
Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
1 Thời ấy, vua Hê-rô-đê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. 2 Nhà vua đã cho chém đầu ông Gia-cô-bê là anh ông Gio-an. 3 Thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa. Bấy giờ đang là tuần lễ Bánh Không Men. 4 Bắt được rồi, nhà vua truyền tống ngục và giao cho bốn tốp lính canh gác, mỗi tốp gồm bốn người, định sau lễ Vượt Qua sẽ điệu ông ra cho dân chúng. 5 Đang khi ông Phê-rô bị giam giữ như thế, thì Hội Thánh không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông.
6 Trong đêm trước ngày bị vua Hê-rô-đê đem ra xử, ông Phê-rô ngủ giữa hai người lính, và bị khoá vào hai cái xiềng. Trước cửa ngục lại có lính canh. 7 Bỗng thiên sứ của Chúa đứng bên cạnh ông, và ánh sáng chói rực cả phòng giam. Thiên sứ đập vào cạnh sườn ông Phê-rô, đánh thức ông và bảo : “Đứng dậy mau đi !” Xiềng xích liền tuột khỏi tay ông. 8 Thiên sứ nói tiếp : “Thắt lưng lại và xỏ dép vào !” Ông làm như vậy. Rồi thiên sứ lại bảo ông : “Khoác áo choàng vào và đi theo tôi !” 9 Ông liền theo ra, mà không biết việc thiên sứ làm đó có thật hay không, cứ tưởng là mình thấy một thị kiến. 10 Qua vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, thiên sứ và ông tới trước cửa sắt thông ra phố. Cửa tự động mở ra trước mặt hai người. Ra đến ngoài, đi hết một đường phố, thì bỗng nhiên thiên sứ bỏ ông mà đi. 11 Lúc ấy ông Phê-rô mới hoàn hồn và nói : “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê, và khỏi mọi điều dân Do-thái mong muốn tôi phải chịu.”
Đ.Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
2Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa,
câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.3Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa
xin các bạn nghèo nghe tôi nói mà vui lên.
Đ.Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
4Hãy cùng tôi ngợi khen Đức Chúa,
ta đồng thanh tán tụng danh Người.5Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại,
giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
Đ.Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
6Ai nhìn lên Chúa sẽ vui tươi hớn hở,
không bao giờ bẽ mặt hổ ngươi.7Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời,
cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn.
Đ.Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
8Sứ thần của Chúa đóng trại chung quanh
để giải thoát những ai kính sợ Người.9Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy :
hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người !
Đ.Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng.
Tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi ông Ti-mô-thê.
6 Anh thân mến, phần tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. 7 Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. 8 Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính ; Chúa là vị Thẩm Phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày ấy, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.
16b Mọi người đã bỏ mặc tôi. 17 Nhưng có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng. 18 Và tôi đã thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Chúa sẽ còn cho tôi thoát khỏi mọi hành vi hiểm độc, sẽ cứu và đưa tôi vào vương quốc của Người ở trên trời. Chúc tụng Người vinh hiển đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Ha-lê-lui-a.
Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.”
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Giuse Vũ Văn Thiên
Bàn thạch Phê-rô trường tồn thay!
Đồng trụ Phao-lô trường tồn đây!
Đó là lời trích từ bài thánh ca của nhạc sĩ Hùng Lân và Hùng Thái Hoan mang tựa đề “Hai người tiên phong”. Lời của bài thánh ca diễn tả vai trò quan trọng của hai vị Tông đồ đối với Giáo hội, là cộng đoàn do Chúa Giê-su thiết lập. Phê-rô được ví như bàn thạch; Phao-lô được sánh như trụ đồng. Chúa Giê-su đã nói với Phê-rô: “Anh là Kê-pha, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Người cũng nói với Phao-lô: “Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm đầy tớ và làm chứng nhân về những điều ngươi đã thấy, cũng như những điều ta sẽ hiện ra mà tỏ cho ngươi biết” (Cv 26,16). Phao-lô luôn ý thức ơn Chúa gọi, và ông đã khẳng định: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại” (Gl 1,15-16).
