Tĩnh Tâm Giáo Triều Mùa Chay 2026 – Bài 4: Sự Tự Do Của Con Cái Thiên Chúa
Tĩnh Tâm Giáo Triều Mùa Chay 2026 – Bài 4: Sự Tự Do Của Con Cái Thiên Chúa
TĨNH TÂM GIÁO TRIỀU MÙA CHAY 2026
Bài 4: SỰ TỰ DO CỦA CON CÁI THIÊN CHÚA
Niềm vui hoàn hảo và cái chết như một người chị
“Sự tự do của con cái Thiên Chúa – Niềm vui hoàn hảo và cái chết như một người chị” là chủ đề kết thúc của loạt bốn bài suy niệm Mùa Chay năm 2026, Bài suy niệm doRoberto Pasolini, Giảng thuyết viên Phủ Giáo hoàng, trình bày trước Đức giáo hoàng Lêô XIVvà Giáo triều Rôma vào thứ Sáu, ngà 27/ 3/ 2026. Sau đây là toàn văn bản dịch tiếng Việt của bài suy niệm:
Trong những bài suy niệm Mùa Chay này, vào năm mà Giáo hội cử hành kỷ niệm tám trăm năm ngày qua đời của thánh Phanxicô Assisi, chúng ta hãy để mình được dẫn dắt bởi dung mạo của “người nghèo” trên hành trình hoán cải theo Tin Mừng. Trong hai bài suy niệm đầu tiên, chúng ta đã chiêm ngắm Phanxicô trong sự căng thẳng giữa sự cao cả của ơn gọi và sự mong manh của nhân tính nơi ngài: hoán cải như một lộ trình của đức khiêm nhường, và tình huynh đệ như bối cảnh cụ thể trong đó tiến trình hoán cải ấy diễn ra và được định hình. Trong bài suy niệm thứ ba, chúng ta tập trung vào vào sứ mạng: cách thức Phanxicô loan báo Tin Mừng không phải bằng sức mạnh của lời nói hay hiệu quả của các chiến lược, nhưng bằng sự nghèo khó có sức giải trừ mọi phòng vệ của một đời sống được hiến dâng. Trong bài suy niệm thứ tư và cũng là bài suy niệm cuối cùng này, chúng ta sẽ cố gắng chiêm ngắm hoa trái chín muồi nhất trong kinh nghiệm của ngài: sự tự do của con cái Thiên Chúa. Không phải là sự tự do của những người né tránh những rủi ro và gánh nặng của cuộc sống, nhưng là sự tự do của những người đã học được, cách tiệm tiến và qua nhiều thử thách, rằng không có gì – ngay cả sự khước từ, bệnh tật hay cái chết – có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa.
1. Niềm vui hoàn hảo
Thánh Phanxicô đã sống một kinh nghiệm thiêng liêng với cường độ lớn lao, nhưng không xa rời nhân tính của chúng ta. Ngài không trở thành một vị thánh vì đã thực hiện những điều phi thường, nhưng vì đã học biết để mình được Thiên Chúa hướng dẫn trong tính cụ thể và sự nghèo khó của đời sống mình. Vì lý do này, truyền thống linh đạo đã gọi ngài là một alter Christus, nghĩa là một con người, nhờ đón nhận Chúa Thánh Thần với sự cởi mở, đã trở nên giống Con Thiên Chúa nhập thể. Những cuộc hoán cải, các ơn chữa lành và những dấu lạ diễn ra trong cuộc lữ hành của ngài nơi trần thế này không gì khác hơn là sự phản ánh của một sự dìm mình trọn vẹn và hữu hiệu trong ân sủng của sự sống mới trong Đức Kitô. Tôma thành Celano nói rằng, vào cuối đời, Phanxicô “không còn cầu nguyện cho bằng là đã trở nên một [lời] cầu nguyện sống động” (Thomas of Celano, Second Life 95; Franciscan Sources 682). Điều này không có nghĩa là vị thánh đã dành toàn bộ thời gian để đọc các công thức kinh nguyện, nhưng là toàn bộ cách sống của ngài đã trở nên như một lời cầu nguyện liên lỉ, nghĩa là diễn tả một tương quan bền vững, sâu xa và chân thực với Thiên Chúa.
Tuy nhiên, trong những năm cuối đời, đức tin của thánh Phanxicô đã được thử luyện bởi sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Các nguồn tư liệu thuật lại rằng ngài đã trải qua một “cơn cám dỗ hết sức nặng nề”, một cuộc khủng hoảng dài lâu và sâu xa, ảnh hưởng đến ngài “cả bên trong lẫn bên ngoài, cả tinh thần lẫn thân xác”, đến mức “ngài tránh né sự hiện diện của anh em, vì bị đè nặng bởi nỗi giày vò ấy, ngài không thể xuất hiện trước anh em với sự bình an quen thuộc của mình” (Compilation of Assisi, 63; Franciscan Sources 1591).
