
Nội dung
Dẫn nhập
i. “văn hóa” từ ngữ được đắc dụng và bị lạm dụng
ii. ba tiền tố của thuật ngữ văn hóa
iii. công cuộc hội nhập văn hóa của tin mừng
iv. công cuộc hội nhập văn hóa của đời tu
v. cuộc nhập thể của Đức Kitô – mẫu thức cho cuộc hội nhập văn hóa của các tu sĩ
vi. những chuyển biến về địa dư của các cộng đoàn tu trì đòi hỏi những chuyển biến về văn hóa
vii. người tu sĩ trong động lực của công cuộc hội nhập văn hóa
viii. tính đa dạng văn hóa trong các cộng đoàn tu trì
ix. tôi là kẻ xa lạ trong nhà cha tôi
x. huấn luyện hội nhập văn hóa
dẫn nhập
Hội nhập văn hóa là một trong những chủ đề thời sự nhất tại Thượng Hội Đồng Giám Mục 1994 (về Đời Sống Thánh Hiến) – như được thấy rõ từ Bản Báo Cáo Thứ Nhất của Hồng Y B. Hume cho đến Bản Đề Nghị chung kết đệ trình Giáo Hoàng.
Trước đó, trong Tài Liệu Làm Việc, hội nhập văn hóa vốn đã được thảo luận cặn kẽ, qui chiếu đến mọi góc cạnh của đời sống thánh hiến:
qui chiếu đến đặc sủng riêng của một ơn gọi, đến lối sống, đến những đường lối huấn luyện, những cách thức hoạt động tông đồ, đến đời sống cầu nguyện và phụng vụ, đến các nguyên tắc linh đạo, và đến việc tổ chức cộng đoàn. (1)
Hội nhập văn hóa không giới hạn duy chỉ trong việc vận dụng các tập tục. Đúng hơn, nó đòi hỏi
phải có một chuyển hóa thâm sâu trong não trạng và trong lối sống của người ta.Nó liên can không chỉ đến các Giáo Hội mới, mà còn cả đến những thay đổi đang diễn ra trong các nền văn minh tây phương nữa.Thực vậy, những cơ cấu đời sống thánh hiến được thiết lập trong các xã hội nông thôn thời Trung Cổ hay trong giai đoạn cách mạng công nghiệp của những thế kỷ vừa qua dường như không luôn luôn phản ảnh được những nhu cầu và khát vọng của con người hiện đại. (2)
Hội nhập văn hóa không những phải tôn trọng các yếu tố thiết cốt của đời sống thánh hiến nói chung (3) mà còn phải tôn trọng bản sắc của đặc sủng mà mỗi hội dòng kế thừa từ vị sáng lập của mình. “Người ta có thể nói rằng hội nhập văn hóa trở thành một đặc nét của đời sống thánh hiến – theo mỗi bối cảnh cụ thể. Đôi khi đặc nét đó chính là sự tiếp tục duy trì bản sắc văn hóa; song có những khi – do phải trình bày tính mới mẻ của Tin Mừng – đặc nét đó thậm chí bộc lộ ra nơi một sự đoạn tuyệt cái cũ và thay thế bằng cái mới.” (4)
Trong Bản Báo Cáo Thứ Hai đệ trình các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng, chính Hồng Y B. Hume ghi nhận rằng “từ ngữ hội nhập văn hóa đã không ngừng được sử dụng đến trong hai tuần lễ vừa qua. Các Nghị Phụ và toàn thể cử tọa đã nhắc đi nhắc lại những kinh nghiệm tương đối tích cực liên quan đến các sáng kiến của những người sống đời thánh hiến cố gắng sống sự thánh hiến của mình một cách hoàn toàn trung thành với đoàn sủng nguyên thủy và – trong hiện tại – trung thành với việc nhập thể thực sự vào các nền văn hóa địa phương.” (5)
Một trong những đề nghị mà Thượng Hội Đồng đệ trình Đức Thánh Cha (6) đã vạch ra ba khía cạnh mà cuộc hội nhập văn hóa của đời sống thánh hiến phải bao hàm:
1. Đời sống thánh hiến cần phải được hội nhập văn hóa vừa nhằm để quảng bá cho chính lối sống này vừa để phục vụ cho chất lượng của chứng tá Phúc Aâm mà lối sống này có bổn phận phải trao cho thế giới. Đời sống thánh hiến đích thực – tự thân nó – vốn là một công cuộc “Phúc Aâm hóa nền văn hóa.” Nó là một cái gì đầy sống hoạt, đòi hỏi sự kiên trì và sự từ bỏ. Nó là sự ‘tự hủy ’của Đức Kitô, trao hiến chính sự sống mình để cho anh chị em mình được sống. Nó đòi hỏi công việc biện phân hết sức nghiêm túc. Nó đặt nền tảng trên việc đi theo Đức Kitô, trên mầu nhiệm hiệp thông và sự tham dự vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội. Đời sống thánh hiến phải trình bày một chứng từ hữu hiệu và sáng tỏ hơn nữa về đặc sủng của riêng mình, vì công cuộc hội nhập văn hóa ảnh hưởng đến sức sống, đến hoạt động mục vụ và đến khả năng kiên trì của các thành viên thuộc lối sống này. Những người sống đời thánh hiến phải phấn đấu không mệt mỏi để tìm hiểu những nền văn hóa mà mình được mời gọi sống và làm việc trong đó – để nhận ra những giá trị đích thực trong các nền văn hóa, và để xác định bằng cách nào đặc sủng của mình có thể vận dụng hay chuyển hóa những giá trị này nhằm giúp cho mạc khải Kitô giáo không ngừng thấm nhập vào các nền văn hóa ấy. Những người sống đời thánh hiến phải thường xuyên tự hỏi bằng cách nào mình có thể Phúc Âm hóa những nền văn hóa đang đổi thay nhanh chóng tại các quốc gia công nghiệp hóa ào ạt nhất – nơi mà các thành phố lớn đang mọc lên và những vấn đề mới mẻ đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong đời sống hằng ngày.
2. Các thánh bộ của Tòa Thánh phải nâng đỡ những nỗ lực hội nhập văn hóa của các địa phương và phải tạo điều kiện dễ dàng cho hoạt động của các hội dòng tại các Giáo Hội địa phương, nhằm đáp ứng một cách hữu hiệu và sáng tạo hơn đối với nhu cầu hội nhập văn hóa.
3. Để thúc đẩy một tiến trình hội nhập văn hóa đích thực, các thành viên của các hội dòng phải làm quen với các nền văn hóa địa phương, phải phấn đấu để vận dụng những tập tục, những cách suy nghĩ và ứng xử có giá trị đặc trưng của các nền văn hóa ấy, và phải thấm nhuần các giá trị của chúng bằng một cách thế sao cho chúng cũng hấp thu ánh sáng và năng lực của Tin Mừng.
Thượng Hội Đồng Giám Mục muốn tất cả các thành viên của các hội dòng phải nhận một giai đoạn huấn luyện trong các chủng viện, tập viện – một sự huấn luyện nhằm trang bị cho họ khả năng Phúc Âm hóa các nền văn hóa.
Trong nhãn giới của tất cả những gì vừa nói trên, thật dễ hiểu tại sao Thượng Hội Đồng Giám Mục đã gán một tầm quan trọng phi thường cho công cuộc hội nhập văn hóa của đời tu, hay theo một nghĩa rộng hơn, cho công cuộc hội nhập văn hóa của đời sống thánh hiến (vì Thượng Hội Đồng Giám Mục cũng qui chiếu đến cả các Hiệp Hội Đời Sống Tông Đồ nữa).
i. văn hóa – từ ngữ được đắc dụng và bị lạm dụng
Hai tiếng ‘văn hóa’ thường được sử dụng để nói đến kiến thức đắc thủ bởi một cá nhân hay một tập thể. Tuy nhiên, đây chỉ là một khái niệm có tính định lượng, không định phẩm. Theo nghĩa trên, ta có thể nói rằng người ta được khai hóa khi người ta biết nhiều thứ. Như vậy, ta cũng có thể nói rằng người này được khai hóa nhiều hơn người kia, hoặc nói rằng dân tộc này có một trình độ văn hóa cao hơn dân tộc nọ – căn cứ vào số lượng nhiều hay ít những người mù chữ , số lượng sách báo được đọc và thậm chí căn cứ vào số lượng giấy được tiêu thụ ít hay nhiều.
Nhưng từ ngữ ‘văn hóa’ còn có một ý nghĩa khác, quan trọng hơn: ‘văn hóa’ là tất cả những lối suy nghĩ, những lối cảm nhận và ứng xử đem lại cho nhóm người nào đó một căn tính riêng của mình trong không gian và thời gian. Theo nghĩa này, chúng ta không còn có thể nói – chẳng hạn – rằng văn hóa của Châu Âu vĩ đại hơn văn hóa của Châu Phi. Thay vào đó, phải nói rằng Châu Âu có nền văn hóa riêng của nó, không cao hơn cũng không thấp hơn, không tốt hơn cũng không xấu hơn so với bất cứ nền văn hóa nào khác. Âu Châu, Á Châu, Phi Châu … có những nền văn hóa khác biệt nhau.
Tất cả những lối suy nghĩ, cảm nhận, và ứng xử này đóng vai trò như một hệ thống. Nghĩa là, nếu có một sự đột biến xảy ra với bất cứ thành tố nào trong đó thì lập tức cũng sẽ có một sự đột biến hay một sự thích nghi nơi các yếu tố còn lại cho đến khi thế quân bình của tất cả được vãn hồi. (7)
Văn hóa có mặt ngay từ khi có loài người, nhưng chúng ta chỉ suy tư về văn hóa một cách mạch lạc mới gần đây thôi, từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918), đặc biệt sau khi Oswald Spengler xuất bản cuốn sách nổi tiếng của ông: The Decline of the West (1922) trong đó ông dự báo về sự biến mất nhanh chóng của văn hóa tây phương. Nhưng tiên đoán bi quan của Spengler ngay lập tức bị thay thế bằng tinh thần phấn chấn lạc quan – bởi vì trong thực tế văn hóa tây phương đã không biến mất. Trái lại, chính văn hóa ấy đã phát động những bước tiến nhảy vọt trong khoa học và kỹ thuật, làm cho văn hóa tây phương trở thành mục tiêu mà mọi người ước mơ và tìm kiếm – cho đến khi nó trở thành mẫu thức chung của mọi nền văn hóa, nhất là đối với các dân tộc thuộc Thế Giới Thứ Ba – với những mối nguy hiểm và những triển vọng rõ rệt của nó. Thực vậy, nhân danh mẫu thức chung này, các nền văn hóa khác đã chịu đựng những cuộc bức bách thật sự, mặc dù trong nhiều trường hợp, người ta nhận thấy một số nền văn hóa nhỏ tự làm mình tiêu vong trong khi cố bắt chước văn hóa tây phương một cách mù quáng.
May thay, sự cáo chung của thực dân ở Á Châu và Phi Châu đã đem lại một phong trào về nguồn, trở về với các giá trị văn hóa bản xứ , tạo ra một cuộc đấu tranh đích thực cho sự độc lập không chỉ về chính trị mà còn về văn hóa nữa. Vì vậy, trong một thời gian ngắn, khoảng ba mươi năm trở lại đây, chúng ta đã đi từ thái độ tẩy chay mọi sự xâm lược về văn hóa đến thái độ cởi mở đối thoại với các nền văn hóa.
Trong Hiến Chế Gaudium et Spes, Công Đồng Vatican II đã tự định vị mình trong viễn tượng phục hồi các giá trị của các nền văn hóa. Công Đồng nhìn nhận và bảo vệ tính tự trị chính đáng của các nền văn hóa (GS 55), và vì thế Công Đồng cũng nhìn nhận và bảo vệ tính đa nguyên văn hóa (GS 53) cũng như nhìn nhận khả năng mọi nền văn hóa có thể tiếp xúc với Tin Mừng. Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã qui chiếu đến điều này khi ngài nói với Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa:
Dù mối ưu tư đối với công cuộc Phúc Âm hóa các nền văn hóa không phải là một mối ưu tư mới mẻ, song vẫn có nhiều vấn đề rất mới mẻ hiện lộ ra trong một thế giới in đậm tính đa nguyên, một thế giới với những ý thức hệ xung đột nhau cách gay gắt, một thế giới với những thay đổi nền tảng về các não trạng. (8)
Trước hết, để tránh mọi sự nhập nhằng lộn xộn, chúng ta phải minh định ý nghĩa cụ thể và chính xác khi sử dụng thuật ngữ ‘văn hóa’, một thuật ngữ không phải luôn luôn được người ta dùng với ý nghĩa thích đáng của nó.
1. Văn Hóa, Một Khí Cụ Để Quan Chiêm Thế Giới
Trong số nhiều tác giả hiện đại viết về văn hóa, thật không dễ tìm ra hai người nhất trí với nhau về một định nghĩa cho từ ngữ này, bởi vì hai tiếng ‘văn hóa’ có thể được sử dụng với ý nghĩa từ rất hẹp đến rất rộng. Theo một ý nghĩa chuyên biệt nhân loại học, văn hóa là khả năng nhờ đó con người diễn tả qua các biểu tượng – cho chính mình và cho người khác – những phản ứng và những mối quan hệ của một cá nhân và của những nhóm người đối với môi trường của họ và mối tương giao giữa họ với môi trường đó. Từ viễn tượng nhân loại học này, văn hóa được xem như một thấu kính qua đó người ta cảm nhận nhiều sắc thái của thế giới.
2. Không Có Những Nền Văn Hóa Thượng Hạng Hay Thấp Kém, Chỉ Có Những Nền Văn Hóa Khác Nhau Mà Thôi.
Như chúng ta đã đề cập, mọi con người, mọi dân tộc và mọi nhóm xã hội là chủ thể của văn hóa. Nghĩa là, dân tộc nào cũng có nền văn hóa của riêng mình. Hay nói cách khác, không có dân tộc nào ở trong một tình trạng vô văn hóa. Như vậy, các nền văn hóa không khác biệt nhau theo những phạm trù như cao và thấp, hay trên và dưới. Mỗi dân tộc đều có nền văn hóa của riêng mình, nền văn hóa mà tự thân nó không cao hơn cũng không thấp hơn so với bất cứ một nền văn hóa nào khác. Nó chỉ khác với mọi nền văn hóa khác mà thôi.
3. Văn Hóa Không Lẫn Lộn Với Văn Minh.
Chúng ta phải tránh việc đồng hóa khái niệm văn hóa với những gì vốn chỉ là các khía cạnh của nó, chẳng hạn những cái thường được gọi là “các thành tựu lớn lao của con người” (như các kiệt tác văn chương và nghệ thuật, vv…), nhất là chúng ta không được đồng hóa “văn hóa” với “văn minh”. Bởi vì một khi chúng ta đồng hóa như vậy, văn hóa sẽ bị giảm trừ đến chỉ còn là “văn hóa vật chất” – và khi đó, người ta có thể nói đến những văn hóa cấp cao, văn hóa cấp thấp, những văn hóa tiến bộ, văn hóa thụt lùi, vv… Đồng hóa như vậy là chấp nhận quan điểm rất phổ biến hiện nay rằng những người thuộc các nền văn hóa chậm tiến đương nhiên muốn đạt đến ‘nền văn hóa hiện đại’ của các dân tộc đang sở hữu những kỹ thuật cao – cơ hồ như ‘văn minh khoa học và kỹ thuật’ là mẫu thức chung mà ngày nay mọi dân tộc cần phải đạt đến. Thật ra, trong lịch sử loài người, chúng ta đang chứng kiến một cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa một bên là sự ‘thống nhất’ hay sự chinh phục của ‘mẫu thức chung’ này (tức văn hóa khoa học và kỹ thuật, là cái có sức đem lại cho người ta nhiều tiện nghi vật chất hơn) và bên kia là sự ‘phân tán’ các nền văn hóa – trong đó mỗi dân tộc và mỗi nhóm người cố gìn giữ bản sắc văn hóa riêng của mình; bởi vì ‘nền văn hóa khoa học và kỹ thuật’ không hề có dân tộc riêng của nó, không có lãnh thổ riêng và lịch sử riêng.
4. Không Có Những ‘Nền Văn Hóa Áp Bức’ Hoặc Những ‘Nền Văn Hóa Bị Áp Bức’.
Văn hóa “khoa học và kỹ thuật” có thể trở thành một mẫu thức chung có giá trị của mọi nền văn hóa nếu nó phục vụ cho việc bảo vệ và củng cố những giá trị đích thực trong nền văn hóa của mỗi dân tộc. Trên nguyên tắc, nó có thể phục vụ cho mục đích ấy; nhưng trong thực tế, có rất nhiều sự cản trở không thể vượt qua được. Đó là lý do tại sao sẽ không thích đáng nếu ta nói đến những ‘nền văn hóa áp bức’ và những ‘nền văn hóa bị áp bức’. Những cụm từ này thường được sử dụng để nhấn mạnh các khía cạnh tiêu cực của các loại ‘thực dân’ khác nhau. Đúng ra văn hóa là một khí cụ mà những kẻ bị áp bức có thể dùng để đề kháng những người áp bức mình.
5. Không Được Đồng Hóa Văn Hóa Với ‘Các Giá Trị Phổ Quát’.
Chúng ta cũng không được lẫn lộn văn hóa với cái thường được gọi là ‘các giá trị phổ quát’ – chẳng hạn như kiểu nói ‘nền văn hóa hay văn minh tình yêu’ của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II và những kiểu nói khác như ‘nền văn hóa đoàn kết’ hay ‘nền văn hóa dân chủ’, vv… Trong những trường hợp đó, từ ngữ văn hóa được sử dụng một cách loại suy chứ không phải một cách đơn nghĩa.
6. Không Có Nền Văn Hóa ‘Kitô Giáo’.
Chúng ta cũng không nên nói về ‘nền văn hóa Kitô giáo’, bởi vì Kitô giáo không phải là một nền văn hóa. Kitô giáo là sự sống mà Thiên Chúa Cha đã trao ban nhưng không, qua Con Một Ngài là Đức Giêsu Kitô, cho tất cả mọi người nam cũng như nữ thuộc mọi chủng tộc, mọi lứa tuổi, để họ có thể biến sự sống này thành bản chất và căn tính của mình, bằng cách thế của riêng mình. Tin Mừng ở trên mọi dân tộc và mọi nền văn hóa, vì thế mỗi dân tộc và mỗi nền văn hóa đều có thể tương thích với nó. Một đàng, quả thực không hề có một thứ Tin Mừng khơi khơi giữa trời, bởi vì Tin Mừng hay Kitô giáo không tồn tại trong một khoảng chân không bất định nhưng là nhập thể trong một dân tộc và một nền văn hóa. Song đàng khác, cũng quả thực rằng Tin Mừng không đồng hóa với bất cứ nền văn hóa nào hiểu như là một chuẩn mực mà mọi nền văn hóa khác phải lụy thuộc hoặc ít nhất phải bắt chước để có thể đón nhận Tin Mừng.
7. Giáo Hội Đối Thoại Với Các Nền Văn Hóa.
Lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội đã không luôn luôn đối thoại với các nền văn hóa. Vào thuở ban đầu của Giáo Hội, các Kitôhữu theo lối sống Do Thái đã cố tìm cách đồng hóa Kitô giáo với cơ cấu văn hóa Do Thái đến nỗi không một cá nhân hay một dân tộc nào có thể trở thành Kitôhữu nếu trước hết không mặc lấy cốt cách văn hóa Do Thái. Điều tương tự cũng đã xảy ra với các Kitôhữu Rô-ma là những người sống giữa các dân tộc man di và nghĩ rằng những người man di không thể trở thành Kitôhữu nếu trước hết không mặc lấy cốt cách văn hóa Hy-La là cái được đồng hóa với chính Tin Mừng. Điều đó lại xảy ra một lần nữa khi những người tây phương loan báo Tin Mừng cho vùng Viễn Đông, cho Tân thế giới (được khám phá hồi cuối thế kỷ 16), và cho Phi Châu. Ở đây, Tin Mừng được đồng hóa với nền văn hóa tây phương và người ta nghĩ rằng những người thuộc các dân tộc khác cần phải trước hết được ‘tây phương hóa’ trước khi có thể đón nhận Tin Mừng. Ngày nay, có lẽ chúng ta đang tiến qua thái cực ngược lại để đồng hóa Tin Mừng với nền văn hóa của những người được rao giảng Tin Mừng,bởi vì những người này không bị nhiễm văn hóa tây phương vốn có tiêu điểm sai lạc về Tin Mừng.
Tuy nhiên, chúng ta có thể cùng với Công Đồng Vatican II tuyên bố rằng Giáo Hội cách chung đã đối thoại với các nền văn hóa mà Giáo Hội gặp gỡ trong công cuộc rao giảng Tin Mừng của mình.
Ngay từ thuở ban đầu trong lịch sử mình, Giáo Hội đã học cách diễn tả sứ điệp của Đức Kitô bằng những khái niệm và ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau và, hơn nữa, Giáo Hội đã cố gắng làm sáng tỏ sứ điệp ấy trong ánh sáng khôn ngoan của các nhà hiền triết bản địa để làm cho mọi người có thể nhận hiểu Tin Mừng và – trong chừng mực có thể – để đáp ứng đòi hỏi của những người thông thái. Quả thực, sự thích nghi và cách rao giảng Lời mạc khải như vậy phải là nguyên tắc của mọi cuộc rao giảng Tin Mừng. (GS 44).
8. Không Được Đồng Hóa Văn Hóa Và Tin Mừng.
Cả hai thái cực được đề cập đến trong đoạn trên đều không bộc lộ sự loan báo Tin Mừng đích thực, bởi vì trong cả hai trường hợp ấy Tin Mừng bị tước mất cự ly phê bình của nó, bị tước mất đặc tính thanh luyện các nền văn hóa của nó – bao gồm nền văn hóa của người rao giảng và nền văn hóa của những người được rao giảng. Thật vậy, trong cả hai trường hợp, có một sự đồng hóa Tin Mừng với văn hóa – điều không bao giờ nên xảy ra:
Tin Mừng và, do đó, công cuộc loan báo Tin Mừng chắc chắn không đồng hóa với văn hóa. (EN 20)
9. … Nhưng Có Một Mối Gắn Kết Chặt Chẽ Giữa Văn Hóa Và Tin Mừng.
Ở đối cực của những gì vừa được ghi nhận trong đoạn trên, không nên có một sự phân rẽ triệt để giữa Tin Mừng và văn hóa cơ hồ như chúng là hai cực loại trừ lẫn nhau. Theo nhận định của Đức Thánh Cha Phao-lô VI, đây chính là bi kịch lớn của thời đại chúng ta:
Khoảng cách giữa Tin Mừng và văn hóa rõ ràng là tình trạng đáng buồn của thời đại chúng ta, cũng như trong bất cứ thời đại nào khác. Vì thế, cần phải thực hiện mọi nỗ lực để bảo đảm Phúc Âm hóa hoàn toàn văn hóa, hay nói đúng hơn, Phúc Âm hóa hoàn toàn các nền văn hóa. (EN 20)
Cần phải có một mối gắn bó chặt chẽ giữa Tin Mừng và nền văn hóa của một dân tộc – bởi vì chúng là hai thực tại cuốn hút lẫn nhau và đòi hỏi lẫn nhau. Tin Mừng phải nhập thể vào trong những con người và những dân tộc cụ thể. Nghĩa là, cần có sự điều hưởng với văn hóa theo mức độ mà Tin Mừng phải được loan báo cho con người ở mọi thời và mọi nơi. Đàng khác, người ta ở mọi thời và mọi nơi đều có một tâm hồn ‘Kitôhữu tự nhiên’ (9) khát vọng Tin Mừng:
… vương quốc mà Tin Mừng loan báo được sống bởi những người gắn bó thâm sâu với một nền văn hóa, và công cuộc xây dựng vương quốc ấy không thể tránh việc vay mượn các yếu tố trong các nền văn hóa của con người. Mặc dù độc lập đối với các nền văn hóa, Tin Mừng và công cuộc loan báo Tin Mừng không thiết yếu phải xung khắc với chúng; đúng hơn, Tin Mừng và việc loan báo Tin Mừng có thể thu nhận tất cả các nền văn hóa mà không lụy thuộc vào bất cứ nền văn hóa nào. (EN 20)
Thật vậy, khi loan báo Tin Mừng, người rao giảng chỉ đang làm công việc phát quang mảnh đất để cho những người được rao giảng có thể khám phá ra ‘những hạt giống Lời Chúa’ vốn đang nằm ngủ im sẵn đấy trong chính họ (10). Nói cách khác, nơi những người được rao giảng, Đức Kitô đang chờ những con người rao giảng Tin Mừng:
Trước khi trở thành nhục thể để cứu độ và thu họp mọi sự nơi chính Người, Ngôi Lời đã hiện diện trong thế giới trong tư cách là “ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người.” (Ga 1, 9)
Vì thế, như Eusebius thường nói, khi các sứ giả Tin Mừng đến với một dân tộc, họ luôn tìm thấy nơi dân tộc ấy đã có sẵn một “sự chuẩn bị thực sự để đón nhận Tin Mừng.” (11)
10. “Văn Hóa Của Quần Chúng” Và “Văn Hóa Bình Dân”.
