Kết Thúc Đại Hội Giáo Lý Toàn Quốc Lần Thứ VII (3-6/8/2026) – Bản Ghi Nhớ

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ TOÀN QUỐC LẦN VII: HUẤN GIÁO PHỤC VỤ CÔNG CUỘC LOAN BÁO TIN MỪNG 

Sáng thứ Năm, ngày 06/8/2026, ngày cuối cùng của Đại hội Huấn giáo Phục vụ Công cuộc Loan báo Tin Mừng toàn quốc lần thứ VII tại Giáo phận Ban Mê Thuột bắt đầu với giờ Kinh Sáng lúc 6 giờ.

Sau bữa điểm tâm, các đại biểu bất ngờ và xúc động khi nhận được món quà lưu niệm từ Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Huy Bắc, Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột, cùng Ban Giáo lý Giáo phận Ban Mê Thuột. Những đặc sản mang đậm hương vị núi rừng Ban Mê không chỉ là món quà vật chất mà còn là dấu ấn của tình hiệp thông, sự hiếu khách và tấm lòng chân thành của Giáo phận chủ nhà dành cho các tham dự viên đến từ khắp mọi miền đất nước.

HỘI THẢO CHUNG

Lúc 8 giờ, Đại hội bước vào phiên hội thảo toàn thể theo phương thức “Đối thoại trong Thánh Thần”. Đây là nét đặc sắc xuyên suốt Đại hội, nơi mọi người không tranh luận để phân thắng bại nhưng cùng lắng nghe Chúa Thánh Thần và lắng nghe nhau.Sau mỗi phần chia sẻ đều có những giây phút thinh lặng để mỗi người tự hỏi: Chúa Thánh Thần đang nói gì với tôi? Điều gì còn đọng lại trong tâm hồn tôi qua những thao thức của anh chị em? Vì thế, không có những tràng pháo tay tán thưởng, nhưng có sự hiệp thông, phân định và đồng trách nhiệm trong sứ mạng huấn giáo.

Dưới đây là tóm lược nội dung các đúc kết hội thảo của 5 đề tài:

ĐỀ TÀI 1: NĂM ĐIỀU CỐT LÕI VỀ KERYGMA TRONG GIÁO LÝ

1. Xác tín Lời Chúa là nền tảng và linh hồn của giáo lý
Lời Chúa không chỉ là một công cụ hay chất liệu thông tin để giảng dạy, mà phải là nguồn mạch của giáo lý và là động lực thực sự dẫn đến sự hoán cải, biến đổi đời sống của học viên.

2. Chạm đến Lời Chúa trước khi truyền đạt
Trước hết, Giáo lý viên phải là người tiếp cận với Lời qua việc đọc, hiểu, cảm nhận và trải nghiệm thực tế với Lời Chúa; phải để Lời Chúa soi dẫn, âm vang trong lòng và cảm nhận niềm vui Tin Mừng thì mới có thể truyền đạt hiệu quả cho học viên.

3. Phương pháp sư phạm gắn liền với Lời Chúa
Áp dụng các bước thực hành đơn giản nhưng sâu sắc: Nghe – Hiểu – Sống Lời Chúa, vận dụng vào các sinh hoạt của Thiếu Nhi Thánh Thể, lặp lại Lời Chúa qua nhiều hình thức và luôn quy chiếu nội dung buổi gặp gỡ giáo lý về một câu/đoạn Lời Chúa cốt lõi.

4. Đào tạo căn bản và thường xuyên cho Giáo lý viên
Cần tổ chức các lớp huấn luyện Kinh Thánh, cầu nguyện với Lời Chúa và đào tạo kỹ năng sư phạm thường xuyên ở các cấp, đồng thời xây dựng giáo trình huấn luyện đồng bộ và phù hợp với thực tế địa phương.

5. Hướng đến hành động cụ thể và sự dấn thân

Mỗi bài học phải kết thúc bằng những câu hỏi gợi mở, việc làm thiết thực hoặc cam kết sống cụ thể để giúp học viên áp dụng Lời Chúa vào đời sống hằng ngày/hằng tuần, đồng thời quan tâm đến hoàn cảnh của từng học viên để thúc đẩy và khích lệ.

ĐỀ TÀI 2: NĂM ĐIỀU CỐT LÕI VỀ GIÁO LÝ NHIỆM HIỆP:

1. Đào tạo giáo lý viên (GLV) theo hướng nhiệm hiệp: GLV cần được đào tạo trở thành con người của cầu nguyện và có chiều sâu thiêng liêng, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò “giáo viên”: truyền đạt kiến thức thuần túy.