Dòng Anh Em Hèn Mọn đã phát triển và biến đổi, và Phanxicô gặp khó khăn khi nhận ra nơi đó tinh thần đã từng khơi nguồn cho những khởi đầu của mình. Tại Portiuncula, ngài cảm thấy bị gạt ra bên lề, gần như vô dụng, thậm chí bị coi là một “kẻ điên dại”. Trong thời gian đầy kịch tính và đau đớn này, Phanxicô đã mở lòng mình với người bạn và người bạn đồng hành là anh Lêô. Khi họ ở cùng nhau tại Đức Bà Các Thiên Thần, Phanxicô đã thổ lộ nỗi đau của mình bằng cách kể một dụ ngôn. Ngài yêu cầu anh Lêô liệt kê một số điều tốt đẹp có thể là nguồn tự hào cho ngài và cho Giáo hội: nhiều ơn gọi của các tu sĩ thánh thiện, thành công lớn trong việc giảng thuyết, các ơn chữa lành, phép lạ, sự kính trọng của người khác. Sau đó, ngài bảo anh viết: “trong tất cả những điều ấy, không có niềm vui đích thực”. Người bạn đồng hành của ngài lúc đó, hỏi lại trong sự bối rối, vậy thì “niềm vui đích thực là gì?”. Phanxicô đáp như sau:
“Nếu khi chúng ta đến Đức Bà Các Thiên Thần từ Perugia, ướt đẫm vì mưa và run rẩy vì lạnh, đầy bùn đất và kiệt sức vì đói; nếu khi chúng ta gõ cửa tu viện, người giữ cửa bước ra trong cơn giận dữ và hỏi chúng ta là ai; nếu sau khi chúng ta nói: ‘Chúng tôi là hai anh em’, người ấy đáp lại cách giận dữ: ‘Điều các anh nói không đúng; các anh chỉ là hai kẻ giả mạo đi lừa dối thế gian và lấy đi của bố thí của người nghèo; hãy đi đi’; nếu rồi người ấy từ chối mở cửa cho chúng ta và để chúng ta ở ngoài, phơi mình trong tuyết và mưa, chịu đựng lạnh giá và đói khát cho đến đêm xuống – thì, nếu chúng ta đón nhận sự bất công, tàn nhẫn và khinh miệt như thế với lòng kiên nhẫn, không xao động và không kêu trách, tin tưởng với lòng khiêm nhường và bác ái rằng người giữ cửa thực sự biết chúng ta, và chính Thiên Chúa làm cho người ấy nói như vậy chống lại chúng ta, thì hỡi anh Lêô, hãy ghi lạirằng đó là niềm vui hoàn hảo” (On True and Perfect Joy; Franciscan Sources 278).
Câu chuyện có một cấu trúc đơn giản nhưng khéo léo. Sau khi liệt kê những điều không làm nên niềm vui đích thực, nó đi đến điểm then chốt: niềm vui chân thực được biểu lộ khi sự khước từ, nhục nhã và hiểu lầm không thể tước mất sự bình an của chúng ta.
Niềm vui đích thực không trùng với cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm khi mọi sự diễn ra thuận lợi và đời sống chúng ta được nhìn nhận và an ủi, nhưng hệ tại ở cách thức chúng ta phản ứng trong những hoàn cảnh bất lợi, khi chúng ta bị từ khước và loại trừ. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là trở nên vô cảm trước đau khổ. Phanxicô không tìm kiếm một con tim chai lì, nhưng khám phá rằng mình có thể có một con tim tự do ngay giữa những đau khổ lớn lao nhất. Hạnh phúc không hệ tại ở việc tự che chắn mình khỏi thực tại, nhưng ở việc học biết đón nhận thực tại, ngay cả khi nó gây đau đớn, mà không để mình bị nó áp đảo. Chính tại đó, đời sống Kitô hữu trở nên cụ thể, và chúng ta học biết trân trọng một niềm vui không tùy thuộc vào việc mọi sự diễn ra tốt đẹp thế nào, nhưng tùy thuộc vào cách chúng ta chọn để sống chúng. Thánh Tông đồ Giacôbê cũng nói:
“Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những vệc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1,2-4).
