho rằng ý niệm về phát triển bền vững có thể bị sử dụng để biện minh cho những lợi ích cục bộ hoặc những chính sách mâu thuẫn, điều này đi ngược lại với công ích. Trong khi đó, sự tử tế là một giá trị phổ quát; và chính vì là một giá trị, chứ không chỉ là một phẩm chất, nên nó không để lại chỗ cho những hiểu lầm, những diễn giải thiên lệch hay sự mơ hồ.
Sự tử tế là một giá trị phổ quát, và chính vì là một giá trị, vượt trên bình diện của một phẩm tính đơn thuần, nên sự tử tế không để lại chỗ cho những hiểu lầm, những cách diễn giải thiên lệch hay sự mơ hồ.
Do đó, tôi mạnh dạn biện hộ cho sự tử tế hơn tính bền vững, bởi lẽ sự tử tế chính là khuynh hướng tự nhiên hướng con người tới việc thực thi điều thiện. Trong truyền thống triết học, có nhiều cách định nghĩa về lòng nhân ái; chẳng hạn, đối với Socrates: “sự tử tế hệ tại nơi sự khôn ngoan, nơi việc biết hành động và thấu hiểu”, còn đối với Aristotle: “sự tử tế là sự định hướng của ý chí nhằm thực thi điều thiện cho tha nhân”. Hơn nữa, sự tử tế còn được nhận diện qua những biểu hiện cụ thể như: sự tử tế, tính khả ái, lòng quảng đại, tinh thần liên đới, (…); đồng thời, nó cũng tương hợp với những khái niệm như: tình yêu, phục vụ, bác ái, công lý, (…). Tất cả những điều này cho thấy giá trị nội tại hết sức phong phú của khái niệm này, một giá trị đã được mọi nền văn minh nhìn nhận và đề cao.
Tôi thường tự hỏi vì sao chúng ta lại đặt niềm tin vào phát triển bền vững như bảo chứng cho một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người, thay vì tín thác vào việc thực hành lòng nhân ái, một nét đặc trưng của truyền thống Kitô giáo cao quý và của sự khôn ngoan bình dân, như câu ngạn ngữ quen thuộc nhắc nhở: “Hãy làm điều thiện mà đừng xét đến người nhận”.
Con người có thể biến đổi thế giới bằng việc thực thi điều thiện. Để làm được điều này, chúng ta cần nhận thức sâu xa về tiềm năng lớn lao của sự tử tế trong mọi chiều kích, hay nói cách khác, của việc sống và thực hành điều thiện. Hơn nữa, công việc được thực hiện cách tốt đẹp sẽ bảo đảm một sự phát triển kinh tế và xã hội lành mạnh. Đồng thời, thiện ích xã hội khởi đi từ thiện ích của gia đình, bởi gia đình là tế bào nền tảng của xã hội.
Thật vậy, thiện ích xã hội bắt nguồn từ thiện ích của gia đình, vì gia đình chính là tế bào căn bản của xã hội.
Chúng ta cũng có thể hình dung hệ sinh thái của thế giới như sự kết hợp của nhiều hệ sinh thái cá nhân năng động. Mỗi hệ sinh thái này, về căn bản, mang ba chiều kích: cá nhân và gia đình, xã hội, và môi trường. Tuy nhiên, cũng có thể nói rằng mỗi hệ sinh thái cá nhân mang tính đa hướng, bởi mỗi cá vị tương tác với nhiều người khác cũng như với nhiều môi trường tự nhiên khác nhau. Nếu mỗi người dấn thân chăm sóc và cải thiện hệ sinh thái của chính mình, thì một thế giới tốt đẹp hơn sẽ được thành tựu, cho con người, cho các sinh vật khác và cho mọi môi trường của thế giới này.
Điều cốt yếu hệ tại ở việc nhận ra làm thế nào chúng ta có thể thực thi điều thiện và trở nên tử tế hơn nhằm kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn. Cần ý thức rằng, suy cho cùng, sự tử tế cốt ở việc trao tặng cho người khác mà không mong đợi bất cứ sự đền đáp nào. Đôi khi, sự tử tế bị đồng hóa với sự yếu đuối; không ai muốn trở thành “người quá hiền”, người mà ai cũng có thể lợi dụng. Trong những trường hợp này, chúng ta quên rằng sự tử tế đòi hỏi sức mạnh để làm chủ những nóng giận hay những giới hạn của bản thân và chuyển hóa chúng thành sự hiền hòa. Người tử tế cũng không dễ dãi trước bất công, cũng không dửng dưng trước hành vi của những người xung quanh.