2. Khắc phục điểm yếu thực tế của GLV tại Việt Nam: Nhiều GLV hiện nay còn thiếu kiến thức Thánh Kinh, thiếu tình yêu say mến Chúa và thiếu đời sống đạo sâu sa do quá chú trọng đến hình thức, dẫn đến việc dễ nản lòng và rời bỏ sứ vụ khi gặp áp lực.

3. Nâng cao năng lực đồng hành: Đào tạo GLV không chỉ để trở thành người dạy học mà là người đồng hành thiêng liêng, biết lắng nghe, chân thành và tạo môi trường an toàn giúp học viên mở lòng và xây dựng tương quan cá vị với Chúa.

4. Giải pháp về tài liệu và chương trình: Đề xuất Ban Huấn giáo biên soạn tài liệu đào tạo chuyên biệt cho Giáo lý viên và các em thiếu nhi theo hướng nhiệm hiệp, đồng thời xem xét lại các khóa đào tạo ngắn hạn và cải thiện việc duy trì sinh hoạt, phụng vụ cho các em sau khi lãnh nhận các bí tích.

5. Đưa Lời Chúa và Phụng vụ vào đời sống hằng ngày: Cần giúp học viên thực hành Lời Chúa một cách đơn giản, khả thi trong đời sống thực tế, gắn kết giáo lý với Mùa Phụng vụ và duy trì việc kiểm điểm đời sống (dốc lòng/quyết tâm) sau mỗi buổi học.

ĐỀ TÀI 3: HUẤN GIÁO VÀ GIA ĐÌNH

1. Thực trạng

– Đời sống đức tin suy giảm: Gặp khó khăn trong việc thực hành đạo do sống ở môi trường tôn giáo khác, thiếu vắng không khí cầu nguyện chung của cộng đoàn và dễ bị xao lãng bởi các phương tiện giải trí hiện đại.

– Vấn đề hôn nhân và gia đình: Tình trạng rối hôn nhân, ly hôn và tái hôn diễn ra phức tạp.

– Tâm lý và rào cản xã hội: Các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt thường mang mặc cảm, tự ti, tự cô lập mình; trong khi đó, giáo xứ và cộng đoàn còn e dè, hỗ trợ mang tính hình thức, thời vụ. Thêm vào đó, thủ tục hành chính rườm rà vô tình tạo khoảng cách với Giáo hội.

2. Giải pháp khắc phục

– Đổi mới phương thức mục vụ: Linh mục và cộng đoàn cần chuyển từ thái độ thụ động sang chủ động tiếp cận, lắng nghe, cảm thông và đón nhận họ như những thành viên thực sự.

– Đồng hành và hỗ trợ từng trường hợp: Kiên nhẫn đồng hành, xem xét từng hoàn cảnh cụ thể để hướng dẫn giải quyết (như làm cam kết cho những đôi không tái hôn để được rước lễ) và kết nối họ tham gia các hội đoàn để nhận sự nâng đỡ tinh thần.

– Củng cố Hội Thánh tại gia: Xây dựng và duy trì mô hình “4 bàn” trong gia đình, khôi phục giờ kinh tối chung (linh hoạt áp dụng trực tuyến khi con cái ở xa), đôn đốc việc dự lễ, học giáo lý và tạo điều kiện cho người di dân.

– Biến thử thách thành cơ hội/ làm chứng: Khích lệ các gia đình giữ vững niềm hy vọng, kiên trì sống tốt trong khả năng và hoàn cảnh thực tế của mình.

3. Liên đới trách nhiệm

– Trách nhiệm của gia đình: Chủ động xây dựng nề nếp đạo đức tại gia, duy trì giờ kinh nguyện, làm gương sáng trong đời sống đức tin và đôn đốc con cái giữ đạo.

– Trách nhiệm của giáo xứ (linh mục và cộng đoàn): Phá bỏ định kiến và rào cản hành chính, chủ động mở rộng vòng tay chào đón, lắng nghe và thể hiện tình bác ái mục vụ mang tính lâu dài, bền bỉ thay vì thời vụ.

 Trách nhiệm của giáo lý viên: Đóng vai trò cầu nối, kiên nhẫn đồng hành, hỗ trợ sát sao các gia đình và học viên trong việc tháo gỡ khó khăn về đời sống đạo.