Câu trả lời mà Phanxicô chỉ ra không phải là trốn tránh sự dữ, cũng không phải là phủ nhận nó, cũng không phải là đáp trả nó theo cùng một cách. Đó là điều gì đó sâu xa hơn: đón nhận sự dữ mà không để nó được chuyển từ chúng ta sang người khác; từ chối trở thành chính điều đã làm tổn thương mình. Đó là một lộ trình đòi hỏi, nhưng đồng thời cũng là con đường giải thoát. Bởi lẽ, khi chúng ta đón nhận sự dữ, nó luôn chạm đến một điều gì đó còn sống động trong chúng ta. Và chính tại đó, nơi điểm mong manh ấy, niềm vui hoàn hảo có thể được sinh ra: không phải như sự vắng bóng của những vết thương, nhưng như sự tự do không để cho chúng định nghĩa chúng ta. Đó là một sự tự do không xóa bỏ đau khổ, nhưng ngăn không cho đau khổ có tiếng nói sau cùng.
2. Sự viên mãn của sự sống
Khả năng tìm thấy niềm vui ngay giữa những thử thách không phải là một mục tiêu thiêng liêng dành riêng cho một số ít đặc quyền, những người đã nhận được ân ban về một sự thân mật đặc biệt với Thiên Chúa. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu cho thấy rằng lối sống này – tự do ngay cả trước hận thù và bách hại – chính là hình thức viên mãn của sự sống mới trong danh Người. Chính vì thế, ngay từ khởi đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã lên núi và công bố các Mối Phúc. Không phải là một lề luật, nhưng là một lời hứa. Không phải là một chương trình hoàn thiện mang tính luân lý, nhưng là sự mặc khải về một hạnh phúc đã đang hoạt động nơi trung tâm của thực tại.
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,vì Nước Trời là của họ.Phúc thay ai hiền lành,vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp.Phúc thay ai sầu khổ,vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.Phúc thay ai khát khao nên người công chính,vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.Phúc thay ai xót thương người,vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.Phúc thay ai xây dựng hòa bình,vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,vì Nước Trời là của họ.Phúc cho anh em khi vì Thầymà bị người ta sỉ vả, bách hạivà vu khống đủ điều xấu xa.Anh em hãy vui mừng hớn hở,vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế”.(Mt 5,3-12).
Những lời này, mà chúng ta hầu như đã thuộc lòng, chính là trung tâm của Tin Mừng, vì chúng dứt khoát xua tan ảo tưởng rằng hạnh phúc tùy thuộc vào những mục tiêu và thành công mà chúng ta có thể đạt được trong cuộc sống – hoặc thậm chí theo đuổi. Đức Giêsu chỉ ra những hoàn cảnh bất tiện và khó khăn nhất mà chúng ta có thể gặp phải, và khẳng định rằng chính ở đó ẩn giấu một sự viên mãn nhiệm mầu của sự sống. Các Mối Phúc không mời gọi chúng ta trốn tránh thực tại cũng không trì hoãn hạnh phúc vào một tương lai xa xôi. Các Mối Phúc mời gọi chúng ta đi sâu hơn vào chính điều mình đang trải nghiệm, ngay cả khi nó xem ra mong manh và chưa trọn vẹn. Các Mối Phúc công bố rằng con đường dẫn đến sự sống viên mãn đi ngang qua kinh nghiệm cụ thể của chúng ta, qua chính con người chúng ta và những gì chúng ta đang trải qua. Không phải chúng ta là những người xây dựng hay đạt được hạnh phúc: phúc thật là một lời hứa đã được đặt sẵn trong đời sống chúng ta, như một hồng ân từ Chúa Cha. Vấn đề là học biết nhận ra và đón nhận ân ban ấy.
Tuy nhiên, có một điểm then chốt cần được nhấn mạnh. Các Mối Phúc không chỉ nói về một tương lai trong đó chúng ta sẽ được Thiên Chúa thưởng công: Các Mối Phúc cho thấy rằng chính đời sống này, như nó đang là, đã là nơi chúng ta có thể nếm hưởng sự viên mãn của sự sống. Và điều đó trở nên khả thể bởi vì những lời ấy phát xuất từ một cái nhìn xác định: cái nhìn của Đức Giêsu, Đấng mặc khải cho chúng ta biết chúng ta là ai trong ánh nhìn của Thiên Chúa. Đức Giêsu nhìn những con người mang dấu ấn của mệt mỏi, nghèo khó, đau khổ và nỗ lực kiếm tìm. Và chính trên họ, Người thốt lên lời chúc phúc. Như thể Người đang nói: ngay trong con người của anh chị em và trong điều anh chị em đang nỗ lực sống, đã có sẵn một sự viên mãn hướng tới việc chín muồi và hoàn tất.
