Thường Huấn Phó Tế Giáo Phận Kon Tum – Đợt II (Tháng 08/2026) – Con Người, Công Bằng Xã Hội & Sứ Mạng Ad Gentes

Sau kỳ tĩnh tâm tháng của linh mục đoàn và quý thầy phó tế Giáo phận Kon Tum, Ban Đào tạo Chủng viện Thừa sai Kon Tum đã tiếp tục tổ chức chương trình thường huấn Đợt II dành cho quý thầy Phó tế trong hai ngày 05-06 tháng 08. Chương trình đợt thường huấn này tập trung vào hai nội dung then chốt: đọc và hiệu đính bản dịch tài liệu hậu hội nghị về thần học truyền giáo của Hội Thừa Sai Paris (MEP) với chủ đề Sứ Mạng Ad Gentes, đồng thời nối tiếp các cuộc đối thoại trong Đợt I bằng việc đi sâu vào Chương II và Chương III của Thông điệp Laudato Si’ qua chủ đề “Con Người, Công Bằng Xã Hội & Thần Học Sáng Tạo”. Cha Giám đốc Phêrô Nguyễn Văn Hiền tiếp tục đồng hành, hướng dẫn và cùng với quý thầy Phó tế đúc kết những định hướng mục vụ thiết thực cho sứ vụ trong cả hiện tại lẫn tương lai.

1. Tài liệu thần học truyền giáo: Trực giác của các Đấng sáng lập MEP và thần học sứ mạng

Trong hai ngày thường huấn, quý thầy Phó tế cùng đọc Chương I của tài liệu hậu Hội nghị về thần học truyền giáo của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (MEP) với chủ đề “Trực giác của các Đấng sáng lập – Những nhà thừa sai nhiệt thành vào thời hoàng kim.” Chương này là một tóm lược khái quát bối cảnh hình thành của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris và những trực giác nền tảng đã định hướng cho công cuộc truyền giáo của các thừa sai, không chỉ trong nội bộ Nhà MEP, tại Á châu.

Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris ra đời từ dự án cải cách của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin nhằm giảm bớt ảnh hưởng của hệ thống Bảo hộ (Padroado), đồng thời cử các Đại diện Tông tòa đến châu Á để tái lập quyền điều hành của Rôma và xây dựng hàng giáo sĩ bản xứ. Ba vị Đại diện Tông tòa tiên khởi được đề nghị lên đường sang Viễn Đông bao gồm Đức cha François Pallu, người có vai trò như một nhà tư tưởng, nhà tổ chức và trung gian ngoại giao giữa châu Á, Rôma và nước Pháp; Đức cha Pierre Lambert de la Motte, nhà quản trị và nhà thần bí say mê Thập giá, trực tiếp điều hành mục vụ tại Á châu trong nhiều năm và vạch ra những đường hướng chính yếu; cùng Đức cha Ignace Cotolendi (ngài qua đời tại Ấn Độ năm 1662 trước khi đặt chân vào Trung Hoa). Sau này sẽ xuất hiện một nhân vật quan trọng khác, vốn là một trong các linh mục đầu tiên cùng tháp tùng các vị Đại diện Tông tòa, góp phần hình thành một nền thần học linh đạo và thần học truyền giáo phong phú cho Á châu, Đức cha Louis Laneau.

H1. Chân dung Đức cha Lambert de la MotteĐức cha François Pallu

Các công nghị địa phương được tổ chức ngay trong những ngày đầu tại miền truyền giáo và tại Thái Lan đã phản ánh rất cụ thể những trực giác thiêng liêng và phương pháp mục vụ của các vị sáng lập. Trước hết là việc đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ như ưu tiên hàng đầu để xây dựng một Giáo hội địa phương độc lập và vững mạnh. Kế đến là việc tránh can thiệp vào chính trị và bác bỏ mọi hoạt động thương mại hay tìm kiếm lợi nhuận trần thế, đồng thời đề cao giáo dục và các hoạt động bác ái, y tế như những phương thế nhân bản phù hợp của công cuộc truyền giáo. Tài liệu cũng trình bày sự ra đời của Dòng Mến Thánh Giá do Đức cha Lambert thành lập ở Đàng Ngoài năm 1970 và ở Đang Trong năm 1971với đặc sủng quy hướng về Thập giá Đức Kitô qua đời sống cầu nguyện, hãm mình và bác ái. Sau cùng là đường hướng hội nhập văn hóa được thể hiện qua sự khoan nhượng thận trọng, việc học ngôn ngữ địa phương, đối thoại với Phật giáo và linh đạo thần hóa, trong đó người thừa sai được mời gọi sống hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Kitô và Chúa Thánh Thần, biến mọi đau khổ thành cơ hội nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Trong đó, ngài vừa là người chiêm niệm nhưng cũng là người hành động dưới ân sủng của Thánh Thần.