ĐỀ TÀI 4: HUẤN GIÁO VÀ MÔI TRƯỜNG

1. Thực trạng

– Lối sống tiêu thụ vô độ, chạy theo xu hướng “cũ bỏ, mới mua” và phổ biến tình trạng xả rác bừa bãi khi thiếu giám sát.

– Chương trình giáo lý còn nặng lý thuyết, thời gian hạn chế (1 giờ/tuần), chưa có giáo trình đồng bộ và thiếu chú trọng đến môi sinh.

– Tồn tại sự tách biệt giữa đời sống đạo và trách nhiệm môi trường; chưa nhận thức đầy đủ “tội sinh thái” là xúc phạm công trình tạo dựng.

2. Giáo dục đạo đức môi sinh

– Xóa bỏ ranh giới “thiêng liêng – trần thế”: Xem bảo vệ môi trường và chống lãng phí là một phần của đức tin, sứ mạng cứu độ và việc xét mình hằng ngày.

– Đổi mới phương pháp dạy học: Lồng ghép giáo dục môi sinh vào giờ giáo lý, kết hợp trải nghiệm thực tế (cầu nguyện ngoài trời, chăm sóc cây xanh) và giao bài tập thực hành về nhà.

– Gắn kết đồng bộ: Xây dựng lối sống tiết độ, biết ơn từ gia đình, giáo xứ đến xã hội, đồng thời đưa đạo đức môi sinh vào huấn luyện giáo lý viên.

3. Giải pháp hành động

– Phát huy vai trò tiên phong của mục tử, tu sĩ và giáo lý viên trong việc làm gương và truyền cảm hứng.

– Thực hiện các hành động thiết thực tại giáo xứ: Tổng vệ sinh định kỳ, phân loại rác tại nguồn, lắp đặt bảng nhắc nhở tiết kiệm điện nước và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường.

– Phối hợp liên ban mục vụ (như Ban Giáo lý và Caritas) để thống nhất chương trình, tối ưu hóa thời gian và cung cấp nguồn lực hỗ trợ.

ĐỀ TÀI 5: HUẤN GIÁO VÀ KỸ THUẬT SỐ

1. Cơ hội (Thuận lợi & Tiềm năng)

Tối ưu hóa giảng dạy & Quản lý:

– Các công cụ/thiết bị số (AI, Canva, PowerPoint, ứng dụng quản lý…) giúp soạn bài giảng nhanh, sinh động, dễ tiếp cận giới trẻ.

– Tối ưu hóa các công tác hành chính: điểm danh, theo dõi tiến trình học tập, quản lý nhân sự và tổ chức sinh hoạt/game giáo lý.

Mở rộng không gian kết nối & Học liệu:

– Mạng xã hội (Zalo, Facebook…) tạo sự liên lạc, đồng hành linh hoạt và liên tục giữa Giáo lý viên (GLV) – Học viên – Phụ huynh – Giáo xứ.

– Cung cấp nguồn tài nguyên, dữ liệu phong phú (video, bài giảng ngắn, E-book, Lectio Divina trực tuyến).

Loan báo Tin Mừng & Đổi mới vai trò GLV:

– Biến môi trường số thành không gian sống mới để “khuếch đại tiếng nói của Thần Khí” và lan tỏa đức tin.

– Thúc đẩy GLV chuyển mình từ người chỉ truyền thụ kiến thức sang người đồng hành thiêng liêng, biết lắng nghe sâu và truyền lửa đức tin.

2. Thách đố (Khó khăn & Nguy cơ)

Về phía Giáo lý viên & Giáo xứ:

– Rào cản công nghệ: GLV lớn tuổi hoặc ở vùng xa/vùng quê gặp khó khăn trong tiếp cận kỹ thuật, thiếu thiết bị, dễ nảy sinh tâm lý chán nản, sợ đổi mới.

– Khoảng cách công nghệ: Bề trên, Linh mục, GLV kém công nghệ hơn giới trẻ, gây khó khăn cho việc quản lý và đồng hành.

– Lệ thuộc & Rủi ro nội dung: Lạm dụng AI thiếu kiểm chứng làm bài giảng bị “rập khuôn”, thiếu chiều sâu; nguy cơ tiếp nhận thông tin sai lệch về đức tin.

Về phía Học viên & Đời sống đức tin:

Hời hợt thiêng liêng: Dễ sa vào lối sống vội, sống ảo, “thế tục hóa thiêng liêng” (phô trương hình thức, chuộng “like”, quảng cáo hóa đức tin); thiếu khoảng thinh lặng và thói quen cầu nguyện.