Các Mối Phúc không vạch ra một lộ trình anh hùng, nhưng giúp chúng ta đón nhận cách khiêm tốn điều mà chúng ta được mời gọi sống, ngay cả khi điều đó bao hàm gian nan, cô đơn và bách hại. Các Mối Phúc khẳng định rằng thực tại, như chính nó, có thể trở thành nơi của hạnh phúc. Điều này có nghĩa là đời sống không nên bị trì hoãn hay lý tưởng hóa, nhưng cần được đón nhận trong thực tại vừa bi thương vừa cao cả của nó. Niềm vui Tin Mừng không loại bỏ những vết thương, nhưng vượt lên trên và biến đổi chúng, mở ra cho chúng ta tình yêu lớn nhất, một tình yêu biết tha thứ. Chính trong sự đón nhận thực tại này mà sự tự do mới được khai mở, một tự do không còn lệ thuộc vào những điều kiện bên ngoài.
Đó là cốt lõi của Các Mối Phúc. Và đó cũng là điều Phanxicô đã nhận ra vào cuối hành trình nhân sinh và Kitô hữu của mình, khi qua một dụ ngôn, ngài đã tiết lộ cho anh Lêô nơi mà niềm vui đích thực cư ngụ.
3. Những hệ quả của tình yêu
Trong lịch sử linh đạo Kitô giáo, những hiện tượng thần bí, nơi mầu nhiệm cuộc khổ nạn của Đức Kitô được phản ánh nơi thân xác của người tín hữu, thường bị hiểu lầm; đôi khi gây sợ hãi, đôi khi lại bị giản lược thành những sự kiện được xếp loại như những điều kỳ lạ không thể giải thích. Nguy cơ tinh vi nhất là để cho chúng dẫn dắt chúng ta đến một hình ảnh lệch lạc về Thiên Chúa: như thể Người cần đau khổ của chúng ta để được thỏa mãn hay được tôn vinh, như thể hy tế của Đức Kitô vẫn còn thiếu sót điều gì đó, như thể chúng ta vẫn đang sống trong một lối luận lý cổ xưa của món nợ và sự đền bù.
Chúng ta biết rằng không phải như vậy. Thiên Chúa không cần gì nơi chúng ta, ngoài việc chúng ta đón nhận hồng ân của hy tế Đức Kitô và, qua việc dần dần đồng hóa với hy tế ấy, học biết sống tình yêu trong sự viên mãn của nó. Khi Thiên Chúa chạm đến một con người cách sâu xa, Người không thêm đau khổ, nhưng biến đổi và chuyển hóa những gì đã hiện diện trong đời sống họ, làm cho nó trở thành dấu chỉ và hệ quả của tình yêu.
Với nhãn quan này, chúng ta có thể tiến gần đến biến cố các dấu thánh của Phanxicô, xảy ra trên núi La Verna vào khoảng giữa mùa hè và mùa thu năm 1224, hai năm trước khi ngài qua đời, trong khoảng thời gian giữa lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và lễ thánh Tổng lãnh thiên thần Micae. Các nguồn tư liệu thuật lại rằng, vào cuối một Mùa Chay được cử hành để tôn kính vị Tổng lãnh thiên thần, Phanxicô đã có một thị kiến về một Seraphim chịu đóng đinh, và từ cuộc gặp gỡ ấy, thân xác ngài mang những dấu đinh nơi tay và chân, cũng như vết thương nơi cạnh sườn (x. Thomas of Celano, First Life, 94–95; Franciscan Sources 485–486). Tuy nhiên, để hiểu điều đã xảy ra tại La Verna, cần phải xét đến tình trạng mà Phanxicô đã mang theo khi đến đó. Những vết thương đã hiện diện nơi ngài, ngay cả trước khi chúng trở nên hữu hình. Thân xác ngài suy yếu, đôi mắt bị một chứng bệnh đang dẫn đến mù lòa. Tâm hồn ngài bị nắm giữ bởi “cơn cám dỗ lớn lao”: Dòng đang phát triển vượt mực, mang lấy những hình thức mà ngài không còn nhận ra, và các anh em – những người do chính ngài sáng lập – đang dần xa rời tính triệt để của Tin Mừng nơi ngài. Ngài cảm thấy bị gạt ra bên lề, bị nhìn như một gánh nặng. Ngài lên núi không phải như một người chiến thắng, nhưng như một người mang thương tích.
Chính tại đây, kinh nghiệm thần bí bày tỏ ý nghĩa đích thực nhất của nó. Thiên Chúa không can thiệp bằng cách thêm vào những vết thương mới, nhưng bằng cách biến đổi những vết thương đã hiện diện trong đời sống. Những đau khổ của Phanxicô – sự thất bại của các dự định, sự hiểu lầm của anh em, sự cô đơn của người đã hiến mình không giữ lại điều gì – không còn là một gánh nặng bị giữ kín bên trong, nhưng trở thành một nơi của tương quan. Điều từng có vẻ tách biệt ngài khỏi người khác được biến đổi thành điều liên kết ngài với Đức Kitô và, hệ quả là, hòa giải ngài với anh em mình. Những lời mà Thánh Tông đồ Phaolô viết ở phần cuối chương tám thư gửi tín hữu Rôma diễn tả cách xác đáng bước chuyển mang tính quyết định này trong đời sống của thánh Phanxicô:
“Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? … Ðúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, chiều cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Ðức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,35.38-39).