Khái niệm “văn hóa của quần chúng” – vốn thường được sử dụng ngày nay – không phải là một khái niệm có cơ sở vững chắc, ngay cả dù kiểu nói này cố qui chiếu một cách nhầm lẫn đến sự cần thiết phải thông qua đại chúng trong việc tiếp cận văn hóa. Thực ra, “văn hóa của quần chúng” chỉ là một thứ phẩm của “văn hóa hiện đại” là nền văn hóa vừa không hậu thuẫn cho bản sắc cá nhân vừa thúc đẩy tính cách thụ động, một trong những nét đặc trưng của “nền văn hóa tiêu thụ”. Do vậy, nó là một công cụ để khai thác người ta, cá nhân cũng như tập thể. Đối lập lại với “nền văn hóa của quần chúng” đầy sức hủy diệt đối với các bản sắc của các cá nhân và các dân tộc, chúng ta nên cổ súy cho nền “văn hóa bình dân” theo nghĩa là thúc đẩy bản sắc riêng của người ta để đấu tranh chống lại “nền văn hóa đại chúng’ mà một số người muốn áp đặt lên họ.
11. Không Đồng Hóa Văn Hóa Với Những Phản-Giá-Trị.
Một cách nghịch lý, ngày nay từ ngữ văn hóa rất nhiều khi được dùng để chỉ những “giá trị nghịch”, và rất đáng tiếc là xu hướng này đang càng ngày càng trở nên phổ biến hơn – chẳng hạn, người ta nói đến “văn hóa tiêu thụ”, “văn hóa hưởng lạc”, “văn hóa sự chết”, vv… (SD 9, 26, 219, 235). Rõ ràng là trong những “nền văn hóa” như vậy, việc hội nhập văn hóa của công cuộc loan báo Tin Mừng sẽ trở thành một sự mâu thuẫn hoàn toàn. Vì thế, chúng ta có thể thấy rằng nếu muốn dùng khái niệm “hội nhập văn hóa công cuộc loan báo Tin Mừng”, chúng ta cần phải hạn định hai tiếng văn hóa nơi những giá trị đích thực hiện diện trong nền văn hóa của một dân tộc hay một nhóm xã hội. Rõ ràng điều ấy cũng hàm ý rằng trong quá trình Tin Mừng được hội nhập văn hóa, các nền văn hóa phải được tinh lọc khỏi những phản-giá-trị chắc chắn đã thấm nhiễm vào chúng;
… chúng phải được tái sinh nhờ cuộc gặp gỡ với Tin Mừng. (EN 20)
Một đàng, việc “hội nhập văn hóa của công cuộc loan báo Tin Mừng” sẽ vạch rõ tất cả những phản-giá-trị của một nền văn hóa; và đàng khác, nó luôn sẵn sàng thu nhận và liên đới với tất cả các giá trị đích thực của nền văn hóa ấy.
12. Định Nghĩa Của Vatican II Về Văn Hóa.
Ở đây, thuật ngữ văn hóa được hiểu trong một ý nghĩa rất rộng như được trình bày bởi Công Đồng Vatican II:
Đó là tất cả những gì con người dùng để trau giồi và phát triển các năng khiếu đa dạng của tinh thần và thể xác; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí thức và lao động; làm cho đời sống xã hội, chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế; sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn nhân loại tiến bộ hơn. (12)
13. Những Khía Cạnh Bao Hàm Trong Định Nghĩa Của Vatican II Về Văn Hóa.
Chúng ta phải xem xét qua các khía cạnh bao hàm trong định nghĩa trên của Công Đồng về văn hóa.
• Khía cạnh cá nhân: bởi vì
chỉ có nhân vị con người mới có thể đạt được nhân tính trọn vẹn và đích thực thông qua văn hóa. (13)
Người ta, nam cũng như nữ, là những con vật có văn hóa – bởi vì chính họ tạo ra văn hóa và xuyên qua văn hóa mà họ đạt được nhân tính trọn vẹn: “họ nêu bật phẩm giá nhân vị của họ, trở thành một nhân vị đúng nghĩa hơn,” như Đức Phao-lô VI đã phát biểu (14). Trong tư cách là vấn đề sống còn của việc tự kiện toàn nhân vị con người, và đồng thời trong tư cách là một tiến trình hội nhập văn hóa, theo ý nghĩa nhân loại học của thuật ngữ, văn hóa vốn đã có mặt ngay từ khi con người có mặt. Hành động có tính văn hóa đầu tiên có thể được xem như khởi điểm của lịch sử con người đã xảy ra khi con người, do áp lực của nhu cầu tồn sinh, đưa ra câu trả lời đầu tiên đối với những thách đố đặt ra bởi chính phản ứng thể lý của mình đối với thế giới xung quanh. Điều này được hiểu như một biến cố thuộc lịch sử hơn là một sử liệu thành văn, và do đó cũng được hiểu như là sự khởi đầu của văn hóa.
Theo nghĩa đó, con người là hữu thể duy nhất có văn hóa. Loài vật không có văn hóa bởi vì bản tính của chúng được tiền định để phản ứng luôn luôn giống nhau đối với những kích động bên ngoài, và các phản ứng của chúng luôn luôn có tính tĩnh tại và lặp đi lặp lại.
• Khía cạnh vũ trụ: Tất cả các tài nguyên và các giá trị tự nhiên mà con người – xuyên qua kiến thức và lao động của mình – tìm cách chinh phục nơi trái đất.
• Khía cạnh xã hội: Tất cả những gì mà qua đó con người làm cho đời sống xã hội, trong gia đình và trong cộng đồng dân sự, có tính nhân đạo nhiều hơn – xuyên qua việc cải thiện các tập tục và các cơ chế.
• Khía cạnh lịch sử: Sự kiện rằng con người diễn tả các kinh nghiệm nhân linh và các khát vọng của mình ở mọi tuổi tác; con người truyền đạt và bảo quản những kinh nghiệm và những khát vọng này, để chúng có thể phục vụ như một nguồn cảm hứng, vì thiện ích của toàn thể nhân loại.
• Khía cạnh xã hội học: Qui chiếu đến tính đa nguyên của các nền văn hóa và khả năng xã hội hóa của chúng – hiểu theo mức độ mà nền văn hóa của mỗi nhóm người có khả năng làm cho họ thích nghi với xã hội cụ thể của mình.
• Khía cạnh năng động: Văn hóa thường xuyên phải qui phục những sự thay đổi gây ra bởi nhiều bước quặt mà xã hội gặp trên lộ trình lịch sử, nhất là những xã hội phức hợp nhất với các tổ chức xã hội đa dạng của chúng – qua đó các giải pháp được phát minh dọc theo tiến trình lịch sử để giải quyết những vấn đề thường tình như việc bảo quản và sự sống còn.
• Khía cạnh tích lũy: Đặc biệt trong các xã hội truyền thống, văn hóa là một quá trình tích lũy trong đó nó chứa đựng tất cả các kinh nghiệm lịch sử được sống bởi các thế hệ đi trước, nhằm bảo quản những gì xưa cũ, bất kể rằng đã có những thành đạt tiếp theo sau.
• Khía cạnh cơ cấu: Có những yếu tố thường hằng cho phép người ta nghiên cứu và nhận ra mỗi nền văn hóa; đây là những yếu tố phân biệt giữa nền văn hóa này và nền văn hóa khác.
ii. ba tiền tố của thuật ngữ văn hóa
1. “Hấp Thụ Văn Hóa” (en-culturation)
“En-culturation” hay “enculturation” (hoặc “endo-culturation” – danh từ mà các nhà nhân loại học thường thích sử dụng hơn) là tiến trình qua đó các cá nhân tự sáp nhập mình vào trong nền văn hóa của nhóm xã hội gốc của mình. Theo nghĩa này, văn hóa là cái được học tập, chứ không phải có tính bẩm sinh. Qua quá trình rèn luyện, người ta tiếp thu những thực hành, những tập tục, những niềm tin và những kỹ thuật cơ bản của nền văn hóa gốc của mình cho đến khi các thói quen ứng xử ấy trở thành một cái gì gần như có tính tự động và vô thức trước mọi tình huống của cuộc sống họ.
Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng người ta không chỉ hấp thụ văn hóa một cách thụ động. Hấp thụ một cách thụ động, đó có lẽ là trường hợp của trẻ em; song khi người ta đã trưởng thành, họ phải đối chiếu nền văn hóa mà mình đã học được với những kinh nghiệm mới của mình. Như vậy, một cách ý thức, người ta sáp nhập chính mình vào trong xã hội gốc của mình – và người ta có thể biểu tượng hóa tiến trình ấy. Việc biểu tượng hóa này chính là nền tảng của quá trình hấp thụ văn hóa.
Hành động đầu tiên mang tính văn hóa, đánh dấu sự bắt đầu của lịch sử (phát triển) nhân tính cũng bao hàm hành động đầu tiên hấp thụ văn hóa, bởi vì chiều kích xã hội của người ta, nam cũng như nữ, tạo điều kiện dễ dàng cho sự chuyển đạt, sự đón nhận và sự tái diễn dịch văn hóa.
Tất cả những điều nói trên đều đúng cho các cá nhân cũng như cho các nhóm xã hội. Và nhiều khi, việc hấp thụ văn hóa của cá nhân hay của đoàn nhóm có thể tạo ra một sự tiếp biến văn hóa (ac-culturation).
2. “Tiếp Biến Văn Hóa” (ac-culturation).
Theo nghĩa chặt, tiếp biến văn hóa là
hành động qua đó một nhóm xã hội cố tìm cách áp đặt nền văn hóa của mình lên một nhóm khác vốn yếu hơn mình về chính trị, kinh tế và xã hội. (15)
Tiếp biến văn hóa là một hệ quả trực tiếp xuất phát từ chính tính năng động và khuynh hướng mở rộng ra của mọi nền văn hóa. Nói chung, sự tiếp biến văn hóa thường được ghi nhận khi một nền văn hóa ở thế thượng phong (hay được coi là ở thế thượng phong, chẳng hạn nền văn hóa của các tu sĩ hay các nhà thừa sai) gặp gỡ với nền văn hóa của những người mà các nhà thừa sai hay các tu sĩ muốn giới thiệu Tin Mừng hoặc một đặc sủng tu trì cho họ. Sở dĩ thế bởi vì văn hóa không bao giờ tồn tại trong một chân không khơi khơi nhưng là tồn tại nơi những con người cụ thể – nam cũng như nữ – đã được ‘khai hóa’ trong nền văn hóa gốc của mình. Văn hóa không phải là một ý niệm trừu tượng, nhưng đúng hơn đó là một dự phóng hiện sinh. Một cách ý thức hay vô thức, sự tiếp biến văn hóa sẽ tác động ảnh hưởng trên nền văn hóa mà các vị thừa sai hay tu sĩ ngoại quốc này muốn đồng hóa. Ít nhất họ cũng cố áp đặt văn hóa của chính họ trên một dân tộc hay một nhóm người nào đó đang cố gắng đi vào trong nền văn hóa của họ, hoặc áp đặt trên những người bị áp lực phải nhận – như trường hợp của các dạng thực dân khác nhau, cả thực dân cũ lẫn thực dân mới. Sự tiếp biến văn hóa có thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho nhiều yếu tố – thậm chí có thể là những yếu tố rất nền tảng – của một nền văn hóa (được giả định là) thấp kém hơn so với những nền văn hóa khác (được giả định là)ø trỗi vượt hơn.
Sự thích nghi – hay sự điều hợp của một cá nhân hay của một nhóm đối với một nền văn hóa khác – là một khái niệm có liên hệ rất gần gũi với sự tiếp biến văn hóa. Nó không hàm chứa một sự chuyển hóa sâu sắc cả nơi nền văn hóa của những người thích nghi lẫn nơi nền văn hóa mà họ đang thích nghi. Đó có thể là một sự điều hợp thường xuyên hay tạm thời, và nó có thể xảy ra cả nơi nền văn hóa chiến ưu thế lẫn nơi nền văn hóa bị lép vế. Đôi khi, đó thậm chí chỉ là một chiến lược để đạt được những ưu thế lớn hơn – xét về phía những người thống trị, hay để giảm thiểu bớt gánh nặng – xét về phía những người bị thống trị. Đây là đặc trưng của mọi hình thức thực dân hóa và mọi hình thức cộng tác. Xét về mặt thích nghi, văn hóa là một khí cụ qua đó các cá nhân và các nhóm điều hợp cho tương thích với những cảnh vực khác nhau để biến đổi các cảnh vực ấy một cách đầy sáng tạo.
3. “Hội Nhập Văn Hóa” (in-culturation)
Từ ngữ ‘hội nhập văn hóa’ là một từ mới được phát minh bởi Herskovits, sử gia chuyên về các tôn giáo. Vận dụng vào Kitô giáo, từ ngữ này được nhìn nhận là có giá trị để diễn tả các mối liên hệ giữa Tin Mừng với các nền văn hóa. Nó được sử dụng bởi Liên Hiệp Các Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) vào năm 1973, và bởi các giám mục Phi Châu tại Synod 1974 về chủ đề Loan Báo Tin Mừng. Tuy vậy, mãi cho đến cuối thập niên 70, từ ngữ này mới xuất hiện trong ngôn ngữ chính thức của Giáo Hội. Cả Công Đồng Vatican II lẫn các Văn Kiện Medellin (1969) và Puebla (1979) cũng đều không thấy sử dụng từ ngữ này. Hồng Y Sin, tổng giám mục Manila, là người đầu tiên sử dụng từ ngữ ‘hội nhập văn hóa’ một cách chính thức tại Synod 1977. Sau đó, Đức Gio-an Phao-lô II đã sử dụng nó, dù với một ý nghĩa khá hàm hồ, trong Catechesi tradentae:
Vì là một từ mới, thuật ngữ tiếp biến văn hóa hay hội nhập văn hóa thực sự diễn tả một trong những cấu tố của mầu nhiệm nhập thể vô cùng cao cả. (16)
Chúng ta nói rằng Đức Gio-an Phao-lô II đã sử dụng từ ngữ này một cách hàm hồ, bởi vì theo qui ước ngôn ngữ thông thường ngày nay và theo những gì vừa khái lược trên, tiếp biến văn hóa không thể được sử dụng như một từ đồng nghĩa với hội nhập văn hóa – như cách mà Đức Gio-an Phaolô II đã sử dụng trong tông huấn trích dẫn trên. Quả thực, trong những văn kiện giáo hoàng tiếp sau đó, hai từ ngữ nói trên không còn được sử dụng như những từ đồng nghĩa nữa. Thay vào đó, hội nhập văn hóa được sử dụng như từ ngữ duy nhất để nói đến sự gặp gỡ giữa đức tin và các nền văn hóa. Từ ngữ hội nhập văn hóa được Đức Gioan Phaolô II chính thức thánh hóa tại Synod 1985.
Tuy nhiên, thật đáng tiếc là Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo (17) lại hầu như hoàn toàn thinh lặng về chủ đề này, hoàn toàn không hề có một qui chiếu rõ rệt nào về hội nhập văn hóa.* Chỉ có một ám chỉ xa xa và hơi lộn xộn, nhưng không phải về chính chủ đề hội nhập văn hóa, và một vài lần có qui chiếu đến ‘sự thích nghi’(adaptation) (18) hay ‘sự cấy vào’ (implantation) (19). Trái lại, người ta nhận thấy một số thuật ngữ được sử dụng như ‘sự hòa nhập’ (integration) (20) hay ‘sự sáp nhập’ (incorporation) (21) – là những thuật ngữ vốn phù hợp với thực dân hóa hơn là với hội nhập văn hóa.
Trong lãnh vực đời sống tu trì, từ ngữ “hội nhập văn hóa” trở thành phổ biến khi một nhóm các tu sĩ dòng Tên ở Á Châu và Phi Châu sử dụng nó trong tổng công hội diễn ra tại Rô-ma vào năm 1974 – 1975 (22). Sau đó, tất cả các dòng tu đều sử dụng từ ngữ này trong các tổng công hội của mình.
Hội nhập văn hóa chủ yếu là một khái niệm thần học, mặc dù nó cũng có liên quan tới nhân loại học – vì quá trình hội nhập văn hóa là một hệ quả trực tiếp của những vận động bên trong của các hệ thống văn hóa và của sứ điệp Tin Mừng mà người ta muốn làm cho thấm nhuần vào một nền văn hóa nào đó. Đồng thời, hội nhập văn hóa là sự chuyển hoá của một nền văn hóa xuyên qua sứ điệp Tin Mừng và là sự vận dụng Tin Mừng của nền văn hóa đón nhận nó.
Như vậy, để cho một sự hội nhập văn hóa đích thực có thể xảy ra, cần phải có sự đối thoại chân thành, hiện sinh và không ngừng với Tin Mừng và với nền văn hóa mà người ta muốn Phúc Âm hóa. Một cách chính xác, tiến trình hội nhập văn hóa không bắt đầu khi những người rao giảng Tin Mừng bắt đầu lên tiếng, nhưng là bắt đầu khi những người được rao giảng Tin Mừng bắt đầu đáp trả. Nói cách khác, chủ thể của hội nhập văn hóa là những người đón nhận Tin Mừng, bởi vì chính họ là những người giới thiệu vào nền văn hóa của họ những yếu tố thay đổi vốn được sứ điệp Tin Mừng tạo ra nơi họ. Đồng thời, họ tạo ra những thay đổi cần thiết cho các dự phóng về văn hóa của những người rao giảng Tin Mừng – chính trong những dự phóng đó, sứ điệp Tin Mừng được trao cho họ.
Ở đây, khái niệm hội nhập văn hóa không được hiểu từ một viễn tượng duy chỉ có tính xã hội học, nhưng từ khía cạnh hai mặt của chọn lựa và hành động:
• Xét như là một sự chọn lựa, hội nhập văn hóa là một thái độ dấn thân không ngừng để dám trả giá cần thiết nhằm đạt được mục tiêu ấy. Giá phải trả ở đây có thể là sự từ bỏ chính những phạm trù văn hóa của mình như Đức Giêsu – Đấng đã không đòi cho được địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, song đã trở thành phàm nhân (Pl 2, 6 – 8), hay như Phao-lô đã trở nên mọi sự cho mọi người để chinh phục họ về cho Đức Kitô.
• Xét như một hành động, hội nhập văn hóa đòi hỏi việc cụ thể hóa sự chọn lựa mà mình đã xác định, hành động cụ thể hóa này bao hàm một công cuộc nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa của các dân tộc mà mình dấn thân vào – để chia sẻ tất cả các giá trị của họ. Hiểu theo chiều hướng này, hội nhập văn hóa không làm cạn kiệt tất cả những khả năng của nó trong mối quan hệ giữa hai nền văn hóa – nền văn hóa gốc của những người rao giảng Tin Mừng và nền văn hóa của những dân tộc được rao giảng Tin Mừng cho. Thay vào đó, nó phải đạt đến mối quan hệ giữa Tin Mừng hay chính đặc sủng dòng tu với nền văn hóa của những người được rao giảng Tin Mừng.
Theo nghĩa này, hội nhập văn hóa dường như là một tiến trình các mối quan hệ hỗ tương và, do đó, nó đòi hỏi sự tương nhượng lẫn nhau giữa Tin Mừng và văn hóa. Chính qua tiến trình này mà Tin Mừng hay các giá trị đặc sủng của dòng tu được hòa hợp vào trong một nền văn hóa vốn khác biệt với nền văn hóa của những người mang Tin Mừng hay các đặc sủng ấy – và Tin Mừng cũng như các đặc sủng ấy sẽ cắm rễ trong một nền văn hóa mới đến nỗi các Kitôhữu và các tu sĩ bản địa có thể sống các giá trị văn hóa của chính mình mà không hề có sự bóp méo nào, đồng thời cũng sống các giá trị đặc biệt của Tin Mừng và của đặc sủng dòng tu liên hệ. Như vậy, hoa quả cuối cùng là một gia sản mới xét về các phương diện nhận hiểu, sống, và cử hành Tin Mừng và căn tính của đặc sủng dòng tu.
Từ viễn tượng tương nhượng này giữa Tin Mừng và văn hóa, tiến trình hội nhập văn hóa có thể được định nghĩa theo cách nói của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II sau đây:
Hội nhập văn hóa là sự nhập thể của Tin Mừng vào các nền văn hóa bản địa, đồng thời cũng là sự giới thiệu các nền văn hóa ấy vào trong đời sống của Giáo Hội (23). Hội nhập văn hóa là hình thức cụ thể của giao ước giữa Thiên Chúa và những con người nam cũng như nữ ở đây và bây giờ. (24)
Hay theo ngôn ngữ của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế:
Tiến trình hội nhập văn hóa có thể được định nghĩa như là nỗ lực của Giáo Hội để làm cho sứ điệp của Đức Kitô thấm nhập vào trong một cảnh vực xã hội và văn hóa cụ thể, mời gọi cảnh vực ấy phát triển theo các giá trị riêng của mình miễn là các giá trị này tương hợp với Tin Mừng. (25)
iii. công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng
1. Quá Trình Hội Nhập Văn Hóa Không Ngừng Của Tin Mừng
Tôn giáo hình thành nên một phần không tách rời của văn hóa (26). Ơn đức tin được cắm vào cho mọi nền văn hóa (27). Tin Mừng tương hợp với mọi nền văn hóa miễn là các nền văn hóa này tương hợp với lý trí và thiện chí – và Tin Mừng, xét trong một tầm mức rộng, là một yếu tố tác động của văn hóa (28). Vì thế, trong tư cách là một quá trình mang sứ điệp của Đức Giêsu đến cho mọi người thuộc mọi nền văn hóa, công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng là một phần của lịch sử Kitô giáo. Hơn nữa, công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng đã bắt đầu khi Đức Giêsu bắt đầu gieo hạt giống Tin Mừng và thậm chí trước đó nữa, nghĩa là khi Ngôi Lời trở thành xác phàm trong một bối cảnh xã hội và văn hóa cụ thể thuộc thế giới do thái ở Palestine.
Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II là người đầu tiên sử dụng thành ngữ “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng” trong một văn kiện của huấn quyền giáo hoàng. Ngài đề xuất rằng sự hội nhập văn hóa ấy là một chương trình sẽ phải được thực hiện trong công cuộc Phúc Âm hóa Châu Mỹ La Tinh khi ngài phát biểu tại Santo Domingo (1992) trong diễn văn khai mạc Hội Nghị Các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh (CELAM) rằng:
Giờ đây chúng ta đang đương đầu với sự thách đố ghê gớm của việc không ngừng hội nhập văn hóa của Tin Mừng nơi các dân tộc của chư huynh, một chủ đề mà chư huynh sẽ phải quan tâm với sự biện phân sâu sắc. (29)
Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã đề cập đến “việc Phúc Âm hóa văn hóa” (30), tiến thêm một bước so với những gì ngài đã nói tại Công Đồng Vatican II về việc Giáo Hội “thúc đẩy sự phát triển văn hóa” (31). Ý niệm “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng” của Đức Gio-an Phao-lô II có bao hàm việc đọc lại Tin Mừng theo cách nói của Đức Phao-lô VI.