Dù còn mang nhiều yếu tố nhân loại, Giáo hội Ki-tô không phải là công trình của con người, nhưng là công trình của Thiên Chúa. Thiên Chúa có kế hoạch của Ngài trong việc thiết lập và điều khiển cộng đoàn những người tôn thờ Chúa. Qua hai vị tông đồ là Phê-rô và Phao-lô, chúng ta thấy sự kỳ diệu của chương trình này. Nếu Phê-rô là bàn thạch của ngôi nhà Giáo hội, thì Phao-lô là trụ đồng để nâng đỡ ngôi nhà đó. Không có bàn thạch, ngôi nhà không thể bền vững với thời gian; không có trụ đồng, ngôi nhà không thể che chắn bão mưa giăng đầy. Qua các thư, nhất là thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô đã trình bày một hệ thống giáo lý chắc chắn và có sức thuyết phục đối với người Do Thái cũng như dân ngoại. Ông khẳng định: “Ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Mô-sê. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai” (Rm 3,21-22). Với khẳng định này, Phao-lô đã đưa nhân loại sang một trang sử mới, đó là trang sử được viết bằng máu Đức Giê-su và chiến thắng của Người trên sự chết.
Nếu Phê-rô, vốn là một người dân chài đơn sơ chất phác, hăng hái làm chứng về Đức Giê-su phục sinh, thì Phao-lô, một người uyên bác đã học theo trường phái Ga-ma-li-en (x.Cv 22,30), lại ưu tư xây dựng một hệ thống giáo lý với mục đích trình bày kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa nay đã được thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô.
Nếu Ki-tô giáo chỉ có Phê-rô, có thể Giáo hội chỉ đến với giới bình dân và giới hạn nơi người Do Thái; Nếu Ki-tô giáo chỉ có Phao-lô, Giáo hội sẽ chỉ có những người uyên thâm trí thức. Hai vị thánh này đã tạo nên một hình ảnh hài hòa đa chiều về cộng đoàn tín hữu do Chúa Giê-su thiết lập. Sự hài hòa ấy được diễn tả trong Kinh Tiền tụng của ngày lễ: “Thánh Phê-rô là người đầu tiên tuyên xưng đức tin, thánh Phao-lô là người làm sáng tỏ đức tin. Thánh Phê-rô thiết lập Hội thánh tiên khởi cho người Ít-ra-en, thánh Phao-lô là thầy giảng dạy muôn dân”. Chính việc “làm sáng tỏ đức tin” này đã làm cho Phao-lô trở thành cột trụ vững chắc của Giáo hội, nhất là khi phải đối diện với thù trong giặc ngoài. Khởi đi từ giáo huấn của thánh Phao-lô, Giáo hội có thể đối thoại với mọi nền văn hóa và mọi thời đại.
Để trung thành với sứ mạng Chúa Giê-su trao phó, hai vị thánh tông đồ của chúng ta đã đều chấp nhận cái chết. Cuộc tử đạo của các ngài đã làm nên sức mạnh của cộng đoàn tín hữu tiên khởi. “Tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính”. (2 Tm 6-8). Những lời trải lòng của Phao-lô với người môn sinh của mình đã cho thấy ông luôn sẵn sàng chấp nhận hy sinh làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa. Vị Tông đồ luôn xác tín vào quyền năng và tình yêu thương của Thiên Chúa, chắc chắn sẽ được đón nhận phần thưởng thiên quốc, vì suốt đời ông đã chiến đấu cho chính nghĩa.