Các dấu thánh không phải là một phép lạ để được quan sát từ xa, cũng không phải là một đặc ân dành riêng cho một số ít được tuyển chọn. Các dấu thánh là dấu chỉ hữu hình của một sự biến đổi nội tâm: điểm mà tại đó những vết thương không khép lại trong sự chai cứng, nhưng mở ra cho tương quan. Đó là ân ban của La Verna: những thất bại của con người – thất bại, bệnh tật, đổ vỡ trong tương quan – có thể trở thành những địa điểm, nơi nhân tính của chúng ta được biến đổi. Đau khổ không biến mất, nhưng không còn giữ lời nói sau cùng. Phanxicô xuống núi La Verna với một thân xác mang dấu ấn và một con tim tự do: có khả năng nhìn anh em mình với lòng kiên nhẫn, yêu thương họ ngay chính trong những giới hạn của họ. Ngài đã đi từ sự chết đến sự sống.
Câu chuyện này, vẫn được kể lại sau tám trăm năm, là Tin Mừng, bởi vì nó liên hệ đến mỗi người chúng ta. Những nỗi buồn của cuộc sống để lại nơi chúng ta những dấu vết mà không phải lúc nào chúng ta cũng hiểu và thường khó chấp nhận. Đó là những vết thương mở ra trước hai khả năng: chúng có thể khép kín chúng ta trong oán giận hoặc trốn chạy, hoặc trở thành những không gian cho sự tăng trưởng và tự do.
Trong mức độ có thể đón nhận những vết thương của mình, chúng ta khám phá rằng chúng có thể được Thần Khí của Đức Kitô biến đổi, để mang lấy một ý nghĩa biểu tượng mới. Chúng vẫn là những vết thương, nhưng trở thành dấu chỉ của một sự thuộc về sâu xa hơn, làm chứng rằng chúng ta đã trở nên những chi thể của thân thể Đức Kitô. Khi ấy, lời của Phaolô cũng trở nên khả hiểu và đầy ý nghĩa đối với chúng ta: “Ước gì từ nay, tôi chẳng còn sợ ai làm phiền nữa, vì tôi mang trên mình tôi những dấu tích của Ðức Giêsu” (Gl 6,17). Đau khổ không biến mất, nhưng không còn quyền lực để khép kín chúng ta. Nơi sâu thẳm của con tim, chúng ta khám phá một sự bình an mà không gì và không ai có thể lấy đi khỏi chúng ta.
4. Chị chết
Có một câu nói cổ xưa trong truyền thống Ấn Độ ví đời sống con người như bốn mùa: mùa Xuân để học hỏi, mùa Hè để giảng dạy, mùa Thu để lui vào rừng và chiêm niệm, và mùa Đông để học cách ăn xin. Phanxicô đã kinh qua tất cả. Ngài đã học trong tuổi trẻ đầy thao thức tại Assisi, đã giảng dạy trong những năm loan báo và khai sáng Dòng, đã rút lui vào cô tịch tại La Verna và các ẩn viện. Nhưng chính trong mùa Đông của cuộc đời, trong những tháng trước khi qua đời, ngài thực hiện hành vi khó khăn nhất: học cách ăn xin. Không phải xin bánh – điều ngài vốn luôn biết cách làm. Ngài học xin sự an ủi, sự gần gũi, sự dịu dàng. Ngài học cách đón nhận.
Trong những tháng cuối đời, Phanxicô đã để mình được đón nhận tại dinh thự của giám mục Assisi. Đây là một chi tiết đáng chú ý. Con người đã làm cho sự nghèo khó trở thành dấu ấn của đời mình, người đã lột bỏ mọi sự trước mặt thân phụ và vị giám mục, giờ đây lại chấp nhận được chăm sóc trong một nơi được bảo vệ. Đó không phải là một mâu thuẫn. Đó là sự nhất quán của một người đã học được rằng việc đón nhận cũng là một hành vi của đức khiêm nhường. Sự nghèo khó của những ngày đầu nhường chỗ cho một điều gì đó chân thực hơn: sự nghèo khó của người biết mình cần đến người khác, cả để sống và để chết.
Tại nơi ngài đang lưu trú, Phanxicô xin anh em hát những lời ca tụng Thiên Chúa để làm dịu nỗi đau của mình. Ngài bảo họ hát ngay cả vào ban đêm. Và khi anh Êlia lưu ý rằng niềm vui như thế có thể khiến những người biết ngài đang gần kề cái chết phải ngạc nhiên, Phanxicô đáp lại:
“Anh ơi, hãy để tôi vui mừng trong Chúa và trong những lời ca tụng Người giữa những đau khổ của tôi, vì nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, tôi được kết hợp mật thiết với Chúa tôi đến mức, nhờ lòng thương xót của Người, tôi hoàn toàn có thể vui mừng trong Đấng Tối Cao!” (Compilation of Assisi 99; Franciscan Sources 1637).