Thành ngữ “Phúc Âm hóa văn hóa” mà Đức Phao-lô VI dùng trong Evangelii Nuntiandi đã được vận dụng rộng rãi bởi Hội Nghị Các Giám Mục Châu Mỹ La Tinh tổ chức tại Puebla vào năm 1979 (32). Thành ngữ “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng” của Đức Gio-an Phao-lô II thì được vận dụng rất phổ biến tại Hội Nghị Santo Domingo (1992). (33)
Như Juan Noemi ghi nhận, giữa hai thành ngữ “Phúc Âm hóa văn hóa” (Đức Phao-lô VI) và “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng” (Đức Gio-an Phao-lô II) có xảy ra một sự thay đổi về đối tượng cụ thể của hành động. Trong trường hợp thứ nhất, văn hóa ấn định công cuộc Phúc Âm hóa; trong trường hợp thứ hai, Tin Mừng ấn định sự hội nhập văn hóa. Trong trường hợp thứ nhất, việc Phúc Aâm hóa là hạt nhân của hành động; còn trong trường hợp thứ hai, hạt nhân này chính là sự hội nhập văn hóa. (34)
Nhưng, cũng như chính Juan Noemi phát biểu, “công cuộc Phúc Âm hóa văn hóa” và “công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng” qui chiếu đến cùng một chương trình và cùng một khát vọng vượt qua sự phân đôi giữa Tin Mừng và văn hóa, mặc dù dưới những khía cạnh khác nhau. Như vậy, công cuộc Phúc Âm hóa biểu thị một khách quan tính – có tính lịch sử và năng động – trở thành có giá trị nhờ vào chủ thể (có tính) thần học nâng đỡ nó hơn là nhờ vào một nội dung có thể định lượng trước … Khi chúng ta nói về “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng”, điểm chú tâm hoàn toàn không nằm ở “sự trở về với chủ thể” – điều mà tính hiện đại muốn đề nghị để người ta qui chiếu đến Tin Mừng xét như những nội dung khách quan đi trước hoàn cảnh văn hóa vốn chỉ có thể được đón nhận như “bản tính con người”. (35)
Mối quan hệ giữa đức tin và hội nhập văn hóa là đối tượng nghiên cứu của Ủy Ban Thần Học Quốc Tế trong kỳ họp tháng 12, 1987. Nó đã được chuẩn nhận tại kỳ họp khoáng đại vào tháng 10, 1988, và được xuất bản với sự phê chuẩn của Hồng Y J. Ratzinger, chủ tịch Uûy Ban, trong một văn kiện mang tựa đề “Đức Tin Và Hội Nhập Văn Hóa”. (36)
Chính Đức Gio-an Phao-lô II đã phát biểu:
Đức tin mà không trở thành văn hóa là một đức tin đã không được đón nhận cách trọn vẹn, đã không được suy tư cách rốt ráo, hoặc đã không được sống cách trung thành. (37)
2. Sự Hội Nhập Văn Hóa Của Tin Mừng:
Một Số Dè Dặt
Một số người tỏ ra nghi ngại đối với thành ngữ “sự hội nhập văn hóa của Tin Mừng”. Chẳng hạn, C. Geffré nói rằng “hội nhập văn hóa” đã trở thành một từ ma thuật của ngôn ngữ Kitô giáo và ông thêm rằng việc chọn lựa từ ngữ này là điều không tốt, nhất là khi nó được hiểu trong ánh sáng của mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Bởi vì nó có nguy cơ dẫn tới ảo tưởng về một sứ điệp Kitô giáo vốn tồn tại trong một tình trạng nguyên ròng và phải được hiện thân nơi những nền văn hóa khác nhau (38). Nhưng sứ điệp ấy và Giáo Hội không tồn tại một cách trừu tượng. Chúng luôn luôn phải mặc lấy những sắc thái văn hóa cụ thể: đầu tiên là văn hóa Do Thái, rồi đến văn hóa Hi lạp-La mã, vv … và đến những nền văn hóa khác trong suốt lịch sử.
Mối nguy hiểm này có thể tránh được một cách dễ dàng nếu chúng ta luôn ghi nhớ điều mà Đức Gio-an Phao-lô II đã nói về việc cần phải tương đối hóa đúng hơn là tuyệt đối hóa cụm từ “hội nhập văn hóa”, bởi vì nó chỉ “nói lên một trong những thành tố của mầu nhiệm nhập thể vô cùng cao cả.” (39) Như vậy, Đức Gio-an Phao-lô II đang nói đến chỉ một trong những khía cạnh của mầu nhiệm nhập thể mà thôi, bởi vì nếu không phủ nhận rằng chính Đức Giêsu Kitô là hiện thân của Kitô giáo một cách tuyệt đối, thì người ta không thể nói tương tự như thế về bất cứ một nền văn hóa nào, ngay cả nền văn hóa Do Thái mà trong đó Người đã sinh ra, đã sống và đã làm việc. “Tin Mừng” không thể bị đồng hóa với bất cứ nền văn hóa nào bởi vì Tin Mừng siêu vượt trên mọi nền văn hóa – và chính vì thế Tin Mừng có thể được hội nhập vào mọi nền văn hóa để chuẩn nhận những giá trị của chúng và để tinh lọc các phản giá trị nơi chúng.
Cũng giống như Ngôi Lời nhập thể, sứ điệp Tin Mừng phải trở thành thực chất trong mọi nền văn hóa, làm cho chúng sinh hoa kết quả từ bên trong, chuẩn nhận những giá trị của chúng. Nhưng, theo gương Đức Kitô khổ nạn, đức tin Kitô giáo phải vạch trần những phản giá trị trong các nền văn hóa và kiên định với lý tưởng được đề ra bởi Đức Giêsu – và giống như Đức Kitô phục sinh, nó phải phấn đấu để “tinh luyện” và “thăng hoa” các nền văn hóa.
3. Hội Nhập Văn Hóa Là Một Đòi Hỏi Xuất Phát Từ Mầu Nhiệm Nhập Thể
Khi được áp dụng vào Kitô giáo, từ ngữ “hội nhập văn hóa” có nghĩa là sự đơm bông kết trái của một Kitô giáo mang sắc thái bản địa, bắt đầu từ hạt giống được gieo và được chăm sóc bởi các thừa sai ngoại quốc. Đức Phao-lô VI đã khai mở ý niệm này khi ngài ngỏ lời tại Kampala vào năm 1969:
Hỡi các anh chị em Phi Châu, từ nay anh chị em có thể và phải có một Kitô giáo mang bản sắc Phi Châu.
Một phong trào hai mặt diễn ra với hội nhập văn hóa: một là theo Đức Giêsu, hai là đảm nhận lấy cái thế giới vốn đã bị bóp méo do tội lỗi để biến đổi nó. Bằng cách này, Giáo Hội làm cho hiện thực mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời. Khi được hiểu theo chiều hướng này, hội nhập văn hóa không phải là một cái gì có tính tùy nghi, nhưng là một bổn phận bắt buộc đối với Giáo Hội nói chung và đối với mỗi con người rao giảng Tin Mừng nói riêng.
Cũng theo một ý nghĩa tương tự, chúng ta có thể và phải áp dụng ý niệm hội nhập văn hóa vào các hội dòng để nêu bật ý nghĩa của một cộng đoàn bản địa tại bất cứ nước nào trên thế giới, bắt đầu từ hạt giống của đặc sủng hội dòng được gieo và được chăm sóc bởi các tu sĩ ngoại quốc tại một nơi chốn và vào một thời điểm nhất định. Như vậy, bắt chước Đức Phao-lô VI, chúng ta có thể thốt lên:
Hỡi các tu sĩ Phi Châu, từ nay các bạn có thể và phải có một cộng đoàn tu trì mang bản sắc Phi Châu.
Lời hiệu triệu ấy cũng hoàn toàn đúng cho Á Châu, Bắc Mỹ, Châu Mỹ La Tinh hoặc Âu Châu.
4. Hội Nhập Văn Hóa Trong Lịch Sử Cứu Độ
Israel tự nghĩ về chính mình như được Thiên Chúa trực tiếp thiết lập. Cựu Uớc là chứng từ thường xuyên về mạc khải của Thiên Chúa hằng sống trao cho các thành viên của một dân tộc được tuyển chọn. Khi Abraham, tổ phụ của chúng ta trong đức tin, rời bỏ thành Ur ở xứ Canđê và đi đến Canaan, ông chỉ là một “gã Aramê du mục lang thang” phải hội nhập vào một nền văn hóa khác hẳn với nền văn hóa gốc của mình. Ông phải từ bỏ tất cả những hành trang thuộc bản sắc văn hóa Mesopotami để mặc lấy hành trang mới: bản sắc văn hóa Canaan! Ông đã phải làm thế mà không hề gây sứt mẻ chút gì đối với sứ điệp mà Thiên Chúa đã mạc khải cho ông khi ông vẫn còn ở thành Ur thuộc xứ Canđê. Sự hội nhập văn hóa của sứ điệp Thiên Chúa – mà người mang sứ điệp này là Abraham – đã không xảy ra một cách hoàn toàn xuôi chèo mát mái!
Trong hình thức thành văn của nó, mạc khải này mang dấu vết của những kinh nghiệm xã hội và văn hóa thuộc thiên niên kỷ mà trong đó dân tộc này và những nền văn minh lân cận gặp gỡ nhau. Các tác giả Thánh Kinh đã sử dụng và cũng đã biến đổi các nền văn hóa của thời đại mình (40) để tường thuật – xuyên qua lịch sử của một dân tộc – hành động cứu độ mà Thiên Chúa muốn đưa đến tột đỉnh nơi Đức Giêsu Kitô để kết hợp mọi dân tộc thuộc mọi nền văn hóa thành một thân thể duy nhất với Đức Kitô là đầu. (41)
Trong Tân Ước, Đức Giêsu Nadarét, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, là ánh sáng siêu việt và là sự khôn ngoan đích thực được trao cho mọi dân tộc và mọi nền văn hóa (cf. Mt 11, 19; Lc 7, 35). Cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa là một cuộc nhập thể cụ thể và trọn vẹn – nên đó cũng là một cuộc nhập thể có bản sắc văn hóa: “Đức Kitô – qua cuộc nhập thể của Người – đã dấn thân vào những hoàn cảnh văn hóa và xã hội cụ thể của những con người xung quanh Người.” (AG 10) (42)
Sau cuộc phục sinh và về trời của Đức Giêsu, “việc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” đã cắm rễ của nó vào trong “bản chất truyền giáo” của Giáo Hội (AG 2) xuyên qua bài sai mà Giáo Hội nhận được từ Đức Giêsu: rao giảng nước Thiên Chúa cho mọi dân tộc (LG 1& 5). Vào ngày lễ Ngũ Tuần, sự xâm nhập của Thánh Thần đã khai mở mối quan hệ giữa đức tin Kitô giáo và các nền văn hóa xét như một biến cố có tính hoàn thành đầy đủ. Từ đó, “những điều kỳ diệu của Thiên Chúa” được “rao giảng” cho mọi con người – nam cũng như nữ – thuộc mọi ngôn ngữ và mọi nền văn hóa (Cv 2, 42). Thay vì thiết lập một siêu văn hóa, Thánh Thần – là nguyên lý có tính ngôi vị và sống động – sẽ hiệp lực với các thành viên liên hệ để làm sống hoạt cộng đoàn mới (43): “Không phải tất cả họ đều là người Galilê sao? Vậy bởi đâu mà chúng ta nghe họ nói tiếng bản ngữ của mình?” (Cv 2, 7 – 8).
Ơn gọi phổ quát của Giáo Hội có bao hàm một mối nối kết trực tiếp giữa Tin Mừng và nhân loại trong mỗi khu vực văn hóa cụ thể của nhân loại. Đức Giêsu Kitô là “Emmanuel” – Thiên Chúa ở với chúng ta – nghĩa là Người gần gũi với những thực tại cụ thể của mỗi người, mỗi dân tộc, không phân biệt chủng tộc, văn hóa hay điều kiện xã hội. “Việc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” xuất phát từ chính bản chất truyền giáo của Giáo Hội. Sự đổi mới không ngừng của Giáo Hội được thúc đẩy bởi chính những thách đố đặt ra do thực tế xung quanh, nghĩa là những thách đố đặt bởi các dân tộc, các nhóm người thường xuyên có nhu cầu được Phúc Âm hóa và được tái Phúc Aâm hóa dựa trên căn bản là chính căn tính văn hóa của họ. Như vậy, Giáo Hội càng mở ra với bên ngoài – với những gì xa lạ, với những gì chưa được khai tâm hay chưa được Phúc Âm hóa hoàn toàn – thì căn tính truyền giáo của Giáo Hội sẽ càng được đổi mới và được sống hoạt hơn.
Vì thế, “công cuộc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” là một hệ quả lôgic từ cuộc nhập thể của Ngôi Lời, một cuộc nhập thể đảm nhận tất cả những gì của con người (GS 22, LG 8&13, AG 3&22). Tất cả những điều này đã được Công Đồng Vatican II nhấn mạnh:
Thiên Chúa đã ngỏ lời dựa theo văn hóa đặc thù của mỗi thời đại (GS 58). Đức Kitô – qua cuộc nhập thể của Người – đã dấn thân vào những hoàn cảnh văn hóa và xã hội cụ thể của đồng bào ở chung quanh Người, thì cũng vậy, Giáo Hội phải cắm rễ vào mọi dân tộc để từ đó cung cấp cho mọi người mầu nhiệm cứu độ và sự sống mà Thiên Chúa thông ban (AG 10).
Trong hội nhập văn hóa, khía cạnh cục bộ (từng vùng) của công cuộc loan báo Tin Mừng gắn kết với khía cạnh toàn bộ (mối kết hợp phổ quát đến tận cùng thế giới). (44) Vì thế, mục tiêu của “công cuộc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” là mang Tin Mừng đến cho các dân tộc và các nhóm xã hội để họ có thể phục hồi căn tính cốt yếu của mình qua việc giải phóng chính mình khỏi tất cả những gì có thể trở thành nguyên nhân đẩy mình đến tình trạng chết.
Vì thế, Giáo Hội không thể thiên vị một nền văn hóa nào – theo nghĩa rằng Giáo Hội không thể đồng hóa mình với nền văn hóa này nhiều hơn so với nền văn hóa khác. Thay vào đó, mọi nền văn hóa đều có thể mặc lấy Tin Mừng. Do đó, giảo nghiệm đầu tiên đối với phổ quát tính của Giáo Hội đã xảy ra khi những khác biệt về văn hóa trở thành mối đe dọa đối với sự hiệp thông: đầu tiên, đó là những xích mích giữa các Kitôhữu gốc Do thái giáo Hi lạp và các Kitôhữu gốc Do thái giáo Palestine (Cv 6); sau đó là những xích mích giữa các Kitôhữu Do thái hóa và các Kitôhữu gốc dân ngoại (Cv 15). Sự xung đột thứ hai vừa kể trên đã trở thành vấn đề nổi cộm đặt ra cho việc hội nhập văn hóa Tin Mừng vào trong thế giới văn hóa Hi La, một sứ mạng mà Thánh Phao-lô, trong sự cộng tác với các “trụ cột” của Giáo Hội sơ khai, đã tiến hành như được mô tả ở chương 15 của Sách Công Vụ Tông Đồ.
5. Từ Tính Cục Bộ Do Thái Giáo Đến Tính Phổ Quát Kitô Giáo
Gia-vê đã mạc khải cho Abraham, tổ phụ của chúng ta trong đức tin, rằng mọi dân tộc sẽ được chúc phúc nơi ông, một lời hứa được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần. Hơn nữa, Gia-vê đã hứa với Abraham – và qua ông, với toàn dân Do Thái – rằng Đấng Mêsia, Đấng Cứu Độ thế giới sẽ đến từ giữa họ. Tuy nhiên, bất chấp sự minh bạch của lời hứa phổ quát về ơn cứu độ được trao cho Abraham, Isaác và Giacóp, và bất chấp sự xác nhận về lời hứa ấy mà các ngôn sứ đã nhận được trong lịch sử Do Thái, đặc ân riêng về việc Đấng Cứu Thế xuất hiện từ giữa họ đã dần dần trở thành được đồng hóa với lời hứa phổ quát về ơn cứu độ. Đức Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaritanô: “Ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái” (Ga 4, 22); lời ấy sẽ mãi mãi đúng bởi vì dân Do Thái thực sự là những người mang lời hứa phổ quát về ơn cứu độ.
Bao lâu Kitô giáo vẫn còn cắm rễ chỉ trong bối cảnh văn hóa xã hội Do Thái, thì bấy lâu đã không có những xung đột giữa Tin Mừng và văn hóa, bởi vì những người Kitôhữu Do Thái sống sứ điệp của Đức Giêsu trên cơ sở những gì đã thiết định nên căn tính văn hóa Do Thái của họ.
Nhưng, sau cái chết của Stêphanô (Cv 7), các Kitôhữu gốc Do Thái giáo Hi lạp đã phải rời Giêrusalem và tản mác trên khắp vùng Palestine. Một số bứt ra khỏi vùng Palestine và đi đến tận Cyprô và Antiôkia. Chính tại cộng đoàn Antiôkia mà Thánh Thần đã chọn Barnaba và Phao-lô để mang Tin Mừng đến cho các dân ngoại (Cv 13, 2).
Những hành trình truyền giáo của Phao-lô đã thành công qua việc gặt hái được một mùa bội thu Kitôhữu giữa các dân ngoại. Chính lúc đó đã nẩy lên vấn đề về tính phổ quát văn hóa của Kitô giáo đối lập với tính cục bộ văn hóa của Do Thái giáo. Các Kitôhữu gốc Do Thái đã không hiểu thấu đáo bài học đại đồng của lễ Ngũ Tuần (Cv 2, 1 – 42). Sống giữa các Kitôhữu gốc dân ngoại, họ đã quảng bá ý tưởng rằng mặc dù đã lãnh nhận phép Rửa, người ta vẫn không thể được cứu độ nếu không tuân phục Luật Mô-sê, nhất là luật cắt bì – nghĩa là, người ta không thể trở thành Kitôhữu đích thực nếu họ không trước hết mặc lấy những cốt cách văn hóa Do Thái.
Trước khi trở lại, Phao-lô cũng xác tín rằng ơn cứu độ hoàn toàn phụ thuộc vào sự tuân thủ nghiêm ngặt toàn bộ luật Mô-sê. Nhưng rồi ngày kia, trên đường đi Đa-mát, đang hung hăng bức bách các Kitôhữu, ông đã gặp chính Đức Giêsu. Từ đó, cách nghĩ của Phao-lô đã thay đổi tận gốc rễ: ơn cứu độ đến từ việc đi theo Chúa Giê-su. Tinh thần nệ luật trước đây của Phaolô đã sụp đổ và ông khám phá ra tính nhưng không của ân sủng. Đức Kitô chịu đóng đanh đã hoàn toàn thay đổi nhiệm cục cứu độ của luật Mô-sê.
Trong hành trình truyền giáo đầu tiên của mình – chủ yếu đến với những người Do Thái tản mác khắp nơi – Phao-lô đã đi bước trước trên con đường tiến tới phổ quát tính của Kitô giáo khi ông nhận ra rằng Chúa cũng đang kêu gọi các dân ngoại nữa. Chính lúc ấy Phao-lô đã nêu ra câu hỏi: Có thật sự cần phải áp đặt luật Mô-sê lên các dân ngoại như thể ơn cứu độ phụ thuộc vào việc chu toàn luật ấy? Và chính Phao-lô đã trả lời cho vấn nạn mà mình đưa ra: Luật Mô-sê không cần cho ơn cứu độ, bởi vì ơn cứu độ là một quà tặng nhưng không, do cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, và bởi vì ơn cứu độ không thuộc về bất cứ nền văn hóa riêng biệt nào – trái lại, nó vượt trên mọi nền văn hóa.
6. “Công Đồng” Giêrusalem
Ơn cứu độ đến từ Đức Giêsu không bị ràng buộc vào bất cứ một nền văn hóa nào, ngay cả nền văn hóa Do Thái, bởi vì qua cái chết và cuộc phục sinh của Người, Đức Giêsu đã đập tan mọi rào chắn; Người đã phá vỡ bức tường ngăn cách giữa dân Do Thái và dân ngoại (Ep 2, 4). Tất cả các nền văn hóa, một khi được thanh luyện khỏi những phản giá trị, đều có thể diễn tả mọi tiềm năng của mầu nhiệm cứu độ của Đức Giêsu.
Tại hội nghị của cộng đoàn Giêrusalem, vẫn thường gọi là Công Đồng Giêrusalem vào khoảng năm 50, đã có một cuộc xung đột giữa hai não trạng: một bên là tinh thần cục bộ Do Thái giáo được hậu thuẫn bởi các Kitôhữu gốc Do Thái là những người muốn áp đặt luật Mô-sê cho các Kitôhữu gốc dân ngoại, và bên kia là chủ trương đại đồng văn hóa Kitô giáo, được bênh vực bởi Phao-lô và Barnaba là những người không nhìn nhận rằng cần phải tuân thủ luật Mô-sê thì mới được cứu độ.
Thật ra, vụ xung đột này đáng lẽ đã không xảy ra, bởi vì trước khi Phao-lô và Barnaba ban phép Rửa cho những người ngoại giáo và không đòi hỏi họ trước hết phải chịu cắt bì, thì Thánh Phê-rô đã dàn xếp vấn đề này rồi. Sau khi ban phép Rửa cho viên bách quản Cornelius và gia đình ông ta (Cv 10), Phê-rô đã giải thích hành động của mình với cộng đoàn Giêrusalem. Lúc ấy một số người lần đầu tiên tranh luận rằng những người ngoại giáo lãnh phép Rửa cần phải được cắt bì thì mới được cứu độ. Sau khi nghe Phê-rô giải thích, sự phản kháng ấy đã lắng xuống (Cv 11, 1 – 18). Có lẽ bởi vì cuộc trở lại của Cornelius và gia đình ông ta là một biến cố quá ngoạn mục, nên rất có thể người ta xem đó như là một ngoại lệ. Cùng với những hành trình truyền giáo của Phao-lô và Barnaba, ngày càng có đông đảo những người ngoại giáo trở lại, và cộng đoàn Giêrusalem chia thành hai phái. Một nhóm hậu thuẫn cho quan điểm của những người Do Thái thủ cựu, nhóm kia ủng hộ quan điểm của Phao-lô. Những cuộc tranh luận diễn ra kịch liệt, nhưng cuối cùng Thánh Phê-rô đã lên tiếng nhắc lại rằng chính mình đã làm như vậy trong trường hợp của Cornelius. Phê-rô đã đưa ra giải pháp, một giải pháp vượt quá vấn đề được nêu ra. Việc tuân theo hay không tuân theo luật Mô-sê vốn chỉ là vấn đề đặt ra cho những người ngoại giáo trở lại, chứ không phải cho những người Do Thái trở lại, nhưng Thánh Phê-rô đã quả quyết rằng việc cắt bì không những không ràng buộc các Kitôhữu gốc dân ngoại mà đồng thời cũng không ràng buộc cả những người Do Thái trở lại nữa.
Thưa anh em, anh em biết: ngay từ những ngày đầu, Thiên Chúa đã chọn tôi giữa anh em, để các dân ngoại được nghe lời Tin Mừng từ miệng tôi và tin theo. Thiên Chúa là đấng thấu suốt mọi tâm can đã chứng tỏ Người chấp nhận họ, khi ban Thánh Thần cho họ cũng như đã ban cho chúng ta. Người không phân biệt chút nào giữa chúng ta với họ, vì đã dùng đức tin để thanh tẩy lòng họ. Vậy bây giờ, sao anh em lại thử thách Thiên Chúa, mà quàng vào cổ các môn đệ một cái ách mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta đều không có sức mang nổi? Vả lại, chính nhờ ân sủng Chúa Giê-su mà chúng ta tin mình được cứu độ, cùng một cách như họ. (Cv 15, 7 – 11)
Với thẩm quyền không thể bị chất vấn của mình, Gia-cô-bê, vị lãnh đạo của những người Kitôhữu gốc Do Thái, đã xác nhận bài huấn dụ của Phê-rô cũng như quan điểm của Phao-lô và Barnaba (Cv 15, 13 – 21).
Rồi, toàn thể cộng đoàn Giêrusalem đã viết cho cộng đoàn ở Antiôkia, nơi mà vấn đề ấy đã dấy lên, để vãn hồi sự hòa giải. Họ đã nhắc lại rằng các nhóm Kitôhữu khi tranh luận bất cứ điều gì cũng không được phép quên:
Chúng tôi, cùng với Thánh Thần, quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết … (Cv 15, 28).
Trước hết, chúng ta phải kết hợp với Thánh Thần để làm sáng tỏ các vấn đề. Rồi, chúng ta chỉ đặt những gánh nặng cần thiết – chứ không phải những gánh nặng không cần thiết – lên người ta. Đây là công việc hết sức đau đớn như có thể được nhận thấy trong thư của Phao-lô gửi cho giáo đoàn Ga-lát.