Trong thời kỳ này, có hai văn kiện rất quan trọng mà quý thầy được mời gọi đọc và đào sâu đó là Huấn thị 1659 của Bộ Truyền Bá Đức Tin và bản Monita ad Missionarios của Công nghị Yuthia 1664 và được Bộ Truyền Bá Đức Tin cho xuất bản năm 1669. Đây được xem như những văn kiện nền tảng phản ánh đường lối và trực giác truyền giáo vẫn còn nguyên tính thời sự[1].

H2. Ảnh chụp bản Monita ad Missionarios được đệ trình lên Đức Giáo hoàng Clement IX

II. Đối thoại Laudato Si’

Mở đầu các vòng đối thoại, các nhóm nhận định rằng Chương II và III của Thông điệp Laudato Si’ không chỉ trình bày nền tảng thần học về công trình sáng tạo mà còn gợi lên nhiều vấn đề mục vụ cụ thể trong bối cảnh Giáo phận Kon Tum. Tuy nhiên, vì nội dung của hai chương mang tính thần học và học thuật khá cao nên việc tìm những tình huống thực tế để áp dụng trực tiếp cũng gặp không ít khó khăn. Ở đây, quý thầy đặc biệt quan tâm đến những vấn đề sau:

1. Con người là người quản lý chứ không phải chủ nhân tuyệt đối của thiên nhiên

Quý thầy cho rằng cần phải đọc lại trình thuật sáng tạo trong sách Sáng Thế để hiểu đúng vai trò Thiên Chúa trao cho con người. Trên thực tế, nhiều người chỉ nhấn mạnh mệnh lệnh “hãy thống trị mặt đất” mà quên rằng Thiên Chúa còn đặt con người trong vườn địa đàng để “canh tác và gìn giữ” (St 2). Theo Laudato Si’, trái đất là quà tặng của Thiên Chúa chứ không phải tài sản tuyệt đối của con người; vì thế con người không có quyền khai thác thiên nhiên theo ý mình (x. LS 67). Quyền sử dụng luôn gắn liền với trách nhiệm bảo tồn và gìn giữ cho các thế hệ tương lai. Từ đó, việc giáo dục đức tin cần giúp mỗi người ý thức mình là người quản lý thiên nhiên chứ không chỉ là người khai thác. Các nhóm cũng nhấn mạnh ba tương quan căn bản của con người: với Thiên Chúa, với tha nhân và với các thụ tạo khác.

2. Mô hình kỹ trị và ảo tưởng về nguồn tài nguyên vô hạn

Thực trạng khai thác đất và các nguồn tài nguyên tại địa phương phản ánh khá rõ điều Đức Thánh Cha gọi là “mô hình kỹ trị” (x. LS 105, 109). Nhu cầu tăng năng suất và lợi nhuận khiến người dân đầu tư nhiều vào máy móc, sử dụng ngày càng nhiều và thiếu hiểu biết phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời khai thác đất liên tục khiến đất không còn thời gian phục hồi. Nếu trước đây người dân còn có điều kiện luân canh hoặc để đất nghỉ thì hiện nay áp lực kinh tế khiến việc đó ngày càng khó thực hiện. Theo nhận định của quý thầy, điều đáng lo ngại không nằm ở bản thân khoa học hay máy móc nhưng ở chỗ công nghệ bị tách khỏi các tiêu chuẩn đạo đức. Khi lợi nhuận trở thành tiêu chuẩn duy nhất, kỹ thuật rất dễ trở thành công cụ bóc lột con người và thiên nhiên. Để hạn chế những tác động tiêu cực này, có thể khuyến khích mô hình canh tác hữu cơ, trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng, tạo điều kiện để đất được phục hồi và giáo dục ý thức sử dụng hóa chất đúng mức.