Khi vị thầy thuốc cho biết cái chết đã cận kề, ngài muốn biết chắc chắn: “Xin nói cho tôi sự thật, ông thấy điều gì? Đừng sợ, vì nhờ ân sủng của Thiên Chúa, tôi không phải là kẻ hèn nhát sợ chết” (Compilation of Assisi 100; FF 1638). Trước tin ấy, ngài đáp lại bằng một lời đầy sức giải trừ: “Xin chào mừng, chị Chết của tôi!” Chính đó là cách ngài đã gọi cái chết khi thêm đoạn cuối vào Bài ca Thụ tạo:
“Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, / qua chị Chết thể xác của chúng con, / mà không một sinh linh nào có thể thoát khỏi” (Canticle of the Creatures 27-29; Franciscan Sources 263).
Từ “Chị” ấy – không phải là một ẩn dụ mang tính an ủi. Đó là hoa trái của một hành trình dài của hòa giải. Như thư gửi tín hữu Do Thái nói, ma quỷ giam cầm chúng ta suốt đời trong nỗi sợ cái chết (x. Dt 2,15). Chính vì thế, tất cả chúng ta đều tìm cách né tránh và trốn chạy cái chết bằng mọi cách, chừng nào còn có thể.
Nhưng khi tình yêu của Đức Kitô thành công trong việc hình thành nơi chúng ta một sự sống mới, nỗi sợ ấy dần tan biến, và cái chết đổi khuôn mặt, trở thành cơ hội sau cùng và dứt khoát cho sự hoán cải: khoảnh khắc chúng ta buông bỏ mọi điều còn níu giữ mình và phó thác bản thân, không giữ lại điều gì, cho cái nhìn vừa công chính vừa giàu lòng thương xót của Chúa Cha.
Ý thức rằng giờ phút cuối đã gần kề, Phanxicô ước muốn rời khỏi dinh thự của giám mục để được đưa về Portiuncula, nơi thân thương nhất đối với ngài trên trần gian. Các nguồn tư liệu cho biết, trong những ước nguyện cuối cùng của ngài còn có việc được gặp Donna Jacopa dei Settesogli, người bạn Rôma đã nâng đỡ ngài bằng một tình thân trung tín suốt nhiều năm. Vì thế, ngài đã viết cho bà một lá thư ngắn, nài xin bà đến thăm và mang theo những chiếc bánh ngọt nhỏ mà bà biết làm và và ngài rất yêu thích. Đó là cử chỉ của một con người, vào giây phút cuối, vẫn ước mong gặp một khuôn mặt thân quen và một chút dịu dàng.
Donna Jacopa đã đến ngay cả trước khi bức thư được gửi đi, như được Thiên Chúa thúc đẩy: “Do đó, bà bước vào nơi sự hiện diện đẩy phúc lành của Phanxicô, nước mắt tuôn rơi dạt dào”” (Compilation of Assisi 8; Franciscan Sources 1548). Trong khung cảnh ấy – một người đau bệnh, một người bạn đang khóc, anh em quy tụ chung quanh, tiếng kinh Laudes vang lên trong đêm – hành vi cuối cùng của sự nghèo khó Tin Mừng nơi Phanxicô được hoàn tất. Không phải là sự nghèo khó của những ngày đầu, được đánh dấu bởi những cử chỉ từ bỏ triệt để, nhưng là dạng nghèo khó khó khăn nhất: của một người chấp nhận để mình được nhìn thấy trong chính sự mong manh của mình, không còn gì để chứng tỏ, không còn gì để bảo vệ, và biết rằng mình cần đến người khác cho cuộc vượt qua mà, sau cùng, mỗi người phải đối diện một mình.
Như thế, Phanxicô ra đi, sau khi đã học được bài học tối hậu: rằng đón nhận là hình thức tinh tuyền nhất của trao ban, và để mình được yêu thương cho đến cùng chính là sự tự do cao cả nhất.
5. Trần trụi trên nền đất trơ trụi
Các bản tiểu sử chính thức đã chọn thuật lại cái chết của Phanxicô theo một cách khác. Bất cứ điều gì gợi lên hình ảnh một con người đang cần đến người khác đều được giảm nhẹ hoặc để ở hậu cảnh. Điều nổi bật trên hết nơi các bản tiểu sử này là dung mạo của vị thánh, người anh hùng Kitô giáo, chứng nhân mẫu mực của sự hoàn hảo Tin Mừng. Bonaventura trình bày Phanxicô như người “muốn trả món nợ cho cái chếtcủa mình” (Legenda Minor 7,3; Franciscan Sources 1386), với ý thức của một hiệp sĩ tiến ra gặp đối thủ của mình. Toàn bộ cuộc đời ngài xuất hiện như một hành trình đi lên hướng tới sự viên mãn, và cái chết là đỉnh điểm xứng hợp của hành trình ấy.