Một con người mới đã được sinh ra từ cuộc sinh hạ đớn đau này. Bây giờ, không còn đàn ông hay đàn bà, không còn Do Thái hay dân ngoại, không còn nô lệ hay tự do – nhưng TẤT CẢ đều nên MỘT trong Đức Kitô.
Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Kitô Giê-su, nhờ máu Đức Kitô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần.
Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; Người đã hủy bỏ luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. Người đã ddến loan Tin Mừng bình an: bình an cho anh em là những người ở xa và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha. (Ep 2, 13 – 18)
Một dân tộc mới cũng được sinh ra từ kinh nghiệm sinh hạ đớn đau này tại Công Đồng Giêrusalem: dân tộc được hình thành bởi những người tin rằng Đức Giêsu Nadarét là Chúa – trên cơ sở của nền văn hóa riêng của họ, não trạng riêng của họ, và cách thế gặp gỡ Thiên Chúa riêng của họ:
Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG với CÁC THÁNH: và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn ĐÁ TẢNG GÓC TƯỜNG là chính Đức Kitô Giê-su. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí. (Ep 2, 19 – 22)
Kể từ Công Đồng Giêrusalem ấy, Giáo Hội đã phải không ngừng phấn đấu để tái khám phá và đi lại con đường được khai mở bới Đức Giêsu khi Người rao giảng sự thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý, vượt quá ngày Sabbath và Lề Luật (cf. Ga 4, 21 – 22).
Kể từ đó, không ai có thể bị ép buộc phải trở thành Do Thái, Rô ma, Tây phương, Phi Châu hay Á Châu … xét như điều kiện để trở thành Kitôhữu. Nói cách khác, không ai có thể bị ép buộc phải trải qua một cuộc cấy ghép văn hóa xét như điều kiện để đạt được đức tin vào Đức Giêsu Nadarét. Để trở thành Kitôhữu hay trở thành tu sĩ thuộc một cộng đoàn tu trì, người ta không thể bị ép buộc phải mặc lấy bất cứ tập quán nào đến từ một nền văn hóa khác với nền văn hóa của chính mình, ngay cả dù nền văn hóa xa lạ ấy đã gắn bó mật thiết với Giáo Hội hay với hội dòng trong quá khứ hoặc trong hiện tại. Thế nhưng thời nào cũng có mối cám dỗ theo chiều hướng ngược lại. Mối cám dỗ này đã được ghi nhận chỉ ít lâu sau Công Đồng Giêrusalem – trong cuộc tranh luận giữa Phê-rô và Phao-lô tại Antiôkia (cf. Gl 2, 11 – 21); mối cám dỗ này vẫn còn tiếp tục qua bao thế kỷ bởi vì luôn luôn có những người muốn buộc người khác phải gặp gỡ Thiên Chúa theo cách của mình. Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác để không sa vào mối cám dỗ ấy bởi vì chúng ta không bao giờ được phép xem như công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng là một cái gì đã được hoàn thành.
Bắt đầu với Công Đồng Giêrusalem, Giáo Hội trở thành Giáo Hội của mọi dân tộc, có khả năng diễn tả chính mình trong mọi nền văn hóa. Kể từ đó, Giáo Hội không được phép lẫn lộn giữa Phúc Âm hóa và thực dân hóa – điều mà Giáo Hội đã từng lẫn lộn không chỉ một lần.
Công Đồng Giêrusalem đã thiết lập nguyên tắc nền tảng cho cuộc đối thoại giữa Tin Mừng với mọi nền văn hóa khác với nền văn hóa Do Thái, đến nỗi Đức Gio-an Phao-lô II có thể nói rằng nếu Tin Mừng đã không được hội nhập vào “thế giới Hi-lạp”, thì các công đồng của Kitô giáo sơ khai (45) rất có thể đã hóa ra vô ích. Nhưng Tin Mừng không tồn tại trong một chân không – trái lại, như Đức Gio-an Phao-lô II khẳng quyết, nó phải được hội nhập vào trong những nền văn hóa cụ thể nếu nó muốn đạt thấu đến tinh thần của các dân tộc khác nhau một cách thâm sâu (46). Chính bởi vì Tin Mừng đã được hiện thực hóa quá lún sâu trong tinh thần Hi-lạp mà các công đồng đại kết vào các thế kỷ 4 và 5 trở nên cần thiết, nhất là Công Đồng Nicea (325), Constantinople (381), Ê-phê-sô (431), và Chalcedon (451) – để thanh lọc đức tin cho khỏi những bồi đắp không lành mạnh của các phạm trù triết lý Hi-lạp. Chúng ta cũng đã cần đến những công đồng đại kết của Tây phương, nhất là Công Đồng Lateran I (1123), Lateran II (1215) và Trent (1545 – 1563), để thanh lọc đức tin cho khỏi những vấy nhiễm của văn hóa Trung Cổ. Công Đồng Vatican I (1869 – 1870) đã được cần đến để giải phóng đức tin được mạc khải cho khỏi những thái quá của chủ nghĩa duy lý thuộc các thế kỷ 18 và 19. Vatican II cũng được cần đến để “diễn tả sứ điệp Tin Mừng bằng một ngôn ngữ có sức thuyết phục và đầy ý nghĩa” (47) sao cho người ta trong bối cảnh đa nguyên văn hóa của thế giới hôm nay có thể hiểu sứ điệp của Đức Giêsu trong tất cả tính nguyên tuyền và chân thực của nó.
Kể từ Công Đồng Giêrusalem, lịch sử của sự phát triển Giáo Hội chính là lịch sử của Tin Mừng gặp gỡ các nền văn hóa của mỗi thời đại (48); đầu tiên là công cuộc Phúc Âm hóa thế giới Hi-lạp, rồi sau đó công cuộc Phúc Âm hóa các dân tộc Germanic và Slavic được điều động bởi một động lực hội nhập văn hóa đích thực. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng động lực ấy đã phá sản vào buổi ban đầu của thời hiện đại, trong công cuộc loan báo Tin Mừng ở Mỹ Châu, Phi Châu và Viễn Đông, bất chấp những nỗ lực của một số nhà tiên phong như Cha Roberto dei Nobili ở Ấn Độ và Cha Mateo Ricci ở Trung Hoa. Trong suốt bốn thế kỷ qua, hội nhập văn hóa đã trở thành tiếp biến văn hóa – bởi vì công cuộc loan báo Tin Mừng đã muốn làm cho văn hóa tây phương giữ thế thượng phong trên các nền văn hóa bản xứ, và qua đó phá vỡ một lề lối loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa vốn đã kéo dài hơn 1500 năm.
iv. công cuộc hội nhập văn hóa của đời tu
1. Đặc Sủng Đời Tu Xét Như Một Thách Đố
Những gì đã đề cập về mối quan hệ giữa Tin Mừng và văn hóa cũng có thể được áp dụng cho đời sống tu trì, hay nói chính xác hơn, cho đặc sủng của mỗi hội dòng – bởi vì đây không phải là vấn đề lý thuyết mà chính là những sự kiện cụ thể của đời sống. Sự hiện diện của bất cứ cơ chế tu trì nào trong Giáo Hội đều phải thông qua trung gian của một con người – nam hay nữ – là người đã cảm nhận một thách đố tại một thời điểm đặc thù trong lịch sử của một Giáo Hội địa phương, và là người đã đáp trả lại thách đố ấy một cách thích đáng xuyên qua việc đọc lại Tin Mừng dưới sự thúc đẩy nhưng không của Chúa Thánh Thần. Sự đáp trả này, vì thế, có liên quan đến mối tương giao giữa một cách cảm nhận Tin Mừng mới mẻ và việc cụ thể hóa cảm nhận đó trong một bối cảnh văn hóa đặc thù.
Nhưng mỗi thời sự việc mỗi khác, và những thách đố ban đầu tự hiện lộ ra dưới những khuôn mặt mới – trong khi Lời Chúa vốn đã khơi các thách đố ấy lên tại một thời điểm nhất định thì vẫn không hề thay đổi. Vì thế, tính chính thống và tính liên tục của một đặc sủng tu trì sẽ – một đàng – hoàn toàn tùy thuộc vào sự cắm rễ của nó trong Tin Mừng, và – đàng khác – sẽ tùy thuộc vào khả năng độc lập của nó đối với bối cảnh Giáo Hội, văn hóa và xã hội mà ở đó nó xuất hiện. Cũng thế, Tin Mừng bảo toàn mối gắn kết riêng của nó với Ngôi Lời Nhập Thể trong khi nó độc lập khỏi cảnh vực tôn giáo, văn hóa và xã hội thuộc Do Thái giáo – là cảnh vực mà nó đã hội nhập vào trước hết.
2. Sự Thích Nghi Không Ngừng Đặc Sủng Tu Trì
Phao-lô thành Tarsus đã thích nghi Tin Mừng cho thế giới Hi-lạp, phổ biến sứ điệp của Đức Giêsu cho các dân tộc thuộc mọi thời và mọi chủng tộc mà không hề đồng hóa sứ điệp ấy với bất cứ chủng tộc nào hay thời đại nào. Đây cũng chính là điều mà mọi đặc sủng tu trì phải vận dụng nếu muốn sống còn trong không gian và thời gian.
Ở đây có thể có một cám dỗ, và chúng ta đã thấy rằng trong lịch sử, có những lúc Giáo Hội đã ngã vào cám dỗ này. Trong nhiều thế kỷ, Giáo Hội đã rao giảng Tin Mừng cho mọi phần còn lại của thế giới bằng cách chỉ dựa vào có một nền văn hóa riêng biệt – đó là nền văn hóa tây phương, và hơn nữa, đó là nền văn hóa tây phương cứng ngắt. Các cơ chế tu trì rõ ràng cũng đã được định hình bởi nền văn hóa cứng ngắt này như một lý tưởng phải bảo tồn bằng mọi giá.
Giống như trường hợp của Phao-lô trong Giáo Hội sơ khai, một khi Giáo Hội chấp nhận rằng lý tưởng của mình không phải là tính cục bộ cũng không phải là tính cứng ngắt của Do Thái giáo, nhưng là tính đại đồng và đa bản sắc Hi La, các cơ chế tu trì cũng tìm cách xây dựng đặc sủng của riêng mình trong một cơ sở đa nguyên về văn hóa – như trường hợp của chính Giáo Hội. Đó là điều không thể khác được bởi vì các cơ chế tu trì phát xuất từ và cắm rễ trong chính đời sống của Giáo Hội – các cơ chế ấy cũng tìm cách hội nhập vào phần lớn các nền văn hóa đa dạng, với tất cả những rủi ro có thể gặp phải.
Do đó, từ viễn tượng hội nhập văn hóa, ta có thể nhận thấy rằng quả là sai lầm đáng tiếc việc các cơ chế tu trì đặt ra câu hỏi sau đây: Làm thế nào để cụ thể hóa một sự rập khuôn về lối sống, về huấn luyện và về việc thực thi sứ mạng tông đồ trong khi vẫn trung thành với đặc sủng của mình trong các nền văn hóa quá khác biệt so với nền văn hóa tây phương – bởi vì đa số các cơ chế tu trì đã xuất hiện trong bối cảnh Châu Âu và chịu ảnh hưởng của cảnh vực văn hóa Châu Âu?
Câu hỏi trên đáng lẽ phải được đặt ra theo chiều hướng ngược lại: Làm thế nào để sáng tạo ra những hình thức sống theo sự gợi hứng đặc biệt của Chúa Thánh Thần để đáp ứng một trang sử đặc biệt của Tin Mừng? Làm thế nào để sáng tạo ra những hình thức loan báo Tin Mừng và huấn luyện trong căn tính của hội dòng tại những hoàn cảnh văn hóa xã hội và tôn giáo mà người ta muốn Phúc Âm hóa, những hoàn cảnh vốn khác biệt so với hoàn cảnh của tây phương?
Do bởi những hoàn cảnh văn hóa xã hội khác biệt mà trong đó các tu sĩ tìm cách phục vụ Chúa nơi các anh chị em bé mọn nhất của Người, chúng ta sẽ cần những hình thức sống đa dạng, những hình thức huấn luyện và Phúc Âm hóa khác với những hình thức mà từ đó một đặc sủng tu trì đã xuất hiện.
Khi người tu sĩ đi đến với một đất nước xa lạ để Phúc Âm hóa đất nước ấy và – do đặc sủng tu trì của mình – cũng để thách đố người ta ở đấy (họ rất có thể cũng đã được Thánh Thần khích động qua cùng một cảm hứng Tin Mừng mà chính mình đã nhận), thì trên vai người tu sĩ sẽ là trọn vẹn gánh nặng Tin Mừng và đặc sủng tu trì của mình. Trong sự hiện diện của những người mà họ được sai tới, hoàn cảnh của họ trở nên ngổn ngang những vấn đề xung đột về văn hóa – bởi vì các tu sĩ này không phải là những người hoàn toàn vô tì vết về mặt văn hóa.
Trước hết, các tu sĩ này là những người xa lạ. Họ đến cùng với hành trang văn hóa của riêng họ, hành trang mà họ đã thấm nhiễm ngay từ tấm bé và đã trở thành bản tính thứ hai của họ. Hơn nữa, họ là những người kế tục của một Giáo Hội đặc thù và của một cơ chế tu trì đặc thù.
Xét về đức tin cá nhân và về việc rao giảng sứ điệp của Đức Giêsu, thì các tu sĩ ngoại quốc bắt đầu với một dữ kiện không thể tránh được: Lời Chúa trong hình thức thành văn – hay Thánh Kinh – và việc giải thích đặc sủng tu trì của mình. Họ bắt đầu với những định thức vốn đã được phát triển trong một bối cảnh văn hóa khác hẳn với bối cảnh mà họ gặp thấy nơi đất nước mà họ được sai tới.
Điều đó có nghĩa rằng hầu như ngay lập tức người tu sĩ phải trở thành những người phiên dịch – làm cho sứ điệp của Đức Giêsu và đặc sủng tu trì của mình có thể được nhận hiểu bởi những người nói một ngôn ngữ khác với mình và có một cảm quan văn hóa cũng khác với mình. Nói cách khác, họ không chỉ là những nhà phiên dịch các bản văn, mà còn là nhà phiên dịch của những thực tại mà những người bản xứ chung quanh họ có thể không hiểu được ngay từ đầu.
Những người tu sĩ đến từ nền văn hóa khác không bao giờ giữ một vị trí hoàn toàn khách quan; sự kiện đó có thể gây nên sự xuất hiện tất yếu của những căng thẳng văn hóa vô phương giải quyết và của chủ nghĩa dân tộc quá khích.
3. Mối Tương Tác Giữa Đặc Sủng Tu Trì Và Văn Hóa
“Việc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” và một mức nào đó “việc thể hiện đặc sủng tu trì được hội nhập văn hóa” là sự tương tác giữa mảnh đất (tức nền văn hóa) và hạt giống (tức Lời Chúa và đặc sủng tu trì), thông qua việc đọc lại Tin Mừng trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, một việc đọc lại phải nhuần thấm vào một thái độ đáp trả độc đáo và đầy sáng tạo về phía những người đón nhận sứ điệp. Người tu sĩ thúc đẩy sự hội nhập văn hóa này của Tin Mừng và của đặc sủng tu trì của riêng mình, nhưng nó xảy ra bên ngoài họ và không có họ. Nó là một mầu nhiệm diễn ra một cách âm thầm nơi cõi lòng của những con người đón nhận Tin Mừng và trong sự hiện diện của mầu nhiệm ấy. Các tu sĩ ngoại quốc chỉ là những tôi tớ vô dụng. Họ đã diễn dịch, rao giảng và trình bày một sứ điệp – sứ điệp của Đức Giêsu – nhưng sau khi hoàn thành công việc bé nhỏ ấy, họ âm thầm lui ra để chờ đợi một sự đáp trả, chờ đợi sự nẩy mầm và sự phát triển không do mình làm ra, nhưng chỉ do một mình Thiên Chúa: Người này trồng, người kia tưới, nhưng chỉ Thiên Chúa mới có thể cho mọc lên!
Tuy nhiên, sự đáp trả của những người đón nhận Tin Mừng cũng không phải là kết cục. Vẫn cần có sự thẩm xét: các tu sĩ, các thừa sai rao giảng Tin Mừng phải thẩm xét xem sự đáp trả ấy có bao hàm trọn vẹn Tin Mừng – và chỉ bao hàm Tin Mừng mà thôi – hay không. Công việc này giúp họ có thể hoàn thiện việc diễn dịch, việc “loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa” của họ. Hay nói cách khác, các tu sĩ ngoại quốc hiện diện trước và sau cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng và của đặc sủng dòng tu. Nhưng trong chính cuộc hội nhập văn hóa, trong chính cuộc nẩy mầm, thì những người duy nhất hiện diện là những đối tượng của sứ mạng – tức những người sẽ đáp trả dưới tác động của Thánh Thần làm việc nơi họ. Các tu sĩ rao giảng Tin Mừng không thể áp đặt sự đáp trả ấy bởi vì điều đó sẽ có nghĩa là áp đặt lên người khác sự đáp trả của mình đối với tiếng gọi từ công cuộc loan báo Tin Mừng hay từ sự huấn giáo mà mình đã lãnh nhận, hay điều đó sẽ có nghĩa là cấy lại chính Giáo Hội đặc thù của riêng mình. Điều đó sẽ không tạo ra được Giáo Hội đặc thù của những người đón nhận Tin Mừng bởi vì tương lai của họ là một cái gì bị áp đặt, và họ hoàn toàn không có tiếng nói – bởi vì xem ra những tu sĩ rao giảng Tin Mừng đã nói hết tất cả rồi – và điều tương tự cũng xảy ra với đặc sủng dòng tu của họ: cộng đoàn tu trì sẽ không phát xuất từ bên trong những con người tại chỗ, nhưng như một cái gì được đùn tới từ bên ngoài. Hơn nữa, các tu sĩ xuất thân từ địa phương ấy hay từ Giáo Hội đặc thù ấy sẽ không có cách thế của riêng mình để diễn tả ân huệ mà mình đã nhận lãnh từ Thánh Thần. Nói cách khác, Giáo Hội, hay dòng tu, đều không phải là chủ thể cũng không phải là đối tượng của công cuộc hội nhập văn hóa. Giáo Hội và dòng tu – ở đây và lúc này – là hoa trái được sinh ra và không ngừng lớn lên từ Tin Mừng và từ đặc sủng dòng tu một cách nào đó, trong hình thức của một Giáo Hội địa phương và một cộng đoàn tu trì địa phương – trở thành tiêu điểm của một sự đáp trả mới mẻ về mặt văn hóa đối với Tin Mừng và đối với đặc sủng dòng tu.
4. Hội Nhập Văn Hóa Và Trung Thành Với Đặc Sủng Nguyên Thủy Của Mình
Hội nhập văn hóa phải là yếu tố thường hằng của hoạt động tông đồ của người tu sĩ bởi vì
trung thành với nguyên lý nhập thể, họ phải đạt đến công cuộc loan báo Tin Mừng được hội nhập văn hóa , phải phấn đấu để thích nghi lối sống và sứ điệp của họ với những điều kiện văn hóa của dân tộc hay của nhóm người mà họ loan báo Tin Mừng cho. (49)
Aùp dụng những gì đã nói ở đây về Tin Mừng cho việc hội nhập văn hóa của một đặc sủng tu trì, chúng ta phải kết luận rằng
các tu sĩ bản địa phải diễn tả, sống và cử hành đặc sủng riêng của mình theo các phạm trù văn hóa riêng của mình,
trong khi vẫn trung thành với những nội dung chuyên biệt của đặc sủng ấy và trong sự hiệp thông hoàn toàn với dòng tu mà mình thuộc về.
Như vậy, để có một cuộc hội nhập văn hóa đích thực của dòng tu vào một dân tộc nào đó, thì việc có được những tu sĩ xuất thân từ dân tộc đó mà thôi vẫn chưa đủ – nếu khi tham gia vào hội dòng họ vẫn còn ở trong tình trạng xa lạ về mặt văn hóa, do bởi sự thực dân về trí thức và tinh thần, hay do bởi một lối huấn luyện không ăn khớp gì với tương lai của họ. Cần phải đi từ một đặc sủng dòng tu được suy tư và được sống dựa trên những phạm trù văn hóa xa lạ tới một đặc sủng dòng tu được suy tư và được sống theo những sắc dạng văn hóa bản địa.
Đức Phao-lô VI đã nói với các giám mục Zaire: “Công việc của chư huynh là Phi Châu hóa”. Chúng ta cũng có thể bắt chước kiểu nói ấy để nói với các tu sĩ thuộc mọi miền trên thế giới trong qui chiếu đến cộng đoàn tu trì của họ – như Đức Gio-an Phao-lô II cũng đã ngỏ lời với các giám mục Zaire:
Hội nhập văn hóa là công việc bao trùm tất cả mọi lãnh vực vẫn còn chưa được khám phá đầy đủ, chẳng hạn ngôn ngữ để trình bày sứ điệp Kitô giáo sao cho nó có thể đạt tới tinh thần và con tim của những người Zaire, huấn giáo, suy tư thần học, phụng vụ, nghệ thuật thánh và các hình thức của đời sống cộng đoàn Kitôhữu.
Cũng như chính Đức Gio-an Phao-lô II đã nói, tiến trình hội nhập văn hóa này phải đạt tới mức làm cho “Đức Kitô trở thành một người Phi Châu giữa các chi thể của thân thể Người.”
Các Đức Hồng Y Pironio và Rossi, tổng trưởng của hai Thánh Bộ Tu Sĩ và Truyền Giáo, trong một bức thư gửi cho các tu sĩ Phi Châu đề ngày 3 tháng sáu, 1979, đã vạch ra những chỉ dẫn căn bản rằng các tu sĩ cần phải quan tâm tới công cuộc Phi Châu hóa đời sống tu trì. Chắc chắn các tu sĩ khác thuộc mọi vùng trên thế giới cũng cần vận dụng cho mình những chỉ dẫn này khi họ cố gắng thể hiện cụ thể hay hội nhập văn hóa các yếu tố căn bản của đặc sủng dòng tu mình vào nền văn hóa gốc của mình.
Để đúc kết những gì vừa nói về công cuộc hội nhập văn hóa của đời tu trong bức thư nói trên, chúng ta có thể xác lập các nguyên tắc sau đây:
• Công cuộc hội nhập văn hóa đòi hỏi rằng sự thánh hiến cho Thiên Chúa trong đời tu phải được sống trong bối cảnh văn hóa xã hội của mỗi quốc gia và dân tộc, sao cho đặc sủng của hội dòng có thể được người xung quanh nhìn thấy như một dấu hiệu kỳ diệu của tình yêu đích thực của Thiên Chúa và của tha nhân.
• Công cuộc hội nhập văn hóa của một đặc sủng tu trì cũng có nghĩa là phải kết hiệp trong tình yêu của Thiên Chúa và tha nhân những giá trị của nền văn hóa mình – trong mối hòa điệu với Tin Mừng – bởi vì cũng như Giáo Hội, các dòng tu phải tôn trọng những giá trị luân lý và tôn giáo của mọi nền văn hóa. (50)
• Các tu sĩ bản xứ không cần phải từ bỏ các giá trị văn hóa của mình. Thay vào đó, các giá trị ấy phải được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng và phải được biện phân để nhận ra những điều tốt lành và chân thực ngõ hầu trao cho những điều ấy một chiều kích mới trong đời sống thánh hiến của mình. Một số trong những giá trị này có thể được sáp nhập ngay lập tức – mặc dù chúng cũng phải được thanh luyện. Tất cả những điều này đòi phải có sự biện phân và nỗ lực. (51)
• Trên tất cả, các tu sĩ bản xứ phải luôn luôn ghi nhớ rằng mọi nền văn hóa, cũng như mọi dân tộc, đều cần phải hoán cải trong tinh thần và chân lý (Ga 4, 24) và rằng việc chuyển trao những giá trị của một đặc sủng tu trì cho bất cứ nền văn hóa nào cũng luôn luôn đòi hỏi một bước đột phá về chất lượng, vượt quá tất cả những gì vốn được giả định là những giá trị thật – bởi vì cũng như Tin Mừng, đặc sủng tu trì không được đồng hóa với bất cứ một nền văn hóa nào. (52)
• Cần phải phấn đấu để có được việc Phúc Âm hóa đích thực cho các nền văn hóa (53), cũng vậy, các tu sĩ sẽ phải phấn đấu để giới thiệu đặc sủng của mình trong bối cảnh của nền văn hóa mà mình đang sống.