3. Hệ quả xã hội của mô hình kỹ trị

Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang kinh tế thị trường đem lại nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng kéo theo nhiều hệ lụy. Người dân chạy theo giá nông sản làm suy giảm các giá trị cộng đồng; tranh chấp đất đai và tiền bạc ngày càng nhiều; việc bán hoặc thu hồi đất khiến nhiều người phải đi làm thuê trên chính mảnh đất trước đây thuộc về mình; máy móc dần thay thế lao động thủ công khiến nhiều người mất việc. Theo nhận định của Laudato Si’, người nghèo dần mất phương tiện sản xuất trong nền văn hóa kỹ trị, kéo theo sự suy giảm phẩm giá lao động (x. LS 122, 134). Các nhóm cũng nhận thấy cuộc khủng hoảng hôm nay không chỉ là khủng hoảng kinh tế mà còn là sự suy thoái đạo đức, khi nhiều người bị cuốn vào vòng xoáy lợi ích mà quên đi trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, mô hình kỹ trị và tác động của nó đặt ra những vấn nạn nan giải, ở chiều kích vĩ mô, và trong nhiều trường hợp vượt quá khả năng trực tiếp của người mục tử và nếu không tự ý thức mà quá sa đà vào việc giải quyết các vấn đề sinh kế, tài chính, đất đai… chính người mục tử có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro.

4. Những khó khăn mà các cộng đồng bản địa đang phải đối mặt

Trong số rất nhiều khó khăn mà các cộng đồng bản địa đang phải đối mặt hiện nay liên quan đến vấn đề lao động và sinh kế, quý thầy chỉ ra một số khó khăn nổi bật như thực trạng thiếu kế hoạch sản xuất lâu dài, chưa biết khai thác hiệu quả nguồn đất sẵn có, dễ bán đất khi được giá, lạm dụng hóa chất do thiếu hiểu biết, tâm lý thực dụng ngày càng gia tăng và khuynh hướng lệ thuộc vào các nguồn hỗ trợ từ thiện nên chưa chú trọng việc lao động để tự nuôi sống bản thân.

5. Định hướng mục vụ

Từ những thực trạng trên, quý thầy đề nghị đưa giáo huấn của Laudato Si’ vào các bài giảng, các lớp giáo lý, các khóa tĩnh huấn và sinh hoạt hội đoàn; giáo dục ý thức rằng chăm sóc môi trường là một phần của đời sống đức tin; tái khám phá ý nghĩa thần học về ngày Sabát như thời gian nghỉ ngơi không chỉ dành cho con người mà còn cho cả đất đai và thiên nhiên; tăng cường giáo dục gia đình nhằm ngăn ngừa các tệ nạn xã hội và lệch lạc giá trị nơi giới trẻ; đồng thời khuyến khích đối thoại giữa người dân, chính quyền và doanh nghiệp trong các dự án liên quan đến đất đai và môi trường để bảo đảm công bằng và quyền lợi chính đáng của người dân.

H3. Một vùng trồng nông sản ở Gia Lai

III. Đúc kết của Cha Giám đốc Chủng Viện Thừa Sai Kon Tum

Trong phần đúc kết về sứ mạng Ad gentes và thần học sứ mạng, Cha Phêrô Nguyễn Văn Hiền gợi lại rằng sứ mạng loan báo Tin Mừng đã từng bị lãng quên trong một thời gian dài khi công cuộc truyền giáo chịu sự chi phối của hai triều đình Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Đến giữa thế kỷ XVII, nhờ sự khích lệ của Cha Đắc Lộ và sự cộng tác của các thừa sai Pháp, công cuộc truyền bá đức tin tại Viễn Đông mới được khởi động trở lại. Cha nhắc lại việc hình thành Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris, việc tuyển chọn các vị Đại diện Tông tòa đầu tiên và sai đi với bản Huấn Dụ Thánh Bộ Truyền Giáo Cho Các Vị Đại Diện Tông Tòa Sắp Sang Trung Hoa Và Việt Nam, Năm 1659, sự kiện Đức cha Lambert tổ chức Công đồng Phố Hiến năm 1670, Công nghị Hội An năm 1672 và sau đó là Công nghị Yuthia cùng bản Monita ad Missionarios nhằm cụ thể hóa Huấn thị 1659.