Ngày lễ hôm nay vừa nhắc lại nền tảng vững chắc của Giáo hội Chúa Ki-tô, vừa mời gọi mỗi tín hữu hiệp thông với Đức Giáo hoàng Rô-ma, người kế vị thánh Phê-rô để lãnh đạo Giáo hội. Phụng vụ cũng mời gọi chúng ta noi gương các ngài để chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa, làm cho vương quốc của Thiên Chúa lan rộng trên trần gian. Mỗi Ki-tô hữu là một tông đồ, tức là người được sai đi để loan báo Lời Chúa. Nhờ lời chuyển cầu của hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, xin cho chúng ta có sức mạnh và nhiệt tình để thực thi sứ vụ cao cả này.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh
THÁNH PHÊRÔ Và THÁNH PHAOLÔ
Đại lễ kính thánh Phêrô và Phaolô hôm nay nhắc chúng ta nhớ tới hai cột trụ của Giáo Hội Rôma, Giáo Hội đặc biệt tôn kính hai gương mặt nầy. Giáo hội đã mở năm thánh Phaolô từ 28.6.2008 đến 29.6.2009, kỷ niệm 2.000 năm sinh nhật của thánh Phaolô, vị Tông Đồ Dân Ngọai, một gương mặt vượt trội của Giáo Hội ban sơ. Chúng ta suy niệm hai gương mặt sáng chói nầy.
Thánh Phaolô thuộc gia đình Do thái, gia nhập phái Pharisêu, sinh trưởng tại Tạc-xô, đất nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Ngài còn có tên là Saolô, tên gọi trước khi trở thành tông đồ của Đức Giêsu. Chính xác thì không rõ ngài sinh năm nào, có lẽ ngài trẻ hơn Đức Giêsu mươi tuổi. Ngài đã có mặt trong cuộc hành quyết phó tế Têphanô (Cv 7, 58), giữ áo choàng cho những người ném đá Têphanô.
Là người thông minh có văn hóa Hy-La, lớn lên tại Giêrusalem theo học với sư phụ Gamalien, rất nhiệt thành với Do thái giáo, giữ luật lệ nghiêm nhặt, nhiệt thành đến cuồng tín, cho nên khi nghe một tôn giáo mới ra đời, ngài là người hăng say đi bắt bớ các Kitô hữu, cho rằng Kitô giáo là một lạc giáo nguy hiểm cần tiêu diệt để bảo vệ tôn giáo độc thần của người Do thái.
Trên đường đi đến thành Đamát, thi hành lệnh bắt bớ các Kitô hữu, ngài đã bị quật ngã (Cv 9). Cuộc gặp gỡ kỳ lạ nầy đã biến con sói hung dữ thành chiên con ngoan hiền, không những thế ngài đã trở nên vị Tông Đồ Dân Ngọai không ai sánh kịp. Bốn cuộc hành trình truyền giáo của ngài, cũng như các Thư Mục Vụ của ngài minh chứng vị thế vô song trong truyền giáo thời Giáo Hội tiên khởi.
Bốn sách Tin Mừng ghi lại các lời Đức Giêsu nói và các việc Đức Giêsu làm để mặc khải mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, còn Sách Công Vụ Tông Đồ là lời các tông nói và việc các tông đồ làm để rao giảng Tin Mừng cứu độ. Thật vậy Sách Công Vụ được chia làm hai phần: phần đầu là Tin Mừng trong thế giới Do Thái, mà khuôn mặt chói sáng là Phêrô, thì phần thứ hai được gọi là Tin Mừng trong thế giới Dân Ngoại, khuôn mặt vượt trội là Phaolô.
Về Thánh Phaolô. Sau buổi đầu bị các Kitô hữu nghi ngời về tư cách trung thực của Saolô, lý do là Saolô đột ngột tin theo Đức Giêsu, và tức thì ngay sau đó bắt đầu rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu, ngài làm việc gần như độc lập mà không được bản quyền tại Giêrusalem sai phái. Nhờ sự giới thiệu rất uy tín của thánh Banaba, các tông đồ tại Giêrusalem chấp nhận và đón tiếp thánh Phaolô, từ đó ngài được Giáo Hội tin tưởng.