Nhiễu loạn thông tin & Độc hại: Học viên khó phân biệt thật – giả, dễ bị cuốn theo thông tin cực đoan, trào lưu tiêu cực và tiếp cận thiết bị số quá sớm.

Nghiện thiết bị & Xao nhãng: Dễ bị phân tán, giảm khả năng tập trung trong học tập và sinh hoạt giáo lý.

Về Tương quan, Đạo đức & An toàn:

Suy giảm tương tác thực: Nguy cơ biến công nghệ thành công cụ thay thế (chứ không phục vụ) sự gặp gỡ trực tiếp, lắng nghe và thấu hiểu.

Lối sống “hai mặt” & Lệch lạc: Thiếu sự thống nhất giữa hình ảnh đạo đức đời thực và phát ngôn/nội dung khiếm nhã trên mạng; nguy cơ lệch lạc trong tương quan ngoài giờ học.

An toàn & Bảo mật: Nguy cơ lộ thông tin cá nhân, thiếu an toàn cho trẻ em, hoặc việc bình phẩm/xét đoán các vụ việc lớp giáo lý công khai trên mạng làm hưởng đến cộng đoàn.

Giới hạn ứng dụng: Công nghệ hoàn toàn không thể sử dụng hay thay thế trong các giờ cầu nguyện, phụng vụ thiêng liêng.

3. Giải pháp (Định hướng & Lời khuyên mục vụ)

Về Nguyên tắc cốt lõi — “Online phục vụ Offline”:

– Công cụ, không phải đích đến: không bàn lùi hay cấm đoán nhưng xem công nghệ chỉ là phương tiện hỗ trợ. Giờ giáo lý phải là nơi gặp gỡ, hoán cải và biến đổi đời sống thực.

– Sự ưu tiên: Ưu tiên ứng dụng công nghệ cho GLV/Phụ huynh để giảng dạy và quản lý; tránh để học viên quá phụ thuộc vào máy móc.

Về Đào tạo & Xây dựng nhân sự:

Đào tạo toàn diện & Hiệp hành: Mở khóa tập huấn kỹ năng số, đạo đức AI và kỹ năng phân định/lắng nghe sâu cho GLV (khuyến khích GLV trẻ hỗ trợ GLV lớn tuổi).

Thành lập Ban chuyên trách: Giáo phận/Giáo xứ thành lập ban chuyên trách (Linh mục, Tu sĩ, chuyên gia) để xây dựng kho giáo án, học liệu và ứng dụng/phần mềm chuyên biệt chuẩn mực.

Về Phương pháp thiêng liêng & Lương tâm kỹ thuật số:

Đưa phương pháp thiêng liêng lên không gian số: Thực hành “Đối thoại trong Thánh Thần”, Lectio Divina, Xem-Xét-Làm qua các nền tảng trực tuyến để biến mạng xã hội thành nơi cầu nguyện, phân định và hiệp thông.

Ứng dụng có trách nhiệm & Làm chứng bằng đời sống: Giáo dục học viên biết chọn lọc thông tin an toàn. GLV giữ sự thống nhất giữa đời sống thực và mạng xã hội, dùng chứng tá đời sống làm bài giảng thuyết phục nhất.

Về sự Đồng bộ & Cân bằng:

Áp dụng đồng bộ: Quy định rõ ràng, thống nhất việc ứng dụng công nghệ trong toàn Giáo xứ/Giáo phận.

Cân bằng sinh hoạt: Kết hợp hài hòa giữa ứng dụng trực tuyến với các hoạt động sinh hoạt thực tế, vui chơi, đoàn đội và đời sống tâm linh chiều sâu.

BẢN GHI NHỚ

Sau phần hội thảo chung, Cha Phêrô Nguyễn Văn Hiền, Trưởng ban Giáo lý Toàn quốc đã tổng kết những hoa trái của Đại hội, được tóm kết trong BẢN GHI NHỚ với những định hướng thực hành sau:

1. Đặt Lời Loan báo đầu tiên (Kerygma) làm nền tảng của mọi hoạt động huấn giáo, giúp người học gặp gỡ Đức Kitô, bước vào tương quan cá vị với Người.

2. Chú trọng đến việc khai tâm nhiệm hiệp, nhằm đưa học viên từng bước đi vào mầu nhiệm cứu độ được cử hành trong phụng vụ và được diễn tả bằng đời sống chứng tá hằng ngày.