• Hội nhập văn hóa là điều bắt buộc nếu chúng ta muốn một đặc sủng tu trì được cảm nhận như một chứng từ hùng hồn của Triều Đại Thiên Chúa. (54)
• Các tu sĩ không bao giờ được phép quên rằng đặc sủng của dòng tu mình được cắm rễ trong các giá trị phổ quát của Tin Mừng, tức những giá trị chung cho mọi tu sĩ khác, bất kể những cảnh vực văn hóa khác nhau mà trong đó người ta sống và rao giảng Tin Mừng.
5. Sự Trung Thành Của Người Tu Sĩ Đối Với Các Nền Văn Hóa Bản Xứ
Tất cả các cơ chế tu trì đều có những kinh nghiệm nào đó về tính đa nguyên văn hóa thuộc các thời đại khác nhau – tính đa nguyên này rõ ràng có thể giúp làm phong phú các cơ chế tu trì trong khả năng truyền giáo của mình. Có lẽ không phải lúc nào chúng ta cũng lưu tâm đủ đến điều này – mặc dù ngày nay tính cấp bách của một cuộc hội nhập văn hóa đích thực được nêu bật rõ hơn bao giờ.
Là một phần không thể tách rời của Giáo Hội (LG 44), các đặc sủng tu trì phải tìm cách để nêu lời chứng về sự trung thành đối với Đức Kitô và đối với Giáo Hội, đáp trả chu tất những nhu cầu vật chất, tinh thần và văn hóa của các dân tộc mà mình được sai đến. Phải không ngừng thể hiện một nỗ lực lớn hơn và hiệu quả hơn để hài hòa giữa các giá trị căn bản phổ quát của đặc sủng tu trì và các giá trị của các nền văn hóa bản địa.
Nếu người tu sĩ thực sự sống dự phóng và sứ mạng của mình, thì nền văn hóa mà họ hội nhập vào sẽ được đạt đến trong tận chiều sâu thẳm của nó, cả bằng lối sống lẫn bằng công việc loan báo Tin Mừng của người tu sĩ. Đặc sủng dòng tu, với chiều kích mang tính Tin Mừng nhiều nhất của nó, phải thấm nhập vào các giá trị cơ yếu của đời sống các dân tộc: các tiêu chuẩn, các lối nghĩ, các mối quan tâm của họ … cho đến khi nó đạt đến chính cái cốt lõi nhất của nền văn hóa.
Bằng lối sống đặc thù của mình, các tu sĩ thuộc mọi quốc gia, chủng tộc hay văn hóa sẽ thúc đẩy tất cả anh chị em xung quanh mình vào cuộc hoán cải thâm sâu, từ đó họ có thể điều chỉnh lại các giá trị và các tiêu chuẩn của họ theo những giá trị và tiêu chuẩn được gợi hứng từ Tin Mừng. Chính các giá trị Tin Mừng, khi được các tu sĩ sống một cách triệt để, sẽ đem lại một sự đổi mới không ngừng và thậm chí một sự chuyển hóa cho các nền văn hóa, nhất là khi có một cố gắng trực tiếp và dứt khoát nhằm đạt được một sự thay đổi về văn hóa và xã hội để thể hiện những giá trị nhân văn nền tảng.
6. Một Đặc Sủng Tu Trì Tạo Ra Những Biểu Hiện Văn Hóa Mới
Theo nghĩa này, tức theo ý nghĩa chính xác và chân thực nhất của nó, hội nhập văn hóa là một sự tương tác giữa văn hóa và đặc sủng tu trì. Mối tương tác này phải dẫn tới một sự đáp trả đầy sáng tạo bởi vì người tu sĩ sẽ phải diễn dịch các giá trị chuyên biệt của mình thành một ngôn ngữ mới – dù là trường hợp người tu sĩ ngoại quốc đối thoại với một nền văn hóa bản địa trường hợp người tu sĩ bản xứ sống trong nền văn hóa của chính mình. Nói cách khác, thời nào cũng vậy và tại cảnh vực văn hóa nào cũng vậy, người tu sĩ phải truyền đạt các giá trị cốt yếu của đặc sủng dòng tu mình, truyền đạt cách hiểu và sống mối quan hệ của mình với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới vật chất sang ngôn ngữ của nền văn hóa mà mình đang sống trong đó, dù đó là nền văn hóa mà mình mới tiếp cận hay là nền văn hóa gốc của mình; hoặc phải truyền đạt sang một ngôn ngữ cách tân trong trường hợp có xảy ra một sự chuyển biến văn hóa gốc của mình.
Dự phóng đời tu, đẩy đến mức đòi hỏi cao nhất, sẽ nhất thiết phải tác động đến văn hóa, bởi vì người tu sĩ trở nên tự do khi họ trở thành thầy dạy của thế giới, làm cho thế giới có tính nhân văn bằng công việc làm và sự khôn ngoan của mình; họ trở nên tự do khi họ trở thành người anh em hay chị em của mọi người xuyên qua một tình yêu được thể hiện bằng sự phục vụ và thăng tiến người khác, nhất là những người nghèo túng nhất; họ trở nên tự do khi – bằng việc sống chức phận con cái Thiên Chúa của mình – họ mở lòng ra với mầu nhiệm của Đấng mời gọi mình vào mối hiệp thông hoàn toàn với Ngài, như mối hiệp thông giữa cha mẹ và con cái. (55)
Ở đây, chúng ta không đang đặt vấn đề phải chăng có thể có một nền văn hóa đặc thù nào đó cho mọi cơ chế tu trì, như kiểu người ta vẫn thường đặt vấn đề về sự tồn tại của một văn hóa ẩn tu (monastic culture) (56). Người tu sĩ phải xác tín đầy đủ về tác động mà dự phóng sống đặc sủng của mình tạo ra nơi mỗi trong ba chiều kích quan hệ của con người. Mỗi trong ba yếu tố nền tảng của cuộc thánh hiến tu trì đều dựa trên ba chiều kích: khó nghèo (tương quan với thế giới vật chất), vâng phục (tương quan với tập thể của cộng đoàn tại chỗ nói riêng và của dòng tu nói chung) và khiết tịnh vì Triều Đại Thiên Chúa (tương quan với con người nam-nữ).
Một lối sống được đặc điểm hóa bởi mối tương quan ba mặt này không thể không được diễn tả trong một ngôn ngữ và trong những dấu hiệu hữu hình. Để minh họa, chúng ta chỉ cần nhớ lại lai lịch khai sinh của nhạc, họa, thi ca, nghệ thuật và biện chứng trong thế giới tu trì tại những tu viện thuộc các dòng hành khất.
v. cuộc nhập thể của Đức Kitô – mẫu thức cho cuộc hội nhập văn hóa của các tu sĩ
1. Hội Nhập Văn Hóa, Một Quyền Và Một Trách Nhiệm
Không nên xem hội nhập văn hóa như một sự nhân nhượng mà người tu sĩ của một nền văn hóa nào đó bắt những người tu sĩ đến từ một nền văn hóa khác phải chịu. Hội nhập văn hóa vừa là một quyền vừa là một trách nhiệm đối với cả hai bên, và nó được cắm rễ trong chính mạc khải của Đức Kitô và là hệ quả của suy tư thần học Phân tích đến cuối cùng, chúng ta thấy hội nhập văn hóa hoàn toàn là sự nối tiếp thực tại cứu độ của mầu nhiệm nhập thể của Đức Kitô được làm cho hữu hình trong nền văn hóa của một dân tộc. Ngay từ đầu, Giáo Hội đã đi theo con đường này, mặc dù không may là cũng đã có một thời trong đó Giáo Hội La tinh dường như đồng hóa sứ điệp Tin Mừng với nền văn hóa Châu Âu hay tây phương. Tuy nhiên, ngay cả trong những giai đoạn thực dân gay gắt nhất, các nhà thừa sai tên tuổi cũng đã cố gắng hội nhập văn hóa Tin Mừng vào giữa các dân tộc mà các ngài rao giảng Tin Mừng cho – bất chấp những khó khăn về mặt Giáo Hội cũng như về mặt dân sự. Thật vậy, Giáo Hội chính thức cũng đã đưa ra một số hướng dẫn cho mục đích đó. Chẳng hạn, vào năm 1659, một Huấn Thị của Propaganda Fide (Bộ Truyền Giáo) đã cảnh báo các nhà thừa sai phải dè chừng xu hướng biến những người được Phúc Âm hóa trở thành người Tây Ban Nha, người Bồ Đào Nha, người Pháp hay người Ý- viện cớ rằng phải đem họ về cho Đức Kitô.
Đàng khác, mục tiêu cũng không phải là Phi Châu hóa hay Đông phương hóa các cơ chế tu trì. Thay vào đó, tất cả các tu sĩ – dù thuộc cảnh vực văn hóa nào – cũng phải đón nhận và sống đặc sủng dòng tu từ bên trong. Cuộc nhập thể của Đức Kitô phải được tiếp tục, nghĩa là, từ tính chuyên biệt của một đặc sủng tu trì, Đức Kitô phải hiện diện trong những con người cụ thể – dù đó là những con người tôi tớ thấp hèn – bởi vì trong mầu nhiệm nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhận lấy thân phận của một người tôi tớ thấp hèn (Pl 2, 6 – 11).
Mầu nhiệm nhập thể không thể được sống duy chỉ dựa trên nền tảng là định mệnh lịch sử của Do Thái giáo như trong trường hợp của Kitô giáo thuở đầu tiên, mà còn dựa trên định mệnh lịch sử của thế giới Hy-La hay của bất cứ dân tộc nào khác – là những người có thể dễ dàng đón nhận sứ điệp của Đức Giêsu vì sứ điệp này không bị đồng hóa với bất cứ nền văn hóa nào.
Vì thế, hội nhập văn hóa đồng nghĩa với nhập thể. Giờ đây chúng ta đi vào trong trọng tâm của Tin Mừng và từ Tin Mừng chúng ta đi vào trong trọng tâm của một đặc sủng tu trì. Giống như Tin Mừng, đặc sủng tu trì không dựng nên một rào chắn nào đối với các nền văn hóa của các dân tộc. Thay vào đó, nó phá vỡ những rào chắn ngăn cản nó hội nhập vào mọi nền văn hóa và mọi dân tộc. Khởi đi từ chính một nền văn hóa và một dân tộc đặc thù, nó đem lại những gia sản mới, những cách nghĩ, cách hành động và cách cử hành mới.
2. Hội Nhập Văn Hóa Không Phải Chỉ Là Một Chiến Lược – Nhưng Là Một Thái Độ Căn Bản Của Người Tu Sĩ Ngoại Quốc
Hội nhập văn hóa không phải chỉ là một chiến lược mục vụ của người tu sĩ. Nó là một cái gì cốt yếu hướng đến trọng tâm của căn tính sứ mạng người tu sĩ. Như hiến pháp của một dòng tu nêu rõ khi thúc đẩy các thành viên của mình
phát triển cảm thức Công Giáo để đi đến mọi miền trên thế giới, với một tâm hồn rộng mở, biết trân trọng các tập quán, các giá trị tôn giáo và văn hóa của các dân tộc. (58)
Đối với vấn đề phải chăng có một thái độ mục vụ nào đó đáng khuyến khích để phù hợp với việc hội nhập văn hóa của Tin Mừng, câu trả lời của Thomas H. Groome cũng có thể được người tu sĩ ngoại quốc áp dụng cho việc hội nhập văn hóa của đặc sủng tu trì. Các tu sĩ ngoại quốc phải xác tín về sự cần thiết mình phải trở thành những trung gian giữa đặc sủng dòng tu mình và nền văn hóa của dân tộc mà mình đang rao giảng Tin Mừng cho, dân tộc mà mình muốn hội dòng của mình cắm rễ vào – không phải cắm rễ theo kiểu chuyển đổi vị trí hay thích nghi mà thôi, nhưng còn hơn thế, để tiến tới sự hội nhập văn hóa đích thực.
Nếu không vậy, công cuộc hội nhập văn hóa của đặc sủng dòng tu và của cộng đoàn tu trì sẽ chỉ là một lớp sơn hời hợt bên ngoài có tính mị dân mà thôi. Đặc sủng dòng tu phải đi vào trong máu thịt của nền văn hóa. Nghĩa là, mọi tu sĩ ngoại quốc phải là những tác nhân của công cuộc hội nhập văn hóa, phải là những trung gian giữa đặc sủng dòng tu mình và nền văn hóa của dân tộc mà mình đang hiện diện để rao giảng Tin Mừng, dân tộc mà mình muốn cộng đoàn tu trì của mình cắm rễ vào. Rõ ràng, công cuộc hội nhập văn hóa này sẽ càng khẩn thiết hơn nữa đối với các nền văn hóa mà ở đó một cộng đoàn tu trì vừa mới phôi thai thành hình.
Tuy nhiên, chưa kể đến tính khẩn thiết của những nỗ lực hành động hội nhập văn hóa, mọi tu sĩ ngoại quốc trước hết phải đáp ứng các điều kiện mà đặc sủng dòng tu đặt ra cho mình và phải có một thái độ tích cực về công cuộc hội nhập văn hóa của đặc sủng ấy. Nếu chẳng vậy, mọi sự hội nhập văn hóa của họ sẽ luôn chỉ có tính hời hợt mà thôi. (59)
Để thâm nhập vào mọi nền văn hóa, Đức Giêsu đã không trở thành con người trong một nhân tính “phi-văn-hóa”. Thực tế đã xảy ra hoàn toàn ngược lại. Phổ quát tính của Đức Kitô, năng lực tác động thường hằng của Người đối với mọi thời, mọi dân tộc và mọi nền văn hóa không phải là kết quả của một tiến trình cá vị. Đúng hơn, theo thánh ý Thiên Chúa, Đức Kitô đã từ bỏ tiến trình cá vị ấy, tự trút bỏ thiên tính của mình, đến ở giữa chúng ta như một con người với trọn vẹn thân phận con người, nghĩa là, Người thuộc về một dân tộc, một nền văn hóa – chứ không phải như một con người được bốc hơi bàng bạc trong một chủ nghĩa đại đồng văn hóa nào đó (là cái không hề có thật, vì chỉ có thể có những nền văn hóa cụ thể mà thôi).
Aùp dụng điều này vào đặc sủng dòng tu, tính phổ quát của một đặc sủng như thế cũng không phải là kết quả của một dự phóng của con người. Trái lại, nó là kết quả của ân huệ Thánh Thần vốn ban đầu tồn tại nơi những con người cụ thể – tức các vị sáng lập dòng tu (và các vị này cũng xuất thân từ một giai đoạn cụ thể và trong một nền văn hóa cụ thể). Như vậy, cũng như Đức Giêsu, người tu sĩ sẽ không thể đạt tính phổ quát, không thể có được “cảm thức Công Giáo” (60) trừ phi họ chấp nhận tính đặc thù của mình, trừ phi họ hội nhập vào một nền văn hóa cụ thể. Các cơ chế tu trì sẽ không thể xuất hiện trong một dân tộc trừ phi – noi gương Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa – các cơ chế ấy biết xóa mình đi, biết biến mất đi trong tư cách là những cơ chế. Chỉ bằng cách này thì sau đó các cơ chế mới có thể xuất hiện như một cái gì độc đáo trong một dân tộc hay một nền văn hóa đặc thù nào đó – như Đức Giêsu đã trở thành con người, đảm nhận bản tính con người trong tư cách là một người Do Thái thuộc nền văn hóa Do Thái.
Đức Giêsu lịch sử đã sinh ra là một người Do Thái và Người vẫn là một con người Do Thái cho đến chết. Chỉ khi Người sống lại, Người mới trước hết phá vỡ những rào chắn Do Thái, rồi phá vỡ những rào chắn tây phương – để trở thành hoàn toàn trong suốt đối với mọi dân tộc và mọi thời đại. Với Đức Giêsu phục sinh, nhân tính mới đã xuất hiện (người ta được sinh lại trong Đức Kitô qua phép Rửa) và đã xuất hiện dân tộc mới (Giáo Hội ); dân tộc duy nhất ấy chính là Giáo Hội phổ quát và các Giáo Hội địa phương, ở đó mọi dân tộc trên mặt đất có thể và phải trở thành Dân mới của Thiên Chúa.
3. Đức Giêsu Phục Sinh, Tiêu Chuẩn Tối Hậu Của Hội Nhập Văn Hóa
Trong bối cảnh ấy, hiển nhiên là Đức Giêsu phục sinh trở thành tiêu chuẩn tối hậu cho công cuộc hội nhập văn hóa của Giáo Hội và của các đặc sủng tu trì trong Giáo Hội. Điều này có nghĩa rằng dù cho cách nghĩ và cách sống đặc sủng tu trì của người Châu Âu có tầm quan trọng đến mấy về mặt lịch sử đi nữa, thì đó vẫn không phải là cách duy nhất, cũng không phải là cách độc tôn. Tính siêu việt của Tin Mừng là chứng cứ rành rành đánh tan mọi sự phụ thuộc lịch sử hiểu như là hình thức duy nhất của ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại hay hình thức duy nhất của ơn đặc sủng được Thánh Thần trao ban cho những vị sáng lập các dòng tu. Đức Kitô đã kêu gọi mọi dân tộc và mọi quốc gia: không phân biệt lớn hay nhỏ, khôn ngoan hay dốt nát, giàu hay nghèo. Thánh Thần cũng có thể ban đặc sủng tu trì cho người ta thuộc mọi tầng lớp và mọi hoàn cảnh xã hội, miễn là họ thuộc về Giáo Hội duy nhất và miễn là họ kết hiệp trong chính sự sống và sự thánh thiện của Giáo Hội. (cf. LG 44)
vi. những chuyển biến về địa dư của các cộng đoàn tu trì đòi hỏi những chuyển biến về văn hóa
1. Nhiều Sự Đảo Lộn Trong Các Cộng Đoàn Tu Trì
Cho tới mới gần đây, đa số các cơ chế tu trì – cũng như chính bản thân Giáo Hội nói chung – đã sống trong những khuôn khổ hạn định của nền văn hóa tây phương. Các cộng đoàn tu trì đã có một vài ốc đảo tại những cảnh vực văn hóa ngoài Âu Châu – là những nơi mà các cộng đoàn ấy đang rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, các cộng đoàn tu trì đã không chú tâm mấy đến việc bồi dưỡng cho các tu sĩ bản xứ – cũng như Giáo Hội đã không chú tâm mấy đến việc bồi dưỡng một hàng giáo sĩ và hàng giáo phẩm bản xứ. Những cố gắng bồi dưỡng, nếu có, thì chỉ là sự truyền bá tất cả những đặc trưng văn hóa tây phương cho các giáo sĩ và tu sĩ bản xứ. Đồng thời, các giáo sĩ và tu sĩ bản xứ còn bị tước bỏ những bản sắc văn hóa riêng của mình.
Giờ đây, trái lại, các cộng đoàn tu trì – cũng như chính bản thân Giáo Hội – đang trở nên ngày càng vững chãi hơn giữa những con người trước đây vốn bị thực dân hóa cũng như được Phúc Âm hóa bởi Giáo Hội nói chung và bởi các dòng tu nói riêng. Điều này đang xảy ra cả từ viễn tượng xây dựng một Giáo Hội hay một cộng đoàn tu trì bản địa lẫn từ viễn tượng trong đó các ơn gọi gia nhập vào các dòng tu. Sự gia tăng về số lượng các tu sĩ xuất thân từ những nền văn hóa ngoài Âu Châu thật rất đáng kể tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba – là những nước mà cho tới gần đây vẫn không được xem là phù hợp để đảm nhận một cách triệt để các giá trị hay các đòi hỏi chuyên biệt của giáo sĩ, của đời sống thánh hiến nói chung, hay của mỗi đặc sủng tu trì nói riêng.
Sự trục trặc hay xáo trộn này của các dòng tu ở Châu Âu – vốn thúc đẩy sự gia tăng các dòng tu ở thế giới thứ ba và ở các cảnh vực văn hóa khác hẳn với khung cảnh văn hóa Tây phương – thì không duy chỉ bắt nguồn từ sự khủng hoảng ơn gọi (hay như người ta thường nói, từ ‘mùa đông u ám của các ơn gọi’: không có ơn gọi mới, còn các ơn gọi có sẵn thì bỏ cuộc!) nhưng còn bắt nguồn từ cái đà già nua của thế giới tây phương nữa, ở đây không muốn nói đến sự già nua về văn hóa nhưng trước hết muốn nói đến sự già nua về dân số học. Tình hình này buộc các dòng tu phải chấp nhận rằng trong ngắn hạn, việc phát triển con số các thành viên ở tây phương là không thể được. Trái lại, sự gia tăng về dân số học có thể là một trong những nguyên nhân – dù không phải là nguyên nhân chính – của sự gia tăng ơn gọi ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Đây không thể là lý do chính – bởi vì nói cho cùng, ơn gọi tu trì bắt nguồn từ siêu nhiên, vì đó là thái độ hân hoan đáp trả đối với tiếng gọi quyết liệt của Thiên Chúa dành cho mình (Mt 19, 12).
Sự đảo lộn này về con số các thành viên của các cộng đoàn tu trì tại thế giới tây phương đối chiếu với thế giới thứ ba không phải đơn thuần là một vấn đề có tính thống kê mà thôi. Nó ảnh hưởng đến các khía cạnh khác quan trọng hơn, chẳng hạn cách nhận hiểu và thể hiện một đặc sủng tu trì, những cảm nhận khác nhau đối với cùng những giá trị cốt yếu của Tin Mừng. Tất cả những điều này tương phản rõ ràng với tình hình trước đây trong đó mọi sự vốn được tiếp cận từ cảm quan, văn hóa, thần học và thậm chí từ cả lối tổ chức của thế giới tây phương.
2. Một Đặc Sủng Tu Trì Phải Được Hiện Thực Hóa Trong Một Nền Văn Hóa Cụ Thể
Cuộc hội nhập văn hóa của các dòng tu hệ tại không chỉ ở chỗ chấp nhận một tính đa nguyên lành mạnh, càng không chỉ ở chỗ vận dụng một sự phân quyền trong các tỉnh dòng và các chi nhánh tỉnh dòng. Nó liên hệ đến một cái gì còn phong phú hơn nhiều cho các cộng đoàn bản xứ tại bất cứ quốc gia nào. Tiêu điểm là việc làm cho sức sống hoạt của Giáo Hội trở thành sức sống hoạt của chính mình. Bất cứ nơi nào Giáo Hội bắt rễ vào trong những bản sắc của những con người đến với đức tin lần đầu tiên, hay những con người được đổi mới nhờ các viễn tượng hội nhập văn hóa của Giáo Hội, ở đấy sẽ nhất thiết xuất hiện một đời sống tu trì với chính những bản sắc ấy – miễn là người tu sĩ ngoại quốc biết nhạy cảm với những đặc nét văn hóa của những con người bản địa. Khi nói về các Giáo Hội trong quá trình thiết lập, Công Đồng Vatican II đã khẳng định rằng tính viên mãn của Giáo Hội không tồn tại nếu không có sự hiện diện của một hình thức sống tu trì nào đó, nhất là hình thức sống chiêm niệm. (61)
Cuộc hội nhập văn hóa của các dòng tu sẽ không tự nhiên xảy ra như kiểu ‘trên trời rơi xuống’; các tu sĩ sẽ phải hết sức chú tâm và làm việc tích cực để có được sự hội nhập văn hóa này; nếu không, những mối nguy hiểm nghiêm trọng có thể sẽ đe dọa đến tính thống nhất của dòng và trở thành nguyên nhân làm cho cộng đoàn trở thành manh mún. Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác mối nguy này.
Nguy cơ nói trên sẽ càng rõ rệt hơn khi các dòng tu càng bành trướng rộng hơn trên khắp thế giới. Các dòng tu sẽ phải đối diện với vấn nạn bức thiết này:
Phải chăng một đặc sủng tu trì phải gắn chặt với kiểu thức văn hóa trong đó Giáo Hội xuất hiện lần đầu tiên?
Và do đó:
Phải chăng bất cứ nền văn hóa nào cũng có thể tiêu hóa một đặc sủng tu trì vốn không vọt lên từ bên trong, mà không hề có một cuộc đối thoại trước đó của đặc sủng tu trì ấy với nền văn hóa này?