Ngài đã có uy tín và lập trường rõ rệt trong Công Đồng Giêrusalem họp vào năm 49-50 để giải quyết việc không cắt bì cho anh em lương dân trở lại đạo Kitô, việc nầy tách biệt Kitô giáo ra khỏi Do thái giáo. Ngài đã được Đức Giêsu Kitô phục sinh kêu gọi và đặt làm Tông Đồ Dân Ngọai: “Hãy tách riêng Banaba và Saolô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm” (Cv 13, 2). Từ đó công việc truyền giáo gần như độc lập của ngài quay sang dân ngọai. Bốn hành trình truyền giáo của thánh Phaolô được ghi lại từ chương 13 sách Công Vụ Tông Đồ trở về sau.
Về Thánh Phêrô. Trong Bài Tin Mừng (Mt 16,13-19) Đức Giêsu đã phỏng vấn các môn đệ để biết thiên hạ nghĩ gì về mình và môn đệ nghĩ gì về Thầy của họ. “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Thánh Phêrô đã phát biểu thay cho anh em : “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (câu 16), trên niềm tin đó Đức Giêsu thiết lập Hội Thánh của Người. Thánh Phêrô có gia đình, làm nghề thuyền chài, được gọi đầu tiên trong các tông đồ, được giao quyền chìa khóa tức là quyền cầm buộc, được diện kiến Đức Giêsu trong cuộc hiển dung, có mặt trong vườn Dầu, hăng hái và nhiệt thành, nhưng có lúc nông nỗi, đã chối Thầy 3 lần. Sau khi sống lại Đức Giêsu đã ba lần hỏi Phêrô con có yêu mến Thầy không, như cho Phêrô cơ hội tuyên xưng và xác tín lòng yêu mến của mình.
Theo truyền thuyết trong cuộc bách hại đạo của vua Nêron vào đầu thế kỷ thứ nhất, ngài đã muốn bỏ trốn khỏi thành Rôma, nhưng vừa đi tới cổng thành, ngài gặp Đức Giêsu vác thập giá đi vào thành. Ngài hỏi Chúa “Quo Va Dis?” , (Thầy đi đâu?), Đức Giêsu trả lời : Thầy vào thành để chết thay cho con một lần nữa. Tức thì Phêrô quay lại đi vào thành Rôma và chấp nhận chịu đóng đinh làm chứng cho Thầy.
Còn thánh Phaolô trả lời câu hỏi của Thầy bằng chính cuộc sống của mình: “Đối với tôi sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi. Tôi không biết gì khác ngoài Đức Giêsu bị đóng đinh vào thập giá” (1Cr 2, 2). Cả hai vị khác nhau trong hành trình ơn gọi, trong văn hóa, trong cách giảng dạy, trong chức vụ … Nhưng đã gặp nhau trong hết mình rao giảng Tin Mừng, trong chịu đựng gian khổ, lấy máu đào làm chứng đức tin.
Thân lạy hai thánh Phêrô và Phaolô, xin cho con biết tuyên xưng bằng lời và bằng cuộc sống làm chứng cho Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu chuộc nhân lọai. Amen
(Lm Luy Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku)
___________________________________
Suy niệm 3: Lm. Thái Nguyên
HAI CỘT TRỤ GIÁO HỘI
Suy niệm
Hôm nay toàn thể Giáo Hội mừng kính thánh Phêrô và Phaolô, hai cột trụ nâng đỡ tòa nhà Giáo Hội. Hai con người rất khác biệt về xuất thân, văn hóa và hành trình đức tin, nhưng lại giống nhau trong một tình yêu nồng nàn dành cho Đức Kitô, và lòng trung thành đến cùng trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, bất chấp những gian lao thống khổ.
