Dấu Vết Của Nước Nơi Khởi Nguồn Của Một Số Trình Thuật Kinh Thánh

Tượng Gudea, được gọi là “người cầm bình phun nước,” Tello (Girsu cổ đại), đá diorit, thời Tân-Sumer, triều đại Gudea (khoảng năm 2120 trước Công nguyên). Paris, Bảo tàng Louvre, Khoa Cổ vật Phương Đông. AO 22126.

Triển lãm tại Louvre (Pháp) về nước ở Lưỡng Hà địa cổ đại giúp chúng ta khám phá thế giới mà các tác giả Kinh Thánh từng nhìn thấy trước mắt. Nhà sử học nghệ thuật Pierre Téqui giải thích rằng khảo cổ học không làm mất đi giá trị của bản văn Kinh Thánh; trái lại, bằng cách cho thấy sự khác biệt, nó giúp chúng ta nhận ra điều mà Kinh Thánh đã giải thiêng hóa (désacraliser).

Triển lãm hiện đang được Louvre dành cho chủ đề nước ở Lưỡng Hà địa cổ đại. Tên gọi của cuộc triển lãm “Nước nguyên thủy. Những bài học từ Lưỡng Hà địa” có thể khiến người ta nghĩ đây chủ yếu là một triển lãm về lịch sử thủy lợi, kênh đào và những chính sách quản lý đầu tiên về nước. Nhưng “Lưỡng Hà” (Mésopotamie) – một từ về mặt nguyên nghĩa có nghĩa là “giữa các dòng sông” – không chỉ là không gian của thủy lợi và kỹ thuật. Đó cũng là nơi những thế giới tưởng tượng và biểu tượng đã được hình thành.

Nước mang lại sự sống

Độc giả Kinh Thánh sẽ có nhiều điều thú vị bất ngờ, bởi khi đi qua giữa những tấm bia, con dấu hình trụ, bảng đất sét và tượng đá, những hình ảnh quen thuộc lần lượt xuất hiện: sông Tigris và Euphrates, một khu vườn nguyên thủy, con người được tạo nên từ đất sét, một trận Đại Hồng Thủy nhấn chìm nhân loại, và cả một đứa trẻ bị bỏ lại trên dòng sông. Nước, một yếu tố thiết yếu đối với vùng Lưỡng Hà địa, là yếu tố có thể phán xét, cứu thoát, thanh tẩy hoặc ban sự sống. Trong một thời gian dài, người ta đã tìm kiếm tại vùng đất này những bằng chứng cho thấy sách Sáng Thế thuật lại theo nghĩa đen những sự kiện mà khảo cổ học có thể tìm thấy dấu vết. Tuy nhiên, việc đòi hỏi một tấm bia đá phải cung cấp những điều như thế quả là quá nhiều. Ngược lại, điều mà khảo cổ học và triển lãm này của Louvre giúp chúng ta tìm lại được còn thú vị hơn nhiều: đó là thế giới trí thức, tôn giáo và vật chất trong đó một số trình thuật Kinh Thánh đã được hình thành.

Dấu vết của nước nơi khởi nguồn của một số trình thuật Kinh Thánh - Image 01Chi tiết một mảnh bia đá: hai hàng bình chứa nước đang tuôn chảy. Tello (Girsu cổ đại), đá vôi, thời Tân-Sumer, triều đại Gudea (khoảng năm 2120 trước Công nguyên). Paris, Bảo tàng Louvre, các cuộc khai quật của Cros, 1905. AO 4584.

Kinh Thánh, xét cho cùng, không được viết ra trong một khoảng không tách biệt với lịch sử. Trong sách Sáng Thế, một con sông chảy ra từ Eden (vườn Địa đàng) rồi chia thành bốn nhánh: PishônGihônTigris và Euphrates. Hai trong số bốn con sông ấy tạo nên cấu trúc địa lý của vùng Lưỡng Hà địa. Hơn nữa, tên Eden gợi đến từ edin trong tiếng Sumer, dùng để chỉ đồng bằng hoặc thảo nguyên. Hình ảnh Kinh Thánh về một khu vườn được tưới nước dồi dào thuộc về một thế giới mà trong đó việc làm cho nước tuôn chảy giữa một vùng đất đôi khi khô cằn chính là một trong những điều kiện nền tảng của nền văn minh. Khi chúng ta nhìn thấy những vị thần cầm những chiếc bình từ đó nước tuôn trào, chúng ta đang chiêm ngưỡng một hình ảnh Lưỡng Hà địa rất cổ xưa, có thể liên hệ với những bản văn ngôn sứ trong đó nước tuôn ra từ Đền thờ Giêrusalem. Nơi các ngôn sứ Êdêkien, Giôen hay Dacaria, nước, giống như một dòng sông sự sống, thuộc về một ngôn ngữ thị giác và biểu tượng của vùng Cận Đông cổ đại.

Một nền tảng văn hóa chung

Nhưng mỗi lần như vậy, Kinh Thánh lại nói một điều khác. Trường hợp nổi tiếng nhất dĩ nhiên là Đại Hồng Thủy. Rất lâu trước khi câu chuyện về ông Nôê được đặt vào sách Sáng Thế, Lưỡng Hà địa đã có những trình thuật kể về việc nhân loại bị hủy diệt bởi nước. Trong Bản khắc XI của Sử thi Gilgamesh, Uta-Napishti kể lại cách ông sống sót qua một trận Đại Hồng Thủy do các vị thần muốn gây ra. Có một con thuyền, gần như toàn thể nhân loại biến mất, và sau khi thảm họa kết thúc, những con chim được thả ra để xem nước đã rút hay chưa. Louvre nhắc chúng ta rằng những trình thuật cổ xưa nhất được biết đến về Đại Hồng Thủy đã xuất hiện tại vùng đất thường xuyên phải hứng chịu những trận lũ tàn phá này.