Tiến trình lịch sử ấy cho thấy nhu cầu cần thiết phải trở về với thần học sứ mạng. Nếu không, truyền giáo sẽ chỉ bị xem như một công việc được thêm vào các hoạt động mục vụ. Trong khi đó, chính sứ mạng Ad Gentes là nền tảng làm nên Giáo hội. Tuy nhiên, ngày nay không chỉ nói đến Ad Gentes mà còn phải sống tinh thần Inter Gentes, nghĩa là hiện diện giữa lòng dân chúng và mang lấy những thao thức của họ. Hiện nay nhiều cộng đoàn tu sĩ và nhiều linh mục Việt Nam vẫn chưa thực sự tham gia các công việc truyền giáo chuyên biệt. Trong khi đó, mệnh lệnh của Đấng Phục Sinh đòi hỏi người mục tử phải sống tối đa sứ mạng này chứ không chỉ dừng lại ở mức tối thiểu. Có lẽ đã đến lúc Giáo hội Việt Nam phải hướng đến chiều kích Ad Extra, mạnh dạn ra đi thay vì chỉ bằng lòng với những hoạt động sôi nổi, lắm khi hình thức, trong nội bộ.

Về những vấn đề do Laudato Si’ đặt ra, Cha Phêrô nhấn mạnh rằng Chương II và III giúp người đọc trở về với nền tảng thần học tạo dựng bằng cách đọc lại mặc khải Thánh Kinh để nhận ra đúng chỗ đứng của con người trong công trình sáng tạo. Cha nhắc đến những phê bình cho rằng trong một số giai đoạn lịch sử, việc hiểu sai mặc khải đã khiến người ta xem con người là chủ nhân tuyệt đối của trái đất, thậm chí áp đặt và hủy hoại cả môi trường văn hóa bản địa. Vì thế, cần trở về với mặc khải để ý thức rằng con người là hình ảnh của Thiên Chúa nên có phẩm giá bình đẳng, nhưng đồng thời con người cũng không phải là chủ nhân ông của vũ trụ.

Muốn như vậy, chính người mục tử phải ý thức và nhận thức lại vị trí của mình trước khi có thể giúp người khác. Khi đã có xác tín nội tâm, người mục tử mới có thể khơi dậy ý thức nơi các tín hữu qua các bài giảng và việc giáo dục đức tin. Những thay đổi bền vững không đến từ việc áp đặt những quy định luân lý từ bên ngoài nhưng phải bắt nguồn từ sự nhận thức và xác tín bên trong. Quả thực, nhiều vấn nạn mà các cộng đồng bản địa đang phải đối mặt đều có tính vĩ mô, nhiều khi vượt ngoài khả năng của người mục tử; tuy nhiên, không vì thế mà ta không thể làm được gì. Tiến trình gây ý thức bảo vệ môi trường sinh thái có thể bắt đầu bằng những thực hành ngay từ nhà thờ, nhà xứ rồi lan tỏa đến các gia đình. Nếu muốn loan báo một Tin Mừng có khả năng biến đổi cuộc sống thì chính các làng Công giáo phải đi đầu trong nếp sống gọn gàng, sạch sẽ và có trách nhiệm với công ích. Đồng thời, vấn đề phát triển bền vững cũng phải được các vị mục tử và các cộng đoàn Công giáo quan tâm đúng mức. Trong đó, không sự phát triển nào được xem là bền vững nếu nó không được xây dựng trên nền tảng Tin Mừng và ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong cộng đoàn.

Tiếp nối những đúc kết của Cha Phêrô, thầy đại diện lớp Phó tế trình bày những ý kiến của quý thầy về chương trình thường huấn, về địa điểm và người hướng dẫn liên quan đến kỳ tĩnh tâm dọn mình chịu chức linh mục trong một vài tháng tới đây. Trước đó, trong ngày khởi động, Cha Giám đốc cũng đã có những lời nhắc nhở quý thầy về việc ý thức sống các mối tương quan một cách lành mạnh tại môi trường mục vụ, cách riêng ý thức sống vâng phục. Đợt thường huấn lần II chính thức khép lại sau giờ cơm trưa tại Tòa Giám mục. Sau đó, quý thầy về lại giáo xứ và cộng đoàn. Xin Chúa Thánh Thần tiếp tục ban ơn thánh hóa và gìn giữ quý thầy trong sứ vụ của mình.

Một số hình ảnh thảo luận và đúc kết: 

 

[1] Xin tìm đọc hai văn kiện qua bản dịch của Giáo phận Kon Tum, tại: https://gpkontum.wordpress.com/2014/08/06/huan-du-thanh-bo-truyen-giao-nam-1659/ và https://gpkontum.wordpress.com/2014/08/07/huan-du-thanh-bo-truyen-giao-1664-tiep-theo/

BTT-CVTSKT