Câu trả lời rõ ràng là KHÔNG cho cả hai trường hợp. Một đặc sủng tu trì không gắn chặt một cách độc quyền với nền văn hóa đầu tiên của nó, cũng sẽ không thể bộc lộ trong bất cứ nền văn hóa nào khác nếu như không có sự đối thoại trước. Tổng Công Hội của một hội dòng đã dứt khoát dàn xếp vấn đề này bằng cách bắt đầu một cách khái quát rằng – dựa trên linh đạo của riêng mình trong tư cách là những người nghe và phục vụ Lời Chúa – các tu sĩ của mình phải hội nhập
những gia sản linh đạo và những giá trị văn hóa của các dân tộc mà mình đang sống đặc sủng của mình ở giữa họ; (62)
và cũng vậy, khi nói rằng sự dấn thân cho công cuộc tân Phúc Âm hóa thúc ép các tu sĩ
đổi mới chiều kích truyền giáo “cho các dân ngoại” của đặc sủng mình, học tập để đối thoại với các truyền thống và các nền văn hóa của các dân tộc thuộc các niềm tin khác, đa số trong đó là những dân tộc nghèo; (63)
hay khi đặc biệt qui chiếu đến sứ mạng làm người phục vụ cho Lời Chúa ở Á Châu và Châu Đại Dương, nơi mà điều phải được nhấn mạnh là
một sự dấn thân không ngừng trong việc tìm tòi những lãnh vực mới và những hình thức cụ thể của sứ mạng truyền giáo của chúng ta, trong cuộc đối thoại của đức tin và đời sống với các tôn giáo, các nền văn hóa khác, và với người nghèo; (64)
và liên quan với nền văn hóa Phi Châu,
chúng ta sẽ trình bày trọn vẹn sứ điệp của Đức Giêsu Kitô với lòng kính trọng các nền văn hóa Phi Châu sao cho các nền văn hóa ấy có thể thanh luyện và điều hợp các giá trị của mình trong ánh sáng của Tin Mừng. (65)
3. Những Yêu Cầu Của Việc Huấn Luyện Hội Nhập Văn Hóa Cho Các Tu Sĩ Bản Xứ
Như chúng ta có thể nhận thấy trong lịch sử của các dòng tu cũng như trong lịch sử của Giáo Hội, chúng ta đã sa vào nguy cơ thần thánh hóa một nền văn hóa nào đó, nhất là nền văn hóa tây phương, chúng ta lẫn lộn cốt lõi của một đặc sủng tu trì hay của Phúc Âm với các cảnh vực văn hóa xã hội bao quanh đặc sủng nguyên thủy. Thái độ này đã bỏ qua sự kiện thực tế rằng bất cứ nền văn hóa nào, chẳng hạn văn hóa tây phương, cũng chỉ là một nền văn hóa giữa nhiều nền văn hóa khác. Hiển nhiên là mỗi nền văn hóa đều có những giới hạn của riêng mình, và do đó nếu nó được thần thánh hóa, nó sẽ trở nên bị làm cho nghèo nàn đi – trong trường hợp như thế, chính đặc sủng tu trì và ngay cả Tin Mừng được giới thiệu vào trong nền văn hóa này cũng sẽ bị thui chột đi. Ngày nay, điều này càng nguy hiểm hơn nữa bởi vì thế giới hiện đại đang có những mối quan hệ liên văn hóa rất mạnh mẽ.
Đàng khác, cũng hiển nhiên rằng trong mọi nền văn hóa đều có những khía cạnh tích cực có thể được tiếp nhận bởi những người thuộc các nền văn hóa khác. Nhưng, bên cạnh những yếu tố tích cực, cũng có những khía cạnh tiêu cực hay những phản giá trị cần phải được thanh luyện. Ở đây cần có một công việc biện phân thấu đáo, cả về phía các tu sĩ bản địa lẫn về phía các tu sĩ ngoại quốc vốn lạ lẫm với nền văn hóa tại đây.
Việc biện phân này phải đặc biệt tế nhị trong những cảnh vực văn hóa có tồn tại các hình thức sống đời tu trì hay các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Có khả năng chúng ta vận dụng một số khía cạnh văn hóa và tôn giáo của người ta để làm phương tiện qua đó các giá trị nền tảng của một đặc sủng tu trì Kitô giáo có thể được hiện lộ. Cũng cần phải nêu chứng tá về đức tin Kitô giáo và về đặc sủng tu trì dựa trên căn bản của cái làm nên tính độc đáo của Tin Mừng – trong những hình thức có thể chấp nhận được đối với các tu sĩ Kitô giáo dựa trên cơ sở là chính căn tính của họ, ngay cả dù những hình thức này duy chỉ có tính nhân loại học hay văn hóa mà thôi.
Từ những gì vừa nói trên, chúng ta có thể suy ra tầm quan trọng quyết định của việc huấn luyện chuyên biệt cho các tu sĩ trong chính cảnh vực văn hóa của họ – mà dĩ nhiên không đánh giá thấp giá trị to lớn của việc giao lưu văn hóa. Điều này đòi hỏi sự chú ý đặc biệt của các tu sĩ ngoại quốc chịu trách nhiệm huấn luyện các ứng viên cho cộng đoàn mình tại một nước không phải bản quốc của mình. Các nhà huấn luyện ngoại quốc không thể huấn luyện các tu sĩ bản xứ theo cảm thức truyền thống vốn xem việc huấn luyện như implantatio Instituti (cấy dòng tu) – kiểu như việc rao giảng Phúc Âm theo truyền thống là implantatio Ecclesiae (cấy Giáo Hội). Bởi vì nếu như thế, thay vì thách đố các tu sĩ bản xứ bằng những giá trị mà họ có thể chấp nhận được từ chính những tiền đề văn hóa gốc của họ, các tu sĩ ngoại quốc sẽ áp đặt một nền văn hóa xa lạ lên cho họ. Như vậy, có nghĩa là người ta đang áp đặt một sự đáp trả tiền chế chứ không phải là đang khơi gợi một sự đáp trả riêng phát xuất từ chính những đặc nét cố hữu của đương sự.
Theo nghĩa này, các dòng tu không phải là chủ thể cũng không phải là đối tượng. Điều quan trọng là mỗi lối sống đặc thù của các hội dòng phải là kết quả của cuộc đối thoại và gặp gỡ giữa các giá trị hay các thái độ nền tảng thuộc đặc sủng của họ với những con người cụ thể là những người sẽ đưa ra một sự đáp trả của riêng mình đối với tiếng gọi đầy giục giã của Thiên Chúa để tham gia vào một cộng đoàn tu trì chuyên biệt.
Khi việc huấn luyện có chú ý đến các giá trị của căn tính đặc sủng riêng mình cũng như các giá trị của các nền văn hóa khác nhau, nó sẽ không bao giờ áp đặt các yếu tố bên ngoài, nó cũng sẽ không giũ bỏ những giá trị đích thực của các nền văn hóa bản địa – bởi vì những yếu tố này tạo thành một gia sản và một phương tiện có thể chuyên chở các giá trị Phúc Âm của đặc sủng dòng tu. Công cuộc hội nhập văn hóa của đặc sủng dòng tu phải luôn luôn diễn ra với sự trung thành tuyệt đối đối với các giá trị riêng của mình và – đồng thời – với sự chú ý đúng mức đến lịch sử, nghĩa là, chú ý đến hoàn cảnh thời gian và nơi chốn.
vii. người tu sĩ trong động lực của công cuộc hội nhập văn hóa
1. Hội Nhập Văn Hóa Xét Như Là Một Tiến Trình
Công cuộc “hội nhập văn hóa của Tin Mừng” không phải là một hành động của một thời điểm,theo nghĩa ‘làm là xong luôn’, nhưng là một tiến trình đòi hỏi thời gian, một tiến trình qua đó sứ điệp của Đức Giêsu dần dần được thấm nhập vào trong một nền văn hóa – và kết quả là sứ điệp đó được sống và được diễn tả một cách sâu sắc hơn và đầy ý nghĩa hơn trong và xuyên qua những khía cạnh đặc thù của nền văn hóa ấy. Tiến trình hội nhập văn hóa của Tin Mừng đòi hỏi sự giao lưu giữa Tin Mừng và nền văn hóa. sự giao lưu này bao hàm một loạt những thái độ cả từ các tác nhân lẫn từ các đối tượng của công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng: phê bình và biện phân, trung thành và hoán cải, thay đổi và phát triển, phục hồi và canh tân. (66)
Người tu sĩ sẽ phải sống và trình bày căn tính của mình trên cơ sở của nền văn hóa đặc thù. Khi người tu sĩ đến với một dân tộc thuộc một nền văn hóa khác, người ấy phải học mọi sự. Đối với mọi con người ở đây, người tu sĩ ấy đại diện cho toàn thể cộng đoàn và ngay cả thường đại diện cho toàn thể Giáo Hội. Dĩ nhiên, các tu sĩ vốn đã thuộc về nền văn hóa gốc của mình. Điều này có nghĩa rằng sau một giai đoạn học tập ít nhiều nhọc công, các tu sĩ ấy sẽ phải diễn dịch dự phóng sống và sứ mạng của mình thành một ngôn ngữ có thể nhận hiểu được đối với các ứng viên bản địa đang muốn trở thành tu sĩ của hội dòng. Tuy nhiên, họ sẽ phải bắt đầu từ nền văn hóa mà họ cảm thấy mình được đồng hóa trong đó, bởi vì đó là căn bản cho kinh nghiệm của họ về đặc sủng của dòng tu.
Các tu sĩ ngoại quốc sẽ phải khởi sự một tiến trình, đi xuyên qua một số giai đoạn với đầy những khó khăn sừng sững, để có thể diễn dịch thích đáng dự phóng của đời sống cộng đoàn tu trì của mình thành một ngôn ngữ mới mẻ và khác hẳn với ngôn ngữ gốc của mình.
2. Hiểu Biết Và Yêu Mến Nền Văn Hóa Mới
Người tu sĩ ngoại quốc phải yêu mến nền văn hóa mà mình dấn thân vào. Để có thể yêu mến như vậy, trước hết họ phải cảm nhận được “những giá trị của các nền văn hóa khác nhau”. Tình yêu này chỉ thực sự có được khi người tu sĩ ngoại quốc bảo đảm rằng
một tình yêu mãnh liệt đối với đất nước và nền văn hóa của mình không hề ngăn cản mình thích nghi với những con người mà mình sắp sửa rao giảng Tin Mừng cho. (67)
Nếu các giá trị nền tảng của đặc sủng dòng tu phải chuyển hóa chính cốt lõi của nền văn hóa nơi mà người tu sĩ ngoại quốc phải hiện diện, thì họ phải nhận hiểu sâu sắc chính cốt lõi của nền văn hóa ấy. Vô tri thì bất mộ. Nhưng sự hiểu biết nếu chỉ thuần túy trên lý thuyết thôi về một dân tộc và về nền văn hóa của dân tộc ấy thì cũng chẳng ích dụng mấy. Cần phải có một thái độ mến yêu và nhân hậu nữa. Cần phải có một sự cởi mở cảm thông đối với các giá trị và các thực tại của nền văn hóa ấy cho đến khi có thể chấp nhận nó như một điều tự nhiên.
3. Phục Vụ Cho Động Lực Của Nền Văn Hóa
Một tu sĩ ngoại quốc phải dấn thân vào tiến trình vận động của mọi nền văn hóa. Sẽ là không đủ nếu chỉ đảm nhận một số giá trị duy chỉ có tính chung chung. Người tu sĩ ngoại quốc phải được định vị tại trung tâm của tiến trình hình thành, chuyển hóa và truyền tải của nền văn hóa bản địa, hướng đến mục tiêu hơn là hướng đến các kiểu thức bị trói buộc trong quá khứ, bởi vì tương lai của người ta là cái phải được xây dựng. Các tu sĩ ngoại quốc phải cảnh giác, dò tìm mọi chân trời có thể mà đồng thời không lạc mất căn tính đặc sủng của riêng mình.
Công cuộc hội nhập văn hóa đích thực loại trừ mọi hình thức đòn phép đối với các nền văn hóa – vì đây không phải là vấn đề chiến thuật, mánh khóe hay là một sự thích nghi tạm thời. Trái lại, căn tính của một đặc sủng tu trì phải được diễn tả trong và từ chính những yếu tố của nền văn hóa bản địa và phải được chuyển hóa thành một nguồn cảm hứng – tại chính trung tâm của nền văn hóa ấy – cho các tu sĩ bản xứ.
4. Men Trong Bột
Trong tương quan với các nền văn hóa, một đặc sủng tu trì phải đóng vai trò của men trong bột. Điều này giả định một số đòi hỏi đối với các tu sĩ ngoại quốc: củng cố các giá trị văn hóa đặc thù của người ta (68), đóng góp vào sự phát triển của những “hạt giống Lời Chúa” vốn hiện diện trong mọi nền văn hóa. Họ phải khai phóng và hậu thuẫn cho chiều kích “ad gentes” của đặc sủng dòng tu bằng cách tìm kiếm những hạt giống của Lời Chúa và của Triều Đại Thiên Chúa trong đối thoại với các tôn giáo và các nền văn hóa khác. Họ phải thừa nhận các giá trị đặc trưng Kitô giáo được sống bởi người ta theo những cách thế thuộc bản sắc văn hóa riêng của người ta. (69)
Bằng cách này, một mối liên kết chặt chẽ sẽ được thiết lập giữa căn tính của một dòng tu và nền văn hóa bản địa mà không hề dẫn tới một sự thiệt hại nào cho cả hai bên – bên phía các tu sĩ ngoại quốc và bên phía các tu sĩ bản xứ. Cũng như chính đức tin Kitô giáo, căn tính đặc sủng của một dòng tu phải được sống trên cơ sở là chính những gốc rễ của các nền văn hóa mà không hề có sự o ép nào giữa hai bên. Như vậy, sự hội nhập văn hóa đích thực hệ tại ở việc trình bày sứ điệp và những giá trị cốt yếu của một đặc sủng tu trì trong mỗi nền văn hóa sao cho hội dòng ấy có thể hội nhập thâm sâu vào một khung cảnh văn hóa đặc thù.
Hình ảnh thích hợp nhất để minh họa cho công cuộc hội nhập văn hóa chính là hình ảnh của hạt giống gieo vào lòng đất. Hạt giống sống trong đất mà không hề đồng hóa với đất. Nó nẩy mầm và lớn lên thành cây, sinh quả từ chính căn tính và sự vận động của hạt giống. Nhưng nếu không có đất thì hạt giống cũng không thể nẩy mầm và lớn lên. Đây cũng chính là hình tượng được yêu thích bởi một số vị giáo hoàng: nhìn thấy những “hạt giống Lời Chúa” được gieo vãi trong mọi nền văn hóa. Tuy nhiên, những nền văn hóa ấy chỉ có thể lớn lên trong tiếp xúc với Tin Mừng.
Men của một đặc sủng tu trì không thể làm đa dạng hóa hay khu biệt hóa một nền văn hóa, nhưng nền văn hóa ấy cũng không thể đồng hóa một đặc sủng tu trì với chính bản thân nó. Công cuộc hội nhập văn hóa của các dòng tu sẽ giúp những ai sống trong khung cảnh văn hóa ấy – và trước hết, nó sẽ giúp chính các tu sĩ – trở thành phổ quát hơn, biết hấp thu những giá trị phổ quát mà không một nền văn hóa nào có thể vắt kiệt được. Cũng vậy, các dòng tu sẽ tạo ra một thứ chất kích hoạt văn hóa, sẽ dậy lên và lan rộng khi chất men trong bột làm dậy men từ bên trong.
5. Một Ngôn Ngữ Mới
Các tu sĩ ngoại quốc sẽ phải nỗ lực rất nhiều để tìm ra một ngôn ngữ mới – có tính nhân loại học và có tính biểu tượng – cho phép họ cấy sứ điệp nền tảng của đặc sủng dòng tu mình vào nền văn hóa bản địa (70). Khi người tu sĩ ngoại quốc – vốn được huấn luyện trong nền văn hóa gốc của mình – đến với một cảnh vực văn hóa mới, họ sẽ phải được khai tâm hay được vỡ lòng. Trước hết, những tu sĩ ngoại quốc này sẽ phải tái xác định dự phóng đời tu của riêng mình, rồi họ sẽ phải sống nó, rao giảng nó và giới thiệu nó cho những con người tại chỗ sao cho những con người ấy có thể hiểu nó. Nghĩa là, người tu sĩ ngoại quốc phải không chỉ diễn dịch các bản văn, mà còn phải diễn dịch các thái độ hiện sinh thành một ngôn ngữ xa lạ với bản thân mình. Đó là công việc mà người ta sẽ không bao giờ sửa soạn cho đủ được. Vì thế, thường có những kiểu chuyển dịch ‘mì ăn liền’, vội vã, chỉ chuyển đạt thuần túy chất liệu mà thôi, trong đó không chỉ từ ngữ mà ngay cả những khái niệm cũng rối rắm, khiến người ta không thể hiểu nổi, làm méo mó chính cái thực tại được trình bày cho người ta. Điều này thường xảy ra với những từ ngữ như: khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục, cộng đoàn…Những từ ngữ ấy không phải luôn luôn được người ta nhận thức chính xác ngay cả trong nền văn hóa tây phương là nơi mà chúng đã xuất hiện. Nếu không có sự tìm hiểu cặn kẽ, chúng sẽ khó hòng được nhận hiểu dễ dàng trong những nền văn hóa mà đời sống tu trì hay một căn tính của đặc sủng dòng tu mới được cấy vào một cách phôi thai.
6. Thanh Luyện Những Yếu Tố Tiêu Cực Trong Các Nền Văn Hóa
Công cuộc hội nhập văn hóa phải có tính phê bình. Người tu sĩ ngoại quốc phải vạch trần và thanh luyện tất cả những gì tiêu cực trong những nền văn hóa mà mình hiện diện. Xuyên qua các thế kỷ, Giáo Hội vẫn luôn luôn thực thi công việc này khi Giáo Hội lan rộng tới các dân tộc. Các dòng tu, xét như là thực tại nhân văn và là dự phóng sống đời Kitôhữu, phải cố gắng đào thải ra khỏi các nền văn hóa tất cả những gì nghèo nàn và trì trệ, tất cả những gì đối nghịch với tính nhân bản.
Công cuộc loan báo Tin Mừng – là việc mời gọi người ta từ bỏ những ý niệm sai lạc về Thiên Chúa, từ bỏ những lối hành xử độc ác và những sự gian xảo giữa người với người – không thể được xem như một cái gì bất lương. (71)
Các tu sĩ ngoại quốc phải nhận hiểu và xác định rõ những gì trong một nền văn hóa tương thích với các yếu tố của căn tính tu trì của mình. Để được như vậy, cần phải có nhiều sự tự do bên trong. Đây là trách nhiệm đặc biệt tế nhị trong trường hợp các tu sĩ ngoại quốc phải thực hiện sự biện biệt khung cảnh của nền văn hóa bản địa để không phán xét một số yếu tố nào đó là đối nghịch với đặc sủng dòng tu mình nếu tự thân chúng vốn có tính trung dung hay thậm chí chúng có thể chứa những giá trị Phúc Âm đích thực, nghĩa là, nếu tự thân chúng có chứa “những hạt giống Lời Chúa” được chính Thiên Chúa gieo vãi ngay từ đầu.
Các tu sĩ ngoại quốc và các tu sĩ bản xứ sẽ phải minh định rõ sự biện biệt này, bắt đầu với một sự chuyển hóa của trí óc và con tim để qua đó các tu sĩ ngoại quốc khám phá ra các khía cạnh có tính đặc sủng và có tính Phúc Âm đích thực của dòng tu mình trong nền văn hóa bản địa, một cái gì đó không được phép coi thường cho dẫu không dễ dàng diễn tả bằng một ngôn ngữ mới. Điều này cũng sẽ làm cho các tu sĩ bản xứ có thể tích cực từ bỏ một số yếu tố trong nền văn hóa mình vốn không tương thích với hình thức đời tu của mình. Đây hoàn toàn không phải một sự bức bách nhưng đúng hơn đây là một sự phục vụ cho chính nền văn hóa – vì sự chuyển hóa không phải do áp đặt từ bên ngoài, nhưng do bởi vận động tiến hóa và phát triển từ bên trong.
Bằng cách này, các dòng tu sẽ thể hiện chính mình như sự thật của mình, với sự thống nhất và đa dạng của mình, một kinh nghiệm sâu sắc về sự khó nghèo, sự khó nghèo của Đức Giêsu Đấng đã trút bỏ thân phận Thiên Chúa để trở thành phàm nhân như mọi người chúng ta. Chúa Con đã chấp nhận làm Con bằng một con đường khác, trở thành một tôi tớ khiêm hạ (Pl 2, 6 – 8). Ở đây, không nhằm nói đến vấn đề con đường khác này có xứng đáng với Con Thiên Chúa hay không. Trái lại, vấn đề quan trọng là: Tại sao Con Thiên Chúa đã chọn con đường làm người một cách khiêm hạ như thế? Ở đây chúng ta có được gốc rễ sâu nhất từ đó các tu sĩ hội nhập vào các nền văn hóa bản xứ – là những nền văn hóa vốn thường bị xem là không đáng giá hoặc thường bị xem là phi-văn-hóa. Các dòng tu, chẳng hạn các dòng thuộc Châu Âu, phải chấp nhận hiện hữu trong một thể cách khác cho đến khi trở thành các dòng tu từ viễn tượng đối nghịch với điều mà mình thường xem là căn tính đặc sủng của riêng mình, cùng một cách thể như Con Thiên Chúa đã trút bỏ địa vị của Người để trở thành Thiên Chúa đích thực từ viễn tượng nhân tính. Các tu sĩ ngoại quốc phải chấp nhận điều này như là giá tự nhiên phải trả cho công cuộc hội nhập văn hóa của mình: không ngừng hướng sự chọn lựa của mình đến với người nghèo và những sắc dân bị gạt ra ngoài lề xã hội trong tiến trình hội nhập văn hóa của mình.
Trong viễn tượng như thế, công cuộc hội nhập văn hóa dường như sẽ luôn luôn không dễ chịu, bởi vì nó chất vấn lối sống quen thuộc của người tu sĩ ngoại quốc – nghĩa là, nó chất vấn chính những khung cảnh lịch sử mà đương sự đã từng hiện diện. Tuy nhiên, bằng con đường này, các tu sĩ ngoại quốc sẽ đạt tới lý do hiện hữu đích thực của mình trong Giáo Hội và trong thế giới. Cũng như chính bản thân Giáo Hội (72), lý do hiện hữu của các tu sĩ ngoại quốc là được sai đến để phục vụ cho mọi con người – nam cũng như nữ – thuộc mọi nền văn hóa đặc thù. Khi người tu sĩ ngoại quốc hiện diện trong một nền văn hóa mới, để phục vụ cho một dân tộc mới, họ quay về với nguồn gốc đích thực của họ, quay về với sự thống nhất nguyên thủy giữa đặc sủng và sứ mạng.
Việc tái khám phá ra tính thống nhất nguyên thủy này giữa kinh nghiệm về Thiên Chúa và sự phục vụ tha nhân sẽ giúp cho các tu sĩ ngoại quốc – trong bất cứ nền văn hóa nào mà họ hiện diện – biết giải mã những yếu tố cốt yếu, nhất là biết bỏ qua những dự phóng văn hóa xã hội trong đó đặc sủng của mình đã gắn bó qua bao thời gian, để tìm kiếm những dạng thức mới hay những dự phóng văn hóa xã hội mới – hoặc vì những dự phóng cũ đã lỗi thời, hoặc vì chúng đã được thể hiện trong một nền văn hóa khác. Việc hội nhập văn hóa theo cách này sẽ giúp các tu sĩ ngoại quốc được thanh luyện khỏi nhiều yếu tố mà họ vốn xem là thiết cốt trong căn tính đặc sủng của mình trong khi thực ra chúng chỉ là những yếu tố hoàn toàn có tính tạm thời.
viii. tính đa dạng văn hóa trong các cộng đoàn tu trì
1. Hội Nhập Văn Hóa Không Phải Là Một Sự San Bằng Dù Ở Cấp Độ Nào
Nếu một số nền văn hóa đã đạt đến một cấp độ phổ biến nào đó, thì chủ yếu đấy là do bạo lực, do tiến trình thực dân hóa được áp đặt trên những nền văn hóa yếu hơn. Chẳng hạn, các tu sĩ Châu Âu – được rải vào nhiều nền văn hóa khác nhau – sẽ phải làm việc để vượt qua những mối quan hệ có tính bạo lực này. Nói chung, đời sống tu trì phản kháng lại những sự ức hiếp mà các nền “văn hóa thống trị” – dựa vào sức mạnh kinh tế và khả năng thông tin của mình – đã áp đặt trên các nền văn hóa kém cỏi hơn, bắt người ta phải đồng nhất với mình, để phục vụ cho lợi ích của mình. Tuy nhiên, sự bành trướng và đồng dạng như vậy không bảo đảm một sự giao lưu quân bình của các giá trị liên văn hóa, do bởi công cuộc thực dân mà các nước hùng cường áp đặt trên các dân tộc chưa phát triển về mặt khoa học và kỹ thuật, tức các yếu tố của một nền văn hóa thế tục mới.