Phêrô, có tên gốc là Simon, người Galilê làm nghề chài lưới, ít học, đã lập gia đình, sống ở Caphanaum bên hồ Tibêria. Về ơn gọi thì Phêrô thuộc hệ chính quy, thuộc nhóm những môn đệ đầu tiên mau mắn đáp lại lời Đức Giêsu. Ông thuộc dạng người trực tính, nhiệt tình, hăng hái, thường lên tiếng phát biểu thay cho cả nhóm. Sau khi tuyên xưng “Thầy là Đức Kitô”, ông được đổi tên Simon thành Phêrô, tiếng Aram gọi là Kêpha, nghĩa là Tảng Ðá, nói lên sứ mạng Chúa giao cho ông, là làm nền cho Hội Thánh của Ngài. Vì đã quá tin vào sức mình mà ông đã sa ngã và chối Thầy. Dù vậy, Ðức Giêsu vẫn chọn ông đứng đầu nhóm Mười Hai. Đồng thời Chúa Giêsu cũng giao cho ông “chìa khóa” Nước trời, nói lên quyền tối thượng của vị lãnh đạo trong dân thánh Chúa. Sau khi phục sinh, Ðức Giêsu đã hiện ra cho ông trước tiên (1Cr 15,5), và giao cho ông chăn dắt đoàn chiên của Ngài (Ga 21,15-17).
Còn Phaolô trước khi trở lại đã tự hào xưng mình là người “thuộc dòng dõi Israel, họ Bengiamin, là người Hípri, giữ luật thì đúng như một người Pharisêu; nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi” (Pl 3,5-6). Nhưng rồi sau cuộc ngã ngựa trên đường Đamas thì con người Phaolô hoàn toàn thay đổi: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi… và tôi coi tất cả như không đáng kể, để được Đức Kitô” (Pl 3,7-8). Ông tự nhận: “Tôi là dân sinh sau đẻ muộn”, nhưng đã được biến thành “dụng cụ ưu tuyển” để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc (Cv 9, 1-22), với danh hiệu là “Tông đồ của dân ngoại”, như chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay: “Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến” (2Tm 4, 17-18).
Cả hai vị đều có hoàn cảnh và cuộc sống rất khác nhau, nhưng cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Đức Giêsu. Cả hai đều đã có lần vấp ngã, nhưng nhờ đó mà có một định hướng mới. Phêrô và Phaolô đều yêu Ðức Giêsu cách nồng nhiệt, vì họ cảm nhận sâu xa tình yêu của Ngài. Phêrô đã nói lên “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,16). Phaolô cũng thốt lên: “Đức Kitô đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”. (Gl 2, 20). Cả hai đều sống chết vì Chúa trên con đường sứ mạng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (Cv 5,40), còn gian nan của Phaolô thì không sao kể xiết (2Cr 11, 23-28).
Chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng dẫn đưa Phêrô tới Roma, nơi đây ngài đổ máu như chứng tá sau cùng và cao cả nhất của đức tin và của lòng mến đối với Thầy. Phần Phaolô, trong hành trình truyền giáo, không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đinh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticanô; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.
Thánh Phêrô và Phaolô – hai con người một trái tim – được Giáo Hội mừng lễ chung vào 29 tháng 6, đã nên hai vì sao sáng ngời của Hội Thánh. Hai ngài đã trở nên nền tảng của sự hiệp nhất trong dân thánh Chúa. Hôm nay Chúa vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới để tiếp tục xây dựng Hội Thánh, mang ơn cứu độ cho mọi người là chính chúng ta.
Dù yếu đuối và đã nhiều lỗi lầm, thì điều quan trọng là mỗi người chúng ta hãy nhận ra sứ mạng của mình là làm chứng cho Chúa bằng một đức tin kiên cường giữa thời đại nhiều bóng tối và hoài nghi. Hãy dám làm một cuộc hoán cải và đổi đời như Chúa mong đợi. Dù chọn lựa đường hướng hay ơn gọi trong bậc sống nào chăng nữa, thì bản chất của người Kitô hữu vẫn là những con người dám bỏ, dám theo và dám yêu, dám sống và dám chết cho Ðức Kitô và Tin Mừng.
Cũng như Phêrô và Phaolô, chúng ta rất khác biệt nhau về nhiều phương diện, nhưng lý tưởng và cùng đích của chúng ta cũng chỉ là một: là chính Đức Kitô. Lời tuyên tín của thánh Phêrô và thánh Phaolô phải là lời tuyên xưng của mỗi người chúng ta: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). “Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô” (Pl 3, 8).