Thế nhưng, chính trong tường thuật cao cả và rực sáng ấy, các nguồn tư liệu vẫn lưu giữ một chi tiết không thể bị xóa bỏ, bởi vì nó quá chân thực.
“Bị hao mòn bởi cơn bệnh trầm trọng ấy, vốnlà hồi kết của mọi đau khổ của mình, ngài đã truyền đặt mình nằm trần trụi trên nền đất trơ trụi, để trong giờ phút cuối cùng, khi kẻ thù còn có thể tấn công ngài, ngài có thể giao chiến trần trụi với đối thủ trần trụi của mình” (Thomas of Celano, Second Life 214; Franciscan Sources 804)
Trần trụi trên nền đất trơ trụi: đây không phải là một hình ảnh khổ hạnh cũng không phải là một thách đố mang tính biểu tượng đối với cái chết, nhưng là sự hoàn tất hợp lý của cả một đời sống. Sự từ bỏ đã là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ hành trình của ngài: nhiều năm trước đó, tại quảng trường Assisi, trước mặt thân phụ Pietro di Bernardone và giám mục Guido, Phanxicô đã cởi bỏ mọi y phục của mình, trao trả mọi sự và chọn không còn đặt căn tính của mình trên của cải, địa vị hay danh xưng. Ngày hôm ấy, ngài đã khoác lấy tu phục như khoác lấy tự do. Giờ đây, vào cuối cuộc lữ hành của mình, ngay cả tấm áo cuối cùng ấy cũng không còn cần thiết nữa. Không phải vì nó bị khinh chê, nhưng vì nó không còn cần thiết. Phanxicô đã hoàn tất hành trình của mình và sau cùng đã hòa giải với chính lịch sử đời mình, với những gì ngài đã sống và cả với những gì ngài đã không thực hiện được. Ngài không còn gì để sợ và cũng không còn gì để xấu hổ: mọi trang đời của ngài đều đã được ân sủng soi sáng. Ngài đã chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp của đức tin: ngài đã trở nên một người con đích thực của Thiên Chúa.
Trong Kinh Thánh, sự trần trụi không phải là một chi tiết bên lề, nhưng hàm chứa bí nhiệm của mối tương quan giữa con người và Thiên Chúa. “Con người và vợ mình, cả hai đều trần trụồng mà không xấu hổ” (St 2,25): thuở ban đầu, sự trần trụi là sự trong suốt; đúng hơn, đó là tình trạng của những ai sống không phòng vệ, bởi vì họ đón nhận mọi sự như một hồng ân. Chính con rắn đã gieo vào sự nghi ngờ, ám chỉ rằng sự sống phải được chiếm hữu và bảo vệ. Từ giây phút ấy, sự trần trụi trở thành xấu hổ, cái chết trở thành kinh hoàng, và thân xác trở thành nơi của căng thẳng. Thế nhưng, Thiên Chúa không bỏ rơi con người trong nỗi sợ hãi này: toàn bộ lịch sử Kinh Thánh kể về một Thiên Chúa không ngừng tìm kiếm con người để khôi phục lại niềm tín thác nơi họ. Đức Kitô đưa câu chuyện này đến chỗ viên mãn trên thập giá, trần trụi, bị phơi bày, nhưng vẫn tiếp tục chúc lành. Chính tại đó, Thiên Chúa chạm đến con người ở điểm mong manh nhất của sự hiện hữu và dứt khoát dập tắt sự nghi ngờ liên quan đến sự sống và cái chết. Phương dược chữa trị nỗi sợ không phải là một sự phòng vệ mạnh mẽ hơn, nhưng là điều ngược lại: ngừng tự vệ, mở rộng vòng tay và học biết đón nhận.
Phanxicô dần dần thấm nhập bí nhiệm này, thực hành suốt đời mình để trở về với sự trần trụi thụ tạo của chính mình. Mỗi lần từ bỏ là một hành vi tín thác, mỗi sự khước từ là một bước tiến về phía một tự do sâu xa hơn. Nhưng sự trần trụi cuối cùng tại Portiuncula không đơn thuần là đỉnh điểm của một hành trình khổ hạnh: đó là sự hòa giải của một con người với chính mình. Suốt cuộc đời, Phanxicô đã mang nhiều căn tính khác nhau – con trai của một thương gia, một thanh niên đầy tham vọng, một hiệp sĩ tương lai, một người hoán cải, một vị sáng lập, một nhà giảng thuyết, một người bệnh, thậm chí một con người bị tổn thương và bị hiểu lầm – và giờ đây, khi nằm trên nền đất, tất cả những điều ấy đều tan biến. Chỉ còn lại điều cốt yếu: một thụ tạo giữa các thụ tạo, bình an trước Đấng Tạo Hóa của mình, cần đến mọi sự và, chính vì thế, sẵn sàng đón nhận mọi sự với lòng biết ơn.