Đàng khác, ngày nay sự đồng hóa về văn hóa hậu thuẫn cho một dạng thức hưởng thụ, thiếu vắng nội dung tinh thần, đưa các giá trị ngàn xưa của nhiều dân tộc đến chỗ khủng hoảng.
Các tu sĩ ngoại quốc có thể và phải nỗ lực làm việc để thúc đẩy tính phổ quát của văn hóa, dù không phải bằng con đường bạo lực của một số nền văn hóa áp đặt trên một số nền văn hóa khác, nhưng là dựa trên mối hiệp thông giữa các nền văn hóa, bảo tồn căn tính văn hóa của mỗi dân tộc qua sự cởi mở tối đa và chấp nhận tối đa đối với các giá trị đặc thù của các nền văn hóa khác, cho và nhận với hoàn toàn tự do.
Hiệp thông là cái không bao giờ đạt được bằng cách san bằng ở đáy, nghĩa là, bằng cách loại trừ những gì nguyên thủy và đặc trưng của mỗi nền văn hóa nhằm đạt được sự đồng nhất. Trái lại, hiệp thông đạt được từ sự hội tụ của các nguồn khác nhau, ra khỏi sự tách biệt và sự tương phản để hội tụ trong một mối thống nhất chung. Vì thế, sự hiệp thông không phải là cái gì được áp đặt; nó phát xuất từ tự do và thăng tiến tự do.
Sự hiệp thông này có thể phục vụ như một tiêu điểm để suy tư và khảo sát cho mọi tu sĩ trong một thời đại như thời đại của chúng ta – bởi vì có những lúc sự sống còn của một tỉnh dòng hay một chi nhánh tỉnh dòng sẽ phụ thuộc không phải vào các lý do có tính cơ cấu hay tông đồ từ bên trong của hội dòng nhưng là phụ thuộc những khó khăn trong cuộc sống chung gây ra bởi các chủng tộc, các nền văn hóa hay thậm chí bởi các thể chế chính trị khác nhau.
Trong trường hợp đó, thay vì cố làm chứng cho mối hiệp thông có tính đặc sủng và tính Kitô giáo của hội dòng, cần phải biết dành sự ưu tiên hàng đầu cho tình yêu, bởi vì cũng như mọi Kitôhữu nói chung, các tu sĩ có thể hoặc yêu thương hoặc không yêu thương. Thật vậy, trong những trường hợp bất khả kháng, họ có thể từ bỏ chủng tộc, văn hóa và cảm thức của mình nhưng họ không bao giờ có thể ngừng làm anh em hay chị em của người ta – bởi vì tự căn tính, mọi tu sĩ và mọi Kitôhữu đều là những người anh em chị em của mọi người. Vì thế, dù chủng tộc, văn hóa hay bất cứ gì khác có thể quan trọng đến mấy đi nữa, chúng cũng không bao giờ được phép chiếm chỗ ưu tiên trên tình yêu và sự hiệp thông.
Các tu sĩ đến từ phương Tây rất có thể đã gây ra nhiều bức bách cho các anh chị em thuộc các nền văn hóa khác, nhất là tại các nước thuộc thế giới thứ ba, do bởi cho rằng những đặc điểm văn hóa của các dân tộc này không thể dung hòa được với những yếu tố đặc thù của căn tính đặc sủng dòng tu của mình. Họ tự cho mình là những người nắm giữ đặc sủng dòng tu mình, họ đồng hóa một cách sai lầm các dự phóng của nền văn hóa tây phương với chính đặc sủng dòng tu của họ. Điều xảy ra là: họ bắt buộc các tu sĩ thuộc các bối cảnh văn hóa khác phải theo những kiểu sống không phù hợp với bản sắc văn hóa riêng của các tu sĩ ấy.
2. Một Đặc Sủng Tu Trì Là Một “Truyền Thống” Hội Nhập Vào Trong “Các Truyền Thống”
Hiện nay các vị trí có thể bị đảo lộn. Vì con số các tu sĩ xuất thân từ phương Tây đang ngày càng giảm sút, nên các tu sĩ thuộc các cảnh vực văn hóa khác có thể tìm cách áp đặt những dự phóng văn hóa xã hội thuộc bản địa mình, không phải như một sự trả đũa phi lý, nhưng vì họ có thể nghĩ rằng những dự phóng văn hóa xã hội có tính nóng bỏng mới này là con đường duy nhất để sống và để trình bày đặc sủng của dòng tu mình. Và như vậy, người ta đã đi từ cực này đến cực khác!
Một lần nữa, mối hiệp thông phải là chọn lựa ưu tiên hàng đầu của mọi tu sĩ, bất kể thuộc về nền văn hóa nào. Nếu không vậy, họ sẽ quan tâm đến mọi thứ song lại không quan tâm đến cái cốt lõi là tình yêu và sự hiệp thông – là hai yếu tố mà nếu không có thì không thể nào loan báo Tin Mừng được. Mối hiệp thông đầy ắp yêu thương, đó phải là nhịp cầu thực sự thu họp những con đường khác nhau để sống cùng một thực tại – bất kể những con đường đó đến từ nơi đâu.
Tương lai của các dòng tu và của công cuộc loan báo Tin Mừng của các dòng tu – cả ở nền văn hóa tây phương cũ lẫn ở những nền văn hóa mới xuất hiện – sẽ tùy thuộc vào khả năng hiệp thông và yêu thương thể hiện nơi các tu sĩ. Nói như vậy không có nghĩa rằng không cần biết đến những vấn đề và những xung khắc chắc chắn sẽ trổi lên trong các dòng tu do bởi sự đa dạng của các chủng tộc, các nền văn hóa và các cảm thức. Nhưng khi căng thẳng và xung khắc nổi lên, người ta cũng có khả năng vượt qua chúng và xây dựng một cộng đoàn tu trì đích thực trên cơ sở hội tụ nhiều nguồn khác nhau chứ không phải dựa vào sự đồng nhất của các thành viên.
Người ta không thể và không được phép quên các nguồn gốc văn hóa của mình nếu như họ không muốn sống trong một tình trạng tâm thần phân liệt thường xuyên về văn hóa. Nếu không có những bến bờ khác nhau thì người ta đã chẳng cần phải bắc những cây cầu. Dù muốn hay không, các tu sĩ đi đến với các nước ngoài chính là những người mang nơi mình một Truyền Thống (‘Truyền Thống’ viết hoa!) để chuyển trao cho các dân tộc mà mình dấn thân vào. Tuy nhiên, họ không được nhập nhằng lẫn lộn Truyền Thống đó với những truyền thống (viết thường) của riêng xứ sở gốc của mình. Truyền Thống của dòng tu, được cưu mang nơi các tu sĩ, sẽ phải mặc lấy những truyền thống đặc trưng của dân tộc bản địa – nhờ đó, Truyền Thống ấy có thể trở thành một cái gì hết sức tự nhiên và đầy chất bổ dưỡng giữa lòng dân tộc này, một dân tộc vẫn còn đầy đủ tính tự trị nơi mình.
Truyền Thống là hồi ức sống động về nhiều cuộc hội nhập văn hóa của một đặc sủng tu trì. Chỉ khi những công cuộc hội nhập văn hóa mới ở trong mối hiệp thông và trong sự nối tiếp các công cuộc hội nhập văn hóa trong quá khứ, thì các dòng tu mới có thể trổ sinh bông trái, như một cây đâm rễ sâu phát triển trong khung trời mới.
3. Hội Nhập Văn Hóa Và Sự Hiểu Biết Lẫn Nhau
Thật vậy, đây là vấn đề cảm thức. Một khi bị phớt lơ, nó thường dẫn đến những nỗi đau không đáng có và dẫn đến sự bất công thật sự với những người mang đặc sủng dòng tu mình tới những vùng đất khác. Thái độ của cựu tổng thống Tanzania, ông Julius Nyerere, có thể được xem như một kiểu thức để quân bình và để nhận hiểu cho những nhà “thực dân-rao giảngTin Mừng” trước đây – khi ông nhận định về công cuộc loan báo Tin Mừng của các thừa sai Âu Châu ở Phi Châu. Thái độ này cũng có thể được các tu sĩ thuộc các nền văn hóa khác nhau áp dụng cho công cuộc hội nhập văn hóa của đặc sủng dòng tu mình, không chỉ ở Phi Châu mà còn ở bất cứ quốc gia nào không thuộc văn hóa tây phương:
Họ nghĩ rằng văn hóa Phi Châu là văn hóa bán khai, còn văn hóa Âu Châu mới là văn hóa của những con người đã được khai hóa. Để phục vụ Thiên Chúa, họ hy vọng “khai hóa” Phi Châu, và đối với họ, công việc khai hóa này hệ tại ở chỗ làm thay đổi nền văn hóa Phi Châu.
Để đạt được điều đó, họ mang đến những gì mà họ biết: Giáo Hội theo như họ biết, và lối sống của Giáo Hội trong mức độ mà họ có thể giữ gìn được nó trong một bối cảnh quá khác biệt.
Sẽ là vô lý việc phê bình các nhà thừa sai buổi ban đầu vì những thái độ hay những hoạt động của họ – bởi vì chúng ta là hoa trái của các vị ấy gắn với thời gian và không gian hiện nay của chúng ta.
Giờ đây tình hình của Giáo Hội chủ yếu tùy thuộc vào khả năng của chúng ta trong việc từ bỏ những hình thức và những thực hành phát xuất từ lịch sử Châu Âu, trong khi vẫn giữ vững và củng cố cái cốt lõi của sứ điệp Kitô giáo mà các vị ấy đã truyền đạt và cái cốt lõi trong sứ mạng của các vị ấy.
Dĩ nhiên đây không phải là vấn đề vẽ ảnh Đức Mẹ thành người da đen – bởi vì xét về mặt lịch sử, Đức Mẹ không phải là người da đen và Đức Giêsu đã được sinh ra là một người Do Thái. Đây cũng không phải là vấn đề phủ nhận mọi giai điệu âm nhạc thuộc nguồn gốc Âu Châu, bởi vì một số giai điệu ấy thực sự rất hay. Vấn đề thực sự còn phức tạp hơn tất cả những chuyện đó nhiều… (73)
Hội nhập văn hóa có liên hệ đến một chuyển động ly tâm thúc đẩy các dòng tu, thúc đẩy các tu sĩ đi ra khỏi chính mình, với niềm xác tín rằng cơ cấu và tổ chức của mình sẽ phải kinh nghiệm một số thay đổi. Ngày nay, các dòng tu tìm kiếm một sự quân bình mới giữa thống nhất và đa nguyên, giữa phổ quát và đặc thù. Người ta không còn có thể thực sự quan tâm đến tính đa nguyên của các nền văn hóa mà không có những âm vọng lại trong cách nhận hiểu và cách tổ chức bên trong của đời sống các dòng tu – bởi lý do hiện hữu của các dòng tu cắm rễ nơi việc được sai đi, nơi sứ mạng cứu độ mà các tu sĩ phải hoàn thành cho người ta không phân biệt hoàn cảnh hay văn hóa của họ. Mọi hoàn cảnh mới đều đòi hỏi một công cuộc hội nhập văn hóa mới.
ix. tôi là kẻ xa lạ trong nhà Cha tôi
1. Hội Nhập Văn Hóa Không Đòi Phải Phủ Nhận Nền Văn Hóa Gốc Của Mình
Do sự vâng phục mà họ đã khấn hứa, các tu sĩ được sai đến một nước ngoài – nhất là tới một quốc gia thuộc thế giới thứ ba – trở thành những kẻ xa lạ tại nơi mà họ dấn thân vào. Họ là “kẻ xa lạ” bởi vì những tính cách của họ đã được hình thành từ một nền văn hóa hoàn toàn khác với nền văn hóa của đất nước mà hiện nay họ đang sống. Nói chung (và điều này càng làm cho tình cảnh của họ nên tệ hại hơn), những tu sĩ này là “đồng minh” của các ‘nhà thực dân” – nếu không muốn nói là các “nhà bóc lột” – tại đất nước mà họ được sai tới để gieo hạt giống Tin Mừng. Có lẽ, trong buổi ban đầu, người tu sĩ không hề kỳ vọng một thực tế khó nuốt như vậy.
Sau khi nghe nói quá nhiều về nhu cầu phải hội nhập văn hóa tại đất nước mà mình được sai tới – và với những ý hướng ngay lành nhất – các tu sĩ thường muốn và cố gắng phủ nhận cái nhãn ‘ngoại quốc’ của mình. Giống như Thánh Phao-lô, họ từ bỏ xứ sở của mình để trở thành Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp, và … Phi Châu với người Phi Châu.
Vì họ tham gia vào một dòng tu có tầm phổ quát, nhất là nếu đó là một dòng có tính truyền giáo rõ rệt, nên ngay từ lúc gia nhập, các tu sĩ này không chỉ chấp nhận mà còn khao khát có cơ hội để dấn thân hoàn toàn cho việc phục vụ các dân tộc khác thuộc các nền văn hóa khác. Nói tóm lại, họ muốn trở thành Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp, và … Phi Châu với người Phi Châu, họ muốn quên tổ quốc của mình – nơi mà họ đã được đào tạo – và họ muốn trở thành một phần của đất nước và của nền văn hóa bản địa mà họ muốn đảm nhận như của chính mình.
Lịch sử truyền giáo cho thấy có rất nhiều nhà thừa sai và các tu sĩ sau khi đến đất nước mà mình được sai tới đã quên cha mẹ, anh chị em, bạn hữu mình và đã không bao giờ trở về. Nhiều vị khác chỉ trở về tổ quốc sau nhiều năm dài đằng đẵng. Đã có thời, những thái độ như thế được xem như là nền tảng để hội nhập văn hóa một cách thích đáng vào những xứ truyền giáo.
Tuy nhiên, trong một bài báo rất sắc sảo và thực tiễn (mà các quan điểm căn bản đang được chúng ta vận dụng ở đây), Cha Bernard Joinet đã xem việc đoạn tuyệt với nguồn gốc mình như thế là một cái gì rất hàm hồ, bất chấp tất cả những gì đã được người ta nói đến trước kia về hội nhập văn hóa (74). Cha Joinet, một nhà thừa sai rất dày dạn kinh nghiệm về hội nhập văn hóa, đã kể câu chuyện về một vị thừa sai nọ. Chuyện rằng khi nhà thừa sai ấy vừa mới trở thành công dân của đất nước nơi ông đang truyền giáo, ông nảy ra ý nghĩ thực hiện một ‘động tác tượng trưng’ là công khai thiêu hủy tấm giấy hộ chiếu của mình trước mặt đông đảo các tín hữu – ông nghĩ như vậy là ông đang làm chứng rằng mình hoàn toàn dấn thân cho đám dân này. Nhưng ông đã bị bất ngờ. Những người chứng kiến ‘hành vi ngôn sứ’ ấy của ông đã xì xầm với nhau: “Ông cố này chẳng hề biết yêu thương là gì. Ông ấy từ khước và xem thường những người đã sinh ra ông, nuôi dạy ông. Chúng ta không thể tín nhiệm ông ấy, bởi vì dù ông ấy đang gọi chúng ta là anh em chị em nhưng sẽ có ngày ông ấy sẽ từ khước chúng ta như hôm nay ông ấy đang từ khước cha mẹ ông ấy vậy.”
Câu chuyện trên chắc chắn là một bài học rất tốt về ý nghĩa thâm sâu của hội nhập văn hóa. Bất kể đến các khát vọng và các nỗ lực hội nhập văn hóa của các tu sĩ ngoại quốc tại một nền văn hóa bản địa, họ vẫn sẽ mãi mãi là những kẻ xa lạ, cho dù họ có quảng đại, bao dung và vị tha đến đâu đi nữa. Họ sẽ cứ tiếp tục là người xa lạ bởi vì họ sẽ không bao giờ thành công trong việc hoàn toàn lột bỏ khỏi mình nền văn hóa gốc gác của mình – nền văn hóa mà đã trở thành như bản chất tự nhiên thứ hai của họ. Câu nói của Ortega y Gasset có thể được vận dụng ở đây: “Tôi là tôi và những hoàn cảnh của tôi” ! Dù muốn hay không, tất cả chúng ta đều là con cái của một nền văn hóa và của những hoàn cảnh cụ thể vẫn luôn luôn còn ngấm qua và phát tiết ra từ chúng ta, như một thứ mùi nào đó mà người ta không thể khử đi một lần thay cho tất cả được.
2. Những Người Từ Khước Nền Văn Hóa Gốc Của Mình Sẽ Không Thể Đối Thoại Với Các Nền Văn Hóa Khác
Những tu sĩ nghiêm túc tìm cách hội nhập văn hóa sẽ không bao giờ đạt được điều đó trừ phi họ hiểu biết và chấp nhận căn tính con người của riêng mình. Không thể có tồn tại một thứ nhân tính không màu sắc, không mùi, không vị như thể một thứ nước tiệt trùng. Đây đúng là trường hợp của Thánh Phao-lô khi ngài trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, bởi vì ngài nhìn nhận mình là một người Do Thái, một con cái của Abraham. Các tu sĩ ngoại quốc tìm cách hội nhập văn hóa ở Âu Châu, Phi Châu hay Á Châu sẽ không thể trở thành Âu Châu, Phi Châu hay Á Châu được trừ phi trước hết họ biết chấp nhận quê hương xứ sở gốc gác của mình. Nếu các tu sĩ từ khước căn tính gốc của mình và lao vào công cuộc hội nhập văn hóa tại đất nước mà mình đang sống và phục vụ, thì họ nên nhớ rằng mọi sự không phụ thuộc vào thiện chí của riêng họ mà thôi, nhưng còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của dân chúng bản địa mà họ đang muốn hội nhập vào. Do đó, trong tư cách là những người mới đến, họ cũng phải cho phép dân chúng ở đó biến đổi họ, bởi vì hội nhập văn hóa là một sự tương tác giữa hai nền văn hóa.
Những ai từ khước gốc rễ sâu xa của mình, từ khước nền văn hóa gốc của mình thì sẽ không biết mình là ai. Điều này có bao hàm một mối nguy hiểm khác không được phép quên: Những người đã tự đánh mất căn tính gốc của mình sẽ thế nào, nếu một ngày kia, họ phải trở về lại với tổ quốc và nền văn hóa gốc của họ? Việc di chuyển từ một nền văn hóa này đến nền văn hóa khác có thể đẩy nhiều tu sĩ (những tu sĩ mất gốc) tới chỗ tâm thần phân liệt thực sự về văn hóa.
Trái lại, khi họ được thấm đẫm trong nền văn hóa gốc của họ – như thể một “lớp da thứ hai”- họ sẽ không bao giờ có thể trút bỏ nó được, cũng như người ta không bao giờ có thể thay màu da của mình vậy. Bấy giờ , các tu sĩ ngoại quốc sẽ nắm chắc về căn tính của mình và do đó sẽ có thể chấp nhận chính mình là ‘người khác’ tại đất nước và tại nền văn hóa mà mình đang dấn thân. Dù có cố gắng đến mấy đi nữa, họ sẽ không bao giờ thành công trong việc tẩy sạch những khác biệt về văn hóa. Nhưng nếu biết nắm chắc căn tính của mình và những khác biệt của mình, họ sẽ sẵn sàng hơn để chấp nhận chính mình với những khác biệt ấy. Nhờ vậy, họ sẽ biết rằng do dựa trên căn tính của mình, họ sẽ gây ra một số vấn đề cho những người xung quanh mình,bởi vì tình trạng ‘ngoại quốc’ của họ tự thân nó sẽ gây lấn cấn cho người xung quanh trong chuyện này chuyện khác. Như Cha Joinet đã ghi nhận, họ phải chấp nhận thực tế rằng có nhiều lúc những chủ nhà hiếu khách cũng không muốn gặp phải những sự lấn cấn nói trên. Các tu sĩ ngoại quốc không bao giờ có thể nhìn nhận mình là ‘khách’ trừ phi họ xác tín về căn tính văn hóa và về tổ quốc của riêng họ.
Một người bạn hỏi Cha Joinet rằng phải chăng thật là gay go việc ngài sống với những người mà ngài cùng làm việc với – rất xa đất nước của ngài; Cha Joinet trả lời: “Bạn nên hỏi họ thử họ có cảm thấy gay go khi sống với tôi không.” Nghĩa là, không nên đặt vấn đề: “Làm thế nào chúng ta có thể trở thành người Phi Châu, người Á Châu, vv…?” Nhưng đúng hơn nên tự hỏi: “Làm thế nào chúng ta có thể làm một người ngoại quốc?”. Các tu sĩ Âu Châu không thể hội nhập văn hóa vào Phi Châu hay Á Châu nếu trước hết họ không thấm đẫm bản sắc Âu Châu. Khi họ biết cách trở thành người Âu Châu, và chỉ khi đó, họ mới có thể nhận ra những giá trị đích thực của văn hóa Âu Châu ở trong những nền văn hóa khác. Chỉ nhờ biết chấp nhận một nền văn hóa khác, chúng ta mới có thể ý thức đầy đủ về nền văn hóa của chính mình, và ngược lại. Vì thế, cần phải có sự đối thoại bình đẳng giữa hai bên, vì như chúng ta đã minh định trước đây: không có những nền văn hóa cao hơn hay thấp hơn, chỉ có những nền văn hóa khác nhau mà thôi.
3. Phục Vụ Các Giáo Hội Bản Địa Theo Cung Cách Riêng Của Những Giáo Hội Ấy
Các tu sĩ chỉ là những người phục vụ, những cộng tác viên của các Giáo Hội địa phương, dù họ đang làm việc ở bất cứ đâu. Xét lý thuyết, tu sĩ nào cũng ý thức về điều vừa nói; nhưng trong thực hành, mọi sự không phải luôn luôn minh bạch. Nếu người tu sĩ được gửi tới một Giáo Hội địa phương khác với Giáo Hội của chính mình, họ phải phục vụ và cộng tác với Giáo Hội địa phương ấy theo cung cách của chính Giáo Hội ấy, không phải theo cung cách của Giáo Hội gốc của họ.
Điều này đặc biệt quan trọng khi các Giáo Hội địa phương đã qua thời kỳ phôi thai và đang trên đà phát triển, các tu sĩ ngoại quốc sẽ thôi không đóng vai trò làm điểm qui chiếu cần thiết nữa, nhằm chuyển giao vai trò đó cho các linh mục và tu sĩ bản xứ. Những gì được nói về các Giáo Hội địa phương cũng có thể áp dụng cho các cộng đoàn tu trì. Theo cách thế của riêng địa phương mình, các tu sĩ bản xứ sẽ phải nắm lấy sự kiểm soát, hướng dẫn đời sống và sứ mạng của các cộng đoàn tu. Các tu sĩ ngoại quốc – dù có thể đã đóng góp nhiều cho việc thiết lập cộng đoàn tu trì tại đất nước mới này – vẫn bình đẳng với các tu sĩ bản xứ; hơn thế nữa, tại chính đất nước này, họ ít có tính bản xứ hơn ngay cả dù họ cố gắng hết sức để hội nhập vào một cách thâm sâu.
Đó là lý do tại sao thật khẩn thiết việc các tu sĩ hướng đến sứ mạng loan báo Tin Mừng tại một quốc gia khác phải được huấn luyện tốt về các giá trị của nền văn hóa gốc của mình. Bởi vì đó là cách duy nhất để họ có thể trân trọng những giá trị của nền văn hóa nơi mà họ sẽ cố gắng hội nhập vào – vốn khác hẳn với những giá trị quen thuộc của họ.