Nhận thức này giúp chúng ta hiểu rằng sống tử tế thanh luyện tâm hồn, bởi chúng ta biết cho đi và hiến mình mà không cảm thấy thiệt thòi, đồng thời nâng đỡ mọi người chung quanh. Người tử tế thường nhìn thấy điều tốt nơi người khác, vì họ tránh những định kiến về hành vi của tha nhân và có khả năng đồng cảm với những gì người khác đang cảm nhận, từ đó sẵn sàng đưa ra những giải pháp thích hợp. Các nghiên cứu cho thấy rằng 90% dân số tin rằng những hành vi tử tế giúp khơi dậy điều tốt đẹp nhất nơi chính mỗi con người.
Các nghiên cứu cho thấy rằng 90% dân số tin rằng những hành vi tử tế giúp khơi dậy điều tốt đẹp nhất nơi chính con người.
Ngược lại, người luôn nhấn mạnh những gì mình đã làm hoặc cách mình đã chăm sóc người khác không hẳn là người tử tế. Người tử tế là người vô vị lợi, không mong được đền đáp, có một khát vọng phục vụ sâu xa, và tránh hành động nhằm gây ấn tượng với người khác, (…).
Sống tốt đồng nghĩa với việc làm điều thiện; và chúng ta có thể thực thi điều thiện trong gia đình cũng như ngoài xã hội: nở nụ cười, nuôi dưỡng tinh thần lạc quan, sống tử tế, tôn trọng, cảm thông, v.v. Những hành vi ấy giúp chúng ta hạnh phúc hơn đồng thời làm cho người khác cũng được hạnh phúc. Xét theo lý trí, có thể nói rằng sống tốt cũng chính là sống hạnh phúc, hay nói cách khác, điều thiện và hạnh phúc gắn bó mật thiết với nhau.
Nhà văn Patricia Ramírez, trong một tác phẩm của mình, nhận định rằng: “hạnh phúc tùy thuộc vào khả năng sống tử tế và khẳng định có một mối liên hệ trực tiếp giữa khả năng làm điều thiện, giúp đỡ tha nhân và hạnh phúc của chính mình, trong một bối cảnh mà, theo bà, đáng tiếc thay, giá trị của sự tử tế và sự tôn trọng đang dần mai một, còn chủ nghĩa cá nhân lại được đề cao hơn thiện ích của nhóm”.
Những “việc thiện” trong đời sống cá nhân và gia đình chúng ta cần được triển nở trong đời sống xã hội, qua việc tìm kiếm thiện ích của tha nhân, hướng đến công ích, và nuôi dưỡng ước muốn chăm sóc mọi thực tại chung quanh: động vật, thực vật, đô thị, núi non, đại dương, (…).
Công ích bao hàm ba yếu tố cốt yếu: sự tôn trọng con người, phúc lợi xã hội và sự bảo đảm của một trật tự công bằng. Nhân danh công ích, các nhà cầm quyền có bổn phận tôn trọng những quyền căn bản và bất khả nhượng của con người. Đồng thời, họ phải bảo đảm cho mỗi người những điều kiện cần thiết để có thể sống một đời sống đích thực xứng hợp với phẩm giá con người, và bằng những phương thế chính trực, bảo đảm an ninh cho xã hội cùng các thành viên của nó. Vì vậy, mọi chính sách, cả kinh tế lẫn xã hội, đều phải hướng về mục tiêu này.
Công ích bao hàm ba yếu tố thiết yếu: sự tôn trọng đối với con người, phúc lợi xã hội, và sự bảo đảm của một trật tự công bằng.
Toàn cầu hóa làm cho tương quan nhân loại ngày càng được mở rộng trên phạm vi toàn cầu, do đó đòi hỏi phải quan tâm đến một công ích mang tính phổ quát. Công ích này mời gọi các nhà lãnh đạo của mọi quốc gia dấn thân phục vụ phúc lợi và sự phát triển của dân tộc mình.
Vì điều thiện có tính lan tỏa, nên điều thiện phát sinh điều thiện và không ngừng lan toả. Khi một người cải thiện hệ sinh thái mang tính cá vị của mình, họ sẽ góp phần làm cho các hệ sinh thái khác được cải thiện; và, những hệ sinh thái này lại ảnh hưởng đến những hệ sinh thái khác nữa, đến mức điều thiện có thể thắng vượt sự dữ, xây dựng vượt thắng phá hủy, hòa bình vượt thắng chiến tranh, (…), trong thế giới toàn cầu hóa này.
Nhờ việc thực hành lòng nhân ái, chúng ta có thể đạt tới một thế giới tốt đẹp hơn, và chắc chắn góp phần vào việc bảo tồn mọi tài nguyên của hành tinh, như viễn tượng mà sự phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự 2030 hướng tới. Tôi tin rằng việc dấn thân sống tử tế là điều đáng giá, bởi đó là biểu hiện cao quý nhất mà con người có thể đạt tới. Trên bình diện thực hành, chúng ta có thể hướng đến việc gieo “những hạt giống của sự tử tế” hoặc trao tặng “những viên thuốc của sự tử tế”, hầu kiến tạo một thế giới tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người.