Có phải từ đó chúng ta phải kết luận rằng trình thuật Kinh Thánh chỉ đơn giản là một bản sao của Gilgamesh? Câu trả lời là không. Bởi nếu những điểm tương đồng cho chúng ta biết về một nền tảng văn hóa chung, thì những khác biệt lại giúp chúng ta hiểu Kinh Thánh muốn nói điều gì. Trong thế giới Lưỡng Hà địa, nước thuộc về một vũ trụ đầy những quyền lực thần linh. Enuma Elish thậm chí còn kể rằng thế giới được sinh ra từ cuộc đối đầu của những nguồn nước nguyên thủy: Apsû, nước ngọt, và Tiamat, nước mặn. Thân thể của Tiamat sau khi bị đánh bại được dùng để hình thành vũ trụ; từ đôi mắt của bà, sông Tigris và Euphrates tuôn ra. Còn trong sách Sáng Thế, nước không còn là một vị thần. Bởi dù Kinh Thánh tiếp nhận rất nhiều hình ảnh quen thuộc của vùng Cận Đông cổ đại, nhưng Kinh Thánh đã biến đổi chúng một cách triệt để khi đưa chúng vào niềm tin nơi một Thiên Chúa duy nhất. Không còn tồn tại một vị thần của dòng sông, một vị thần của nước ngọt hay một quyền lực biển cả mà con người phải tìm cách xoa dịu. Thiên nhiên được giải thiêng hóa: nước vẫn có thể mang lại sự sống, nguy hiểm, thanh tẩy hoặc cứu thoát, nhưng giờ đây nước là tạo vật của Thiên Chúa và chịu quyền Thiên Chúa.

Dòng sông không còn là một vị thần

Ví dụ rõ nhất về điều này là câu chuyện Môsê. Trình thuật về đứa trẻ được đặt trong một chiếc giỏ trên sông Nin có những điểm tương đồng rõ rệt với một truyền thuyết rất cổ về Sargon xứ Akkad, cũng là một đứa trẻ bị bỏ lại trên dòng nước trước khi được cứu sống. Nhưng trong trình thuật Kinh Thánh, dòng sông không còn cứu đứa trẻ do chính quyền lực thần linh của nó. Môsê đơn giản được đặt trên mặt nước và được người khác vớt lên. Dòng sông đã không còn là một vị thần.

Dấu vết của nước nơi khởi nguồn của một số trình thuật Kinh Thánh - Image 02Con dấu hình trụ: một tùy tùng của thần Enki, khỏa thân, tóc xoăn, đứng giữa những dòng nước tạo thành bởi các xoáy nước nhỏ. Đá hematit, Lưỡng Hà, thời Trung-Assyria, khoảng 1550-1350 trước Công nguyên. Paris, Bảo tàng Louvre, quà tặng Boisgelin, 1967 (bộ sưu tập De Clercq trước đây). AO 22339.

Điều tương tự cũng xảy ra với vấn đề công lý. Bộ luật Hammurabi quy định một hình thức thử tội trong đó người bị cáo phải lao xuống “vị thần-sông”: nếu sống sót, dòng sông đã tuyên bố người ấy vô tội. Kinh Thánh vẫn còn lưu giữ, trong sách Dân Số, một nghi thức kỳ lạ về thứ “nước đắng,” nhằm phân xử một lời cáo buộc ngoại tình. Nhưng đây đã không còn là cùng một hệ thống tôn giáo nữa.

Khảo cổ học không làm mất đi giá trị của bản văn Kinh Thánh

Một số người có thể cảm thấy bối rối khi phát hiện rằng đã có một trận Đại Hồng Thủy trước Nôê, một đứa trẻ được cứu khỏi nước trước Môsê, hay những dòng sông thiên đường trước Eden trong Kinh Thánh. Ngược lại, đối với tôi, điều đó thật đáng kinh ngạc. Bởi khảo cổ học không làm mất đi giá trị của bản văn Kinh Thánh. Nó chỉ ngăn chúng ta tưởng tượng Kinh Thánh như một câu chuyện từ trời rơi xuống, không có ngôn ngữ, không có văn hóa và không có lịch sử. Các tác giả Kinh Thánh biết đến những câu chuyện, những hình ảnh, những phong cảnh và những truyền thống. Họ biết sông Euphrates khi nước lũ dâng cao là như thế nào, biết một kênh thủy lợi ra sao, biết một vùng đất khô cằn, biết nỗi sợ hãi trước một dòng sông. Họ thừa hưởng những hình thức biểu tượng rất cổ xưa và biến đổi chúng để diễn tả kinh nghiệm của họ về Thiên Chúa.

Khảo cổ học Kinh Thánh không phải là một cuộc săn lùng cuống cuồng chiếc tàu của Nôê, cũng không phải là việc tìm kiếm những “bằng chứng” nhằm trấn an đức tin của chúng ta. Đó là sự học hỏi kiên nhẫn về thế giới trong đó Mặc Khải đã được đón nhận, suy tư và viết thành văn. Tại Louvre, triển lãm về Lưỡng Hà địa này không nói với chúng ta rằng Kinh Thánh đã đúng. Nó cho chúng ta thấy thế giới mà các tác giả Kinh Thánh đã nhìn thấy trước mắt.

Tác giả: Pierre Téqui – Nguồn: Aleteia (10/9/2026)

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Nguồn: giaophanvinhlong.net