Sự khác biệt giữa các tu sĩ ngoại quốc và các tu sĩ bản xứ càng lộ rõ hơn xét về mặt chính trị. Dù có hội nhập văn hóa vào đất nước sở tại đến mấy đi nữa, nhưng nếu các tu sĩ ngoại quốc có liên can đến chính trị và tỏ ra bất đồng với giới cầm quyền tại đây, thì cùng lắm là họ bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ – cho dù họ đã nhập tịch vào nước này và đã bỏ quốc tịch cũ của mình. Nhưng nếu các tu sĩ bản xứ biểu hiện sự bất đồng tương tự, họ sẽ không bị trục xuất mà là bị bỏ tù hoặc một cái gì đó còn tệ hơn thế nữa. Đây không phải chuyện suy luận lý thuyết mà là một thực tế rành rành như chúng ta có thể nhìn thấy tại nhiều quốc gia trong những năm gần đây. Công cuộc hội nhập văn hóa, vì thế, không chỉ tùy thuộc vào ý chí hội nhập văn hóa của các tu sĩ, nhưng còn tùy thuộc vào mức độ họ được cho phép để hội nhập văn hóa nữa.
“Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3, 30), nguyên tắc ấy của Thánh Gio-an Tẩy Giả cũng hoàn toàn đúng đắn trong việc hội nhập văn hóa. Giáo Hội bản địa phải lớn lên, và Giáo Hội mà các tu sĩ ngoại quốc đem đến từ xứ sở của họ phải nhỏ đi; cộng đoàn tu trì mà họ đem đến cho nền văn hóa này phải nhỏ đi, và cộng đoàn tu trì của bản xứ phải lớn lên – với tất cả những hệ quả kèm theo. Như Cha Joinet nhận định, một tài xế lão luyện sẽ cảm thấy thật khó chấp nhận khoanh tay ngồi yên khi chiếc vô-lăng đang quờ quạng trong tay một anh mới tập tò học lái xe!
“Yêu là trao hiến chính mình”, câu nói ấy của Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su quả đúng – nhưng chỉ tới một mức nào đó thôi. Các tu sĩ ngoại quốc có thể nóng bỏng khát khao trao hiến chính mình – vì tình yêu đối với những người mà mình đang dấn thân phục vụ. Nhưng liệu những con người này – những tu sĩ bản xứ – có sẵn lòng nhận họ không? Liệu các tu sĩ bản xứ có thực sự cần các tu sĩ ngoại quốc không? Xem thế, câu châm ngôn “Yêu là trao hiến chính mình” phải được bổ sung bằng một châm ngôn khác: “Yêu cũng là đón nhận”. Nếu các tu sĩ ngoại quốc chỉ nghĩ đến việc trao ban, thì như vậy chẳng khác nào họ nghĩ rằng mình có mọi sự và rằng những người tu sĩ bản xứ không có gì để trao tặng họ cả. Từ não trạng này người ta rất dễ đi đến cách suy nghĩ rằng những người luôn luôn trao ban là cao cả – và những người luôn luôn nhận lãnh là thấp kém. Tiếc thay, đây là lối nghĩ rất thường xảy ra ở cả hai bên.
Nói vắn, các tu sĩ ngoại quốc có thể tham gia một cách năng động vào việc xây dựng một cộng đoàn tu trì bản xứ , trong khi vẫn mang căn tính của mình là ngoại quốc. Nhưng điều đó chỉ có thể được nếu họ mặc lấy ba thái độ thiết yếu này: chấp nhận mình là người ngoại quốc, chấp nhận phục vụ người khác như họ muốn chứ không phải như mình muốn, và chấp nhận làm người nhận lãnh – như Đức Giêsu trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samaritanô: “Xin chị cho tôi miếng nước” (Ga 4, 7). Đức Giêsu đã xin người phụ nữ ấy cho nước uống, bởi vì Người cần thứ nước mà chỉ mình chị ấy có thể cho Người, đó là nước từ giếng Gia-cóp. Chính vì Đức Giêsu đón nhận tặng phẩm nhỏ bé mà người phụ nữ ấy có thể cho Người, nên chị mới có thể đón nhận thứ nước quí giá hơn mà Đức Giêsu trao ban cho chị.
x. huấn luyện hội nhập văn hóa
1. Đón Nhận Thập Giá
Hội nhập văn hóa là một tiến trình rất phức tạp và rất khó khăn. Ngồi gập trên đôi gót chân mình để uống trà với người Nhật Bản, hay tham gia vào những điệu múa Phi châu trong nghi thức tiến lễ, đó chắc hẳn là những dấu hiệu của cố gắng hội nhập văn hóa. Nhưng đó cũng có thể chỉ là một sự hội nhập văn hóa hết sức hời hợt, chung chung.
Công cuộc hội nhập văn hóa phải đụng chạm đến trọng tâm đời sống của các tu sĩ ngoại quốc và của các cộng đoàn tu trì. Hội nhập văn hóa phải đi vào trong mọi thực tại của đời sống. Nghĩa là, ngay từ khi mới gia nhập dòng tu, các ứng viên của đời sống tu trì phải nhận được “sự huấn luyện về hội nhập văn hóa”.
Hội nhập văn hóa đòi hỏi một trái tim và một khối óc rộng mở, một khả năng đối thoại tốt, nghĩa là khả năng biết lắng nghe và tiếp nhận những điều khác biệt. Có những lúc cuộc đối thoại này rất khó khăn. Nó đòi người ta phải vừa biết quyết liệt vừa biết nhân nhượng. Các giá trị nền tảng – những giá trị phải được tuyệt đối bảo tồn – luôn luôn đòi người ta phải tham chiếu đến khi cố gắng hội nhập Tin Mừng và đặc sủng dòng tu vào nền văn hóa bản địa.
Hội nhập văn hóa không đồng nghĩa với “mị dân”, cũng không đồng nghĩa với việc hô khẩu hiệu “vì dân” cách rẻ tiền. Nói cách khác, điều quan trọng không phải là thừa nhận những khía cạnh “hời hợt ngoài da” của một nền văn hóa; bởi điều thực sự quan trọng chính là: đón nhận thập giá một cách triệt để và chấp nhận những đòi hỏi quyết liệt nhất của đời sống thánh hiến. Xem thế, không thể có sự hội nhập văn hóa đích thực nếu người ta không chấp nhận những nỗi đau khổ gắn liền với cả tiến trình.
Tại cuộc hội nghị năm 1988, Ủy Ban Thần Học Quốc Tế đã minh định rõ điều này khi đề cập đến cuộc hội nhập văn hóa của đức tin. Không thể có sự hội nhập văn hóa đích thực nếu những hạn chế, những sai lầm, những sự tội trong một nền văn hóa không được vạch trần và lên án. Nền văn hóa nào cũng phải chấp nhận sự phán xét của thập giá. Đây chính là điều Đức Giêsu đã làm. Người đã không ngần ngại phê phán những phản giá trị tồn tại trong nền văn hóa Do Thái vào thời của Người. Người không phải là vị Mê-si-a của những niềm hy vọng tầm thường, dễ dãi.
2. Một Linh Đạo Cho Công Cuộc Hội Nhập Văn Hóa
Hội nhập văn hóa cũng có ‘linh đạo’ riêng của nó (75). Linh đạo này cắm rễ trong việc triệt để bước theo Đức Giêsu – Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể . Nói cho cùng, công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng chính là sự tiếp tục mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời trong những bối cảnh văn hóa khác – những bối cảnh văn hóa mà Đức Giêsu đang sai phái các môn đệ của Người đến để rao giảng. “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 2, 20). Giống như mầu nhiệm nhập thể, hội nhập văn hóa là “yêu thương” – bởi vì nó được sinh ra do tình yêu và nó được diễn tả qua tình yêu. Hội nhập văn hóa có nghĩa là đi đến với anh chị em mình để nhận hiểu họ trong những khía cạnh hết sức đa dạng của cuộc sống – để nhờ đó, từ bên trong, chúng ta có thể chia sẻ những vui mừng và hy vọng, những ưu sầu và lo lắng của họ (GS 1).
Chấp nhận đau khổ, đó là một thái độ mà không ai có thể xác lập một lần thay cho tất cả, nhưng là một thái độ phải được tái xác nhận hằng ngày trong sự từ bỏ chính mình. Ở đây ta thấy việc huấn luyện đóng vai trò quan trọng biết bao. Trong công việc huấn luyện, văn hóa chiếm phần hết sức cốt yếu, bởi vì
chính qua văn hóa mà con người trở thành ‘người’ nhiều hơn … và văn hóa luôn luôn ở trong mối quan hệ khẩn thiết với bản chất hiện hữu con người. (76)
Đàng khác, trong quá trình huấn luyện các ứng viên cho đời sống tu trì và cho cuộc hội nhập văn hóa gắn liền với đời sống này, không thể không nhấn mạnh rằng
việc tuyên khấn sống theo các lời khuyên Phúc Âm, mặc dù có bao hàm sự từ bỏ những điều vốn tốt đẹp và rất đáng trân trọng, cũng không hề đối nghịch lại sự phát triển đích thực của nhân vị – trái lại, tự bản chất của nó, việc sống theo các lời khuyên Phúc Âm sẽ thăng tiến nhân vị đến một tầm mức rộng hơn. (77)
3. Những Tiêu Chuẩn Huấn Luyện Hội Nhập Văn Hóa
Sau đây là một số tiêu chuẩn vững chắc mà các nhà phụ trách huấn luyện phải làm thấm nhuần nơi những người thụ huấn, để bảo đảm tầm mức đầy đủ nhất cho các mối quan hệ phải tồn tại – trong tiến trình hội nhập văn hóa – giữa một bên là những yếu tố cốt yếu của đặc sủng dòng tu và bên kia là những giá trị nền tảng của các nền văn hóa.
• Đảm bảo rằng các ứng viên của đời sống tu trì sẽ nhận được trình độ văn hóa cao nhất có thể, vì yếu tố này sẽ giúp ích đắc lực cho việc hoàn thiện chính mình của người tu sĩ – như xác nhận của Đức Gio-an Phao-lô II:
Văn hóa … là yếu tố tiên quyết hoàn thiện bản tính con người. Văn hóa có quan hệ khẩn thiết với bản chất hiện hữu của con người. (78)
• Minh định cách thế mà người tu sĩ hội nhập đức tin của mình vào nền văn hóa bản địa và giúp họ thực hiện điều đó, nhưng phải liệu sao cho mối ưu tư về công cuộc hội nhập văn hóa của đức tin không biến các cơ sở huấn luyện thành những phòng thí nghiệm hội nhập văn hóa. Đức tin được hiện thực trong không gian và thời gian hiện sinh của con người – cho dẫu rằng đức tin bao giờ cũng siêu vượt trên không gian và thời gian. Theo nghĩa này, đức tin luôn luôn ở một bình diện cao hơn bình diện chính trị xã hội. Đức tin vận động trong bình diện chuyên biệt của tín ngưỡng. Đức tin đối thoại với văn hóa hơn là đối thoại với những dự phóng chính trị (những dự phóng mà đức tin chỉ quan tâm đến trong mức độ mà chúng tác động đến chính bản thân nền văn hóa).
Như vậy, đức tin siêu vượt trên mọi phân tích xã hội học. Nó không đòi hỏi trước hết một loại dấn thân chính trị nào của người tin, nhưng tiên vàn và chủ yếu, nó đòi hỏi một thái độ tín ngưỡng. Tuy nhiên, đây không phải là một thứ đức tin làm phóng thể người ta. Trái lại, một cách thực tiễn, nó ngấm vào một nền văn hóa để giải phóng và thăng tiến trọn vẹn con người, làm cho con người trở thành ‘người’ nhiều hơn.
Từ viễn tượng này, dự phóng đời sống tu trì trở nên đặc biệt quan trọng. Bởi vì nó hướng về Giáo Hội như thầy dạy của mối quan hệ giữa Tin Mừng và văn hóa trong hai chiều kích của nó là siêu việt và nhập thể.
Tin Mừng – và đời tu xét mức độ nào đó – có vai trò “giải phóng sự thật tối hậu của những giá trị hàm chứa trong một nền văn hóa …” Và văn hóa, đến lượt nó, diễn tả Tin Mừng bằng một kiểu thức độc đáo của nó, đồng thời nó cũng sẽ biểu lộ những khía cạnh mới của Tin Mừng. (79)
• Giúp cho những tu sĩ sống và làm việc tại một nền văn hóa khác với nền văn hóa gốc của mình có sự hiểu biết và sự kính trọng đối với nền văn hóa bản địa – theo tinh thần của Số 22, Sắc Lệnh Ad Genes.
• Thúc đẩy sự hội nhập văn hóa của đời sống thánh hiến tại những Giáo Hội mới, trong mối hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ và dưới sự hướng dẫn của các vị mục tử sở tại, theo tinh thần của Số 18, Sắc Lệnh Ad Gentes.
4. Huấn Luyện Cho Cuộc Đối Thoại Giữa Các Nền Văn Hóa
Từ viễn tượng hội nhập văn hóa này, ngay từ những năm đầu tiên của cuộc huấn luyện khai tâm, các nhà phụ trách huấn luyện phải dạy cho các ứng viên đời tu biết nhận hiểu về tính khẩn thiết của đối thoại và biết thực hành đối thoại. Những điều này phải xuất phát từ toàn cảnh văn hóa của các ứng viên để sau này họ dễ dàng hơn trong việc vượt qua những xung khắc giữa dự phóng riêng họ với những sự vật và những con người, kể cả những người khai phóng cộng đoàn riêng, đồng thời cũng để họ dễ dàng hơn trong việc tìm ra những giải pháp mới, những giải pháp có tính biện chứng và đầy sáng tạo. Người thụ huấn không nên quá gò bó trong những dữ kiện văn hóa – là những dữ kiện có thể có giá trị nhưng không ổn định, nhất là trong thời đại của chúng ta, một thời đại được đặc trưng bởi những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc trong mọi chiều kích văn hóa (GS 4).
Vì thế, các nhà phụ trách huấn luyện có bổn phận phải tạo ra nơi những người thụ huấn một thái độ và một khả năng biết cảm thông, biết chờ đợi sự phát triển nơi người khác, biết gạt bỏ những quan điểm của mình khi cần, biết luôn luôn sẵn sàng để bắt đầu lại bằng một cách khác … Tất cả những thái độ này tựu trung chỉ là sự thể hiện của tinh thần Tin Mừng sẵn sàng thứ tha bảy mươi lần bảy.
Rồi, các nhà phụ trách huấn luyện cũng phải làm cho những người thụ huấn ý thức rằng việc học tập là điều không thể miễn chước được. Chuyện này thật không dễ trong thế giới của chúng ta, một thế giới in đậm chủ nghĩa thực dụng và ‘được chăng hay chớ ’. Học tập là điều kiện tiên vàn để có thể gặt hái kết quả đích thực; nếu không, có nguy cơ chúng ta đào tạo ra những tu sĩ thiếu khả năng phê bình, những tu sĩ có thể dễ dàng bị xỏ mũi bởi bất cứ trào lưu văn hóa nào mới xuất hiện.
5. Tiến Trình Huấn Luyện Hội Nhập Văn Hóa
Thomas H. Groome đã đề ra những bước khác nhau cho thái độ mục vụ về công cuộc hội nhập văn hóa của Tin Mừng. Những bước ấy cũng có thể vận dụng vào công cuộc hội nhập văn hóa của một dòng tu. (80)
• Diễn đạt: Công việc của nhà phụ trách huấn luyện là mời gọi và khơi lên khả năng đối thoại nơi những người thụ huấn, lắng nghe các nhận định của họ về căn tính của đặc sủng dòng tu, và diễn đạt thế giới nội tâm của họ.
• Phản tỉnh: Là chính động lực huấn luyện hội nhập văn hóa. Người thụ huấn được mời gọi qui chiếu đến đặc sủng dòng tu để nhìn lại và biện biệt lịch sử đời sống cá nhân của mình, quá khứ và hiện tại của mình – nhằm mục đích nhận ra được sự định hình đời sống và sứ mạng của mình.
• Mở lối tiếp cận trực tiếp đối với lịch sử dòng tu và nhãn giới về căn tính của dòng tu: Công việc quan trọng bậc nhất của các nhà phụ trách huấn luyện là thúc đẩy những người thụ huấn tiếp nhận căn tính của đặc sủng dòng tu được giới thiệu cho họ – tiếp nhận một cách có cân nhắc chứ không phải một cách tối mặt, và tiếp nhận trong chính bối cảnh nền văn hóa của mình. Cần có được sự phân biệt rõ ràng giữa cốt lõi của đặc sủng ấy và những dự phóng văn hóa xã hội mà nhà huấn luyện có thể gợi ra – để chấp nhận cái trước và xét lại cái sau, vì người thụ huấn có thể thay vào đó bằng những dự phóng văn hóa của chính họ.
• Tiếp nhận : Trong mức độ mà những người thụ huấn đã biện phân, xác định, chất vấn hay nắm được những dự phóng văn hóa và cốt lõi của đặc sủng dòng tu mà người phụ trách huấn luyện đã truyền đạt cho họ, họ sẵn sàng để tiếp nhận đặc sủng ấy, trong một cách thế thích ứng với những đặc điểm văn hóa của riêng mình. Rồi, họ sẽ diễn tả đặc sủng ấy bằng một ngôn ngữ biểu tượng thuộc nền văn hóa của họ, song vẫn bảo toàn bản chất cốt yếu của đặc sủng ấy.
• Một đặc sủng tu trì luôn vận động và chuyển biến: Ơn gọi đảm nhận một đặc sủng tu trì luôn luôn đòi hỏi một sự hoán cải cá nhân, một sự thay đổi não trạng để trở thành môn đệ của Đức Giêsu: “Người chỉ định mười hai người để ở với Người và để sai họ đi rao giảng” (cf. Mc 3, 13) trong một bối cảnh văn hóa cụ thể. Sự mời gọi và sai đi này đòi hỏi một sự thay đổi hoàn toàn lối sống cũng như công việc trước đây của các đương sự .
6. Học tập một cách bài bản
Nói cho cùng, việc học tập một cách bài bản là chuyện bắt buộc. Nếu các ứng viên của đời sống thánh hiến thiếu tính bài bản này, họ sẽ không đạt được một văn hóa thích đáng trong những năm huấn luyện khai tâm; hơn nữa, họ sẽ không thể theo đuổi tiến trình huấn luyện tiếp tục vốn cần thiết để đề kháng thứ vi-rút ‘dở hơi’ hiện đang thịnh hành, và để thích nghi tốt với những biến chuyển không ngừng của thế giới và của Giáo Hội. Không thể có được sự thích nghi này nếu chỉ biết loay hoay chúi mũi vào báo chí, tivi, radio … Sự thích nghi thực sự chỉ xảy ra sau một quá trình học tập lâu dài, một cách nghiêm túc và đầy trách nhiệm. (81)
Trong nền văn hóa cũ tây phương, cũng như trong những nền văn hóa mới xuất hiện, tương lai của các dòng tu và của công cuộc loan báo Tin Mừng do các dòng tu triển khai sẽ tùy thuộc vào khả năng hiệp thông và liên đới của người tu sĩ. Nói vậy không có nghĩa là người tu sĩ phải nhắm mắt trước những vấn đề và những xung khắc chắc chắn sẽ nổi lên trong các cộng đoàn tu trì – do bởi sự khác biệt về chủng tộc, văn hóa và cảm thức. Nhưng, khi những căng thẳng và những xung khắc bộc lộ ra, họ cũng sẽ có thể vượt qua chúng và có thể phấn đấu để xây dựng những cộng đoàn đích thực – những cộng đoàn hình thành từ sự hội tụ của các nguồn gốc khác nhau chứ không phải từ sự đồng nhất cứng ngắt của các thành viên bên trong chúng.
————————-
(1) Tài Liệu Làm Việc, 93.c
(2) Tài Liệu làm Việc, 93 d.
(3) Tài Liệu Làm Việc, 94 a.
(4) B. Hume, Relacioùn Primera, 23
(5) B. Hume, Relacioùn Segunda, c. IV
(6) Elenchus finalis propositionum, propositio 40
(7) P. Codina, (ed), Iglesia y sociedad. Veinte siglos de historia, Barcelona 1977, tr. 12 – 13.
(8) John Paul II, Address to the Pontifical for Culture, 15 Jan. 95
(9) Tertulian, Apologeticum, c. 17
(10) Clement of Alexandria, Stromata I, 19, 91, 94; cf. EN 53.
(11) Eusebius of Caesarea, Praeparatio evangelica, I, 1; cf. LG 16.
(12) GS 53
(13) GS 53
(14) Populorum Progressio, 15.
(15) J. Friede, Vida y luchas de D. Juan del Valle, primer obispo de Popayan y protector de indios, Popayan 1961, note 2, p.31.
(16) Catechesi Tradendae, 9.
(17) P. Suess, A Confused Mission Scenario: A critical Analysis of Recent Church Documents and Tendencies, Concilium, (1994 – 2) p. 111.
(18) Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, Số 1205, 1206, 1232.
(19) Ibid., Số 854.
(20) Ibid., Số 6, 1202.
(21) Ibid., Số 837, 855, 1267, 1396.
(22) D. Amalorpavadas SSs, Evangelization and Culture, Concilium (1979), tr. 61 – 71.
(23) John Paul II, Slavorum Apostoli.
(24) John Paul II, Talk to Religious, Kinshasa, August 1985.
(25) ITC, Faith and Inculturation, I, 11.
(26) ITC, Faith and Culture, I, 8.
(27) Ibid., I, 9.
(28) Ibid., I, 10.
(29) Santo Domingo, 24.
(30) EN 19 –20.
(31) GS 53 – 62.
(32) Puebla, 385 – 443.
(33) Santo Domingo, 230.
(34) J. Noemi, Inculturacion del Evangelio, in Teologia y vida, vol. XXXIV (1993), p. 318.
(35) J. Noemi, o.c.p. 138.
(36) ITC, Faith and Inculturation.
(37) John Paul II, Letter to the Cardinal Secretary of State, 20 April 1982.
(38) C. Geffre, La Theologie au sortir de la modernite, in Christianism et Modernite, Paris 1990, p. 203.
(39) Catechesi Tradendae, 53.
(40) Giấc mơ của Gia-cóp được diễn tả trong một bối cảnh văn hóa Mesopotami: chiếc thang của ông nối trời và đất, nó chính là cái ziggurat của người Mesopotami.
(41) ITC, Faith and Inculturation, II, 2 – 4.
(42) ITC, I.c., 8 – 11.
(43) ITC, I.c., 23.
(44) P. Suess, Evangelizacion inculturada, Testimony, 144, p. 6.
(45) Gio-an Phao-lô II, Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, New York 1994, tr. 108.
(46) Ibid., 111.
(47) Ibid., p. 108.
(48) Ibid., p. 108.
(49) Directory, 112.
(50) Cf. Claretian Missionaries, The Mission of Claretians Today, 31.
(51) Cf. Claretian Missionaries, Servants of the World, 25, 4.
(52) Cf. Claretian Missionaris, The Mission of Claretians Today, 31.
(53) Cf. EN 20.
(54) Cf. AG 20; EN 69.
(55) Cf. Puebla Documents, 325.
(56) J. Alvarez Gomez, Vida Religiosa y cultura en el Medioevo, in CONFER., 81 (1983), p. 26.
(57) Ibid., pp. 21 – 31.
(58) Claretian Missionaries, Constitutions, 48.
(59) T. H. Groome, Inculturation: How to proceed in a pastoral context, 251.
(60) Claretian Missionaries, Constitutions, 48.
(61) Cf. AG 18.
(62) Claretian Missionaries, Servants of the World, 13, 2.
(63) Ibid., 4 & 8.
(64) Ibid., 29, 2.
(65) Ibid., 25, 4.
(66) Marcelo de Acevedo, S.J. Evangelizacion-Inculturacion-Vida Religiosa.
(67) Claretian Missionaries, Constitutions, 49.
(68) Puebla Documents, 401.
(69) Ibid., 403.
(70) Ibid., 404.
(71) Ibid., 406.
(72) LG 1.
(73) J. Nyerere, Cristianismo y Socialismo, in “TELEMA”, 4 (1981), p. 27.
(74) B. Joinet, “I am a stranger in my Father’s house”, in Spiritus, 49.
(75) Fr. Cunegati, Letter trom the Superior General of the work “Don Calabria” to the members of his congregation, 1989.
(76) Thánh Bộ Đời Sống Thánh Hiến và Đời Sống Tông Đồ, Chỉ nam về việc huấn luyện trong các cơ chế tu trì, 90; cf. GS 53-62.
(77) Ibid., cf. LG 46.
(78) John Paul II, UNESCO address, 1980, 7.
(79) Ibid., 2 – 4.
(80) T. H. Groome, o.c., pp. 172 – 175.
(81) J. Alvarez Gomez, La formacioùn de los religiosos y la cultura, in Aa.Vv., Camino de Formacioùn, Madrid 1991, pp. 353 – 354.
———————————–