Chính vì thế mà Giáo hội nhìn nhận ngài là một vị thánh. Không phải trước hết vì những gì ngài đã làm, nhưng vì điều ngài đã có thể trở nên. Phanxicô đã gìn giữ nhân tính của mình cho đến cùng, không che giấu cũng không làm cho nó chai cứng. Ngài đã học biết đón nhận sự mong manh của chính mình, sống như một người con và như một người anh em, không còn xấu hổ về sự nhỏ bé của mình. Và chính trong sự nhỏ bé được đón nhận ấy, ngài đã tìm thấy tự do lớn lao nhất: tự do đặt mình phục vụ Giáo hội và thế giới với lòng quảng đại, không đo lường, không tính toán và không phòng vệ.
Kết luận
Lộ trình của Phanxicô Assisi không phải là một ngoại lệ dành riêng cho số ít, nhưng là sự hoàn tất trọn vẹn điều mà Tin Mừng hứa ban cho mọi người đã lãnh phép Rửa: một đời sống tự do, có khả năng yêu thương đến cùng và chịu đựng đau khổ mà không bị nó khuất phục. Đây là một ân sủng có thật, khả thi, giúp chúng ta nhận ra nơi mọi thực tại – kể cả trong cái chết – dung nhan của một Người Cha không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Trước chứng tá này, nhiệm vụ của chúng ta với tư cách là mục tử vừa quan trọng vừa tinh tế. Chúng ta không thể điều chỉnh Tin Mừng theo những nỗi sợ của mình, giản lược Tin Mừng thành một đề nghị mang tính trấn an hay một tập hợp những thực hành tôn giáo chỉ giữ lại hình thức bên ngoài mà đánh mất sức mạnh thiêng liêng đích thực. Việc trao ban một Kitô giáo “rẻ tiền”, dễ dàng hơn nhưng kém đòi hỏi hơn, thực chất là tước đi nơi con người điều họ thật sự cần: một con đường có khả năng dẫn bước họ đến sự sống đời đời.
Tin Mừng không mời gọi chúng ta sống kém sung mãn hơn, cũng không cũng không thúc đẩy chúng ta trốn tránh gánh nặng và nhọc nhằn của thực tại. Trái lại, Tin Mừng trao ban cho chúng ta sức mạnh để khao khát sự sống với cường độ mãnh liệt nhất, đồng thời khiêm tốn đón nhận thập giá và lương thực hằng ngày của mình. Tin Mừng không đưa ra những lối tắt, nhưng giúp chúng ta dấn bước trên hành trình thanh luyện và hoán cải, dẫn tới sự tự do của con cái Thiên Chúa. Trách nhiệm của các mục tử trong Giáo hội Công giáo là gìn giữ chân lý này cách trung tín, không làm loãng đi, đồng thời chỉ ra những lộ trình mở lối cho sự trưởng thành trọn vẹn trong Đức Kitô.
Trong năm mà chúng ta chiêm ngắm Phanxicô, hãy để chínn mình được chất vấn bởi chứng tá Tin Mừng của ngài. Vấn đề không phải là bắt chước các hành động bên ngoài, nhưng là để cho mình được đánh động bởi niềm khao khát đã dẫn dắt từng bước đời ngài: nhận biết Đức Kitô, “quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh,cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, để, nếu có thể, [chúng ta] cũng được sống lại từ trong cõi chết” (x. Pl 3,10-11).
Lạy Thiên Chúa toàn năng, hằng hữu, công minh và giàu lòng thương xót, xin ban cho chúng con là những thụ tạo hèn mọn biết, vì tình yêu Chúa mà thực thi điều chúng con nhận biết là Chúa muốn, và luôn ước ao điều làm đẹp lòng Chúa; ngõ hầu, nhờ được thanh luyện trong tâm hồn, được soi sáng trong tâm trí, và được bừng cháy bởi lửa Chúa Thánh Thần, chúng con biết bước theo dấu chân Con yêu dấu của Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con; và chỉ nhờ ơn Chúa trợ giúp, chúng con được đến cùng Chúa, lạy Đấng Tối Cao, Đấng trong Ba Ngôi chí thánh và hiệp nhất duy nhất hằng sống, hiển trị và được tôn vinh, là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời. Amen.