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu!
Có ai ngờ Phê-rô người chài lưới,
lại trở thành vị lãnh đạo lớn lao,
cho dù không tài cao hay đức trọng,
mà chính vì Chúa đã đoái trông.
Nhìn về Phao-lô cũng gần như thế,
tuy thân thế có nhiều điều đáng nể,
nhưng nếu như không được Chúa kéo về,
thì đời cũng tan chìm trong bến mê.
Nhìn ngắm thánh Phê-rô và Phao-lô,
tuy hai vị có khác nhau nhiều chỗ,
nhưng giống nhau là tình yêu cao độ,
đã làm nên điều cốt yếu của Tông đồ.
Chính tình yêu sẽ làm nên tất cả,
với tình yêu con mới dám vượt qua,
như chính Chúa một chiều trên thập giá,
hiến dâng Cha để cứu chuộc loài người.
Tuy hai vị đã có lần vấp ngã,
nhưng sau đó đã thay đổi hoàn toàn,
cả một đời chịu khốn khổ gian nan,
cuối cùng đã hiến dâng mạng sống mình.
Nơi mỗi người Chúa có một đường lối,
nhưng quan trọng là con cần thay đổi,
sống phù hợp với ý Chúa mọi nơi,
để làm nên cuộc sống mới cao vời.
Xin cho con lòng yêu mến tràn đầy,
để Chúa là tất cả kể từ đây,
xin cho con ra khỏi “cái tôi” này,
để trọn đời hăng say phụng sự Chúa. Amen.
Lm. Thái Nguyên
(Nguồn: gpcantho.com)
______________________________
Suy niệm 4: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
“Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18).
Quý ông bà và anh chị em thân mến,
Khi chiêm ngắm cuộc đời và sứ vụ của hai vị Thánh Tông Đồ cao cả nhất của Giáo Hội Công giáo, tôi xin mạn phép chia sẻ hai tâm tình về hai vị thánh như sau:
Thứ nhất, sự đối nghịch của hai vị thánh trụ cột trong Hội Thánh. Thánh Phêrô xuất thân từ một người bình dân, một ngư dân bám biển và ít học. Thánh Phaolô xuất thân từ gia đình quyền thế (công dân Rôma), được ăn học tử tế, biết luật và có tài hùng biện (Cv 22:3; Pl 3:5-6). Phêrô truyền giáo cho người Do Thái; còn Phaolô truyền giáo cho dân ngoại. Phêrô được chọn làm Giáo Hoàng tiên khởi: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16:18). Nhưng Phaolô lại là người viết những quyển sách đầu tiên cho bộ Tân Ước qua các lá thư gửi cho các giáo đoàn cũng như cá nhân của những người môn đệ Chúa Kitô.
Với một vài nét khác biệt trên, tôi thiết nghĩ cũng giúp chúng ta suy niệm chút ít về cuộc đời và ơn gọi, cũng như sứ vụ của từng người chúng ta. Thánh Phêrô ít học những được chọn làm thủ lãnh. Chẳng có ai dạy ngài làm lãnh đạo cả! Cũng thế, chẳng có ai dạy thánh Phaolô cách truyền giáo hết! Vâng, không có ai cả, ngoài Thiên Chúa qua sự hướng dẫn của Thánh Thần và tấm gương sáng ngời của Chúa Kitô, cùng với tâm hồn yêu mến sứ mạng còn dang dở của Chúa và kinh nghiệm thiết thân về Chúa. Phần chúng ta, những môn đệ “sinh sau đẻ muộn” của Chúa Kitô, cũng thường bắt gặp những điều nghịch lý này, nhưng lại là điều minh chứng cho sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Chúng ta được trao sứ vụ này, trọng trách kia… mà chưa có một kinh nghiệm hay một sự hiểu biết gì về lãnh vực đang đảm nhiệm, ngay cả người lập gia đình nhưng cũng ít ai trải qua khoá học làm cha làm mẹ. Chúng ta có nghiệm thấy bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, và học cách thi hành sứ vụ theo gương của Chúa Kitô không?