3. Thúc đẩy việc dạy giáo lý khởi đi từ gia đình, và được giáo xứ tiếp tục nâng đỡ, đồng hành;.

4. Thăng tiến việc giáo dục liên quan đến bảo vệ và chăm sóc công trình sáng tạo theo ánh sáng Học thuyết Xã hội của Giáo hội, nhằm giúp học viên có quan niệm đúng đắn và trách nhiệm đối với môi trường.

5. Khai thác cách khôn ngoan những giá trị tích cực của văn hóa kỹ thuật số, để phục vụ việc huấn giáo, mở ra những không gian gặp gỡ, đối thoại và nuôi dưỡng kinh nghiệm đức tin.

6. Cụ thể hóa những định hướng trên bằng việc tiếp tục nghiên cứu và từng bước biên soạn các giáo trình huấn giáo chung: giáo trình đào tạo giáo lý viên và giáo trình dạy giáo lý dành cho các đối tượng, đặc biệt là thiếu nhi.

TÂN BAN THƯỜNG VỤ TOÀN QUỐC VÀ BAN ĐIỀU HÀNH CÁC GIÁO TỈNH – NHIỆM KỲ 2026-2029

Trong dịp này, Đại hội cũng bầu lại Ban Thường vụ Giáo lý Toàn quốc và Ban Điều hành các giáo tỉnh, nhiệm kỳ 2026-2029. Kết quả như sau:

BAN THƯỜNG VỤ TOÀN QUỐC

Trưởng ban: Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hiền

Phó ban 1: Lm. Tôma Bùi Huy Cường

Phó ban 2: Lm. Gioan Baotixita Nguyễn Văn Liêm

Phó ban 3: Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Việt

Thư ký: Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Thảo

GIÁO TỈNH HÀ NỘI:

Lm. Tôma Bùi Huy Cường – Trưởng ban

Lm. Giuse Nguyễn Văn Tuyên – Phó ban

Lm. Giuse Tạ Minh Quý – Thư ký

GIÁO TỈNH HUẾ:

Lm. Gioan Baotixita Nguyễn Văn Liêm – Trưởng ban

Lm. Gioakim Nguyễn Tấn Đạt – Phó ban

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thương – Thư ký

GIÁO TỈNH SAIGON:

Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Việt

Lm. Giuse Trần Đức Liêm – Phó ban

Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Thảo – Thư ký

Cuối cùng là lời huấn từ và chúc mừng của Đức cha Gioan, Chủ tịch Ủy ban GIáo lý Đức tin gửi đến Ban Thường vụ mới của Ban Giáo lý Toàn quốc.

THÁNH LỄ TẠ ƠN – NGHI THỨC DẤN THÂN

Sau lời huấn từ của Đức cha Chủ tịch, các đại biểu cùng hiệp dâng Thánh lễ Tạ ơn bế mạc trong bầu khí trang nghiêm và sốt sắng của phụng vụ lễ Chúa Hiển Dung. Chủ tế là Đức cha Gioan Baotixita cùng với hai Giám mục đồng tế – Đức cha Gioan Đỗ Văn Ngân và Đức cha Giuse NGuyễn Đức Cường, với 98 linh mục và các tham dự viên khác của Đại hội cùng hon 60 ca viên là các em dân tộc.

Trong bài giảng, Đức cha Gioan Baotixita nhắc đến 3 chữ G, giúp các tham dự viên nhớ lại những thao thức và quyết tâm của Đại hội: Gặp gỡ – Gắn kết – Giới thiệu CHÚA GIÊSU.

RA VỀ TRONG HÂN HOAN

Đại hội khép lại, nhưng một hành trình mới lại được mở ra. Mỗi tham dự viên trở về giáo phận của mình mang theo không chỉ những bản đúc kết hay những định hướng, mà còn là ngọn lửa nhiệt thành, tinh thần dấn thân và khát vọng đổi mới để phục vụ công cuộc loan báo Tin Mừng.

Trong niềm tín thác, Đại hội phó dâng những kết quả bốn ngày làm việc vừa qua cho Thiên Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang và Chân phước Anrê Phú Yên, xin Người hoàn tất công trình tốt đẹp Người đã khởi sự, để việc huấn giáo tại Việt Nam ngày càng trở nên khí cụ hữu hiệu của công cuộc Loan báo Tin Mừng.

Bài viết: Md. Phạm Thúy & Lm. Micae Khắc Minh

Hình ảnh: Ban Truyền thông GP. BMT

Tác giả: Md Phạm Thúy & Lm. Micae Khắc Minh – Hình ảnh: BTT giáo phận BMT
Nguồn: Văn phòng Ủy ban Giáo lý Đức tin – giaolyductin.net