Điểm thứ hai, tôi muốn chia sẻ, đó là sự giống nhau của hai vị thánh. Cả hai vị đều là những người tội lỗi. Thánh Phêrô bốc đồng và đã từng chối Chúa, chối Đạo. Thánh Phaolô thì hăng hái bách hại Đạo, đã vui sướng khi thấy người tin Chúa phải đổ máu. Ấy thế mà, cả hai người đều đã trở thành những vị thánh ảnh hưởng trên cả Giáo Hội, trở thành chỗ dựa cho các tín hữu tiên khởi, và làm cho Danh Chúa được cả thế giới biết đến. Điểm giống nhau này của hai vị thánh phản chiếu chân dung của mỗi người chúng ta. Chỉ có điều, hai vị đã trở thành Thánh mẫu mực, còn chúng ta thì chưa, vẫn đang trên đường nên thánh. Chỉ có điều, hai vị thánh đều ý thức rõ con người tội lỗi của mình và biết nương tựa vào lòng Chúa thương xót; còn chúng ta, chúng ta vẫn chần chừ, lưỡng lự tìm nương tựa nơi Chúa, đôi khi lầm tưởng mình rất thánh thiện và sống đẹp lòng Chúa và giỏi giang lắm lắm. Để trở thành Tông đồ đích thực của Chúa, có khả năng làm chứng cho Chúa bằng cả tính mạng, cả hai vị Tông đồ Phêrô và Phaolô đều có kinh nghiệm rất sâu về Chúa, thậm chí có cả kinh nghiệm của Chúa như chịu bách hại, chịu đau khổ, chịu nhục mạ… vì làm chứng cho Tin Mừng và Sự Thật.
Qua những nét tương đồng và tương phản của hai vị thánh đáng kính mà cả Giáo Hội mừng lễ hôm nay, chúng ta học được gì nơi các ngài, và Chúa muốn gửi thông điệp gì tới chúng ta? Phải chăng Chúa muốn chúng ta hoán cải và nên thánh như hai vị cột trụ của Hội Thánh? Phải chăng chúng ta cần Chúa gửi tặng “con gà” để thức tỉnh sự lầm lạc hoặc “con ngựa” để đảo ngược tình thế – chống đối thành quy phục – nhờ đó chúng ta thuộc trọn vẹn về Chúa? Phải chăng chúng cần có kinh nghiệm của Chúa và đào sâu kinh nghiệm ấy mỗi ngày? Phải chăng Chúa muốn chúng ta hãy tin vào Người, hãy để Người dẫn dắt, dạy dỗ và trao ban sứ mạng cho chúng ta, cũng đừng sợ vì quá khứ đen tối, như hình ảnh hai thánh Tông đồ cột trụ của Giáo hội đã khích lệ chúng ta rằng “mỗi vị thánh đều có một quá khứ, mỗi hối nhân đều có một tương lai”? Phải chăng, chúng ta còn thiếu lòng tin vào Chúa, chưa nhận ra con người thật của mình, sống dựa vào bản thân và sức lực của chính mình, mà thiếu sự tín thác vào Chúa quan phòng? Chúng ta sẽ xin ơn gì để trở nên người chứng cho Tin Mừng bằng cả tính mạng của mình hoặc trở nên chỗ dựa tinh thần (đá tảng) cho người khác như gương của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô?
Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!
TB: Nhân dịp Giáo hội cử hành đại lễ kính hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, con nguyện chúc quý Sr Dòng Phaolô và những vị có quan thầy là thánh Phêrô hoặc Phaolô được nhiều ơn thánh Chúa để trở nên những người chứng cho Tin Mừng bằng cả tính mạng của mình và trở nên chỗ dựa tinh thần (đá tảng) cho người khác. Amen.
(Gp Kon Tum)