
Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
34a Bấy giờ, tại nhà ông Co-nê-li-ô ở Xê-da-rê, ông Phê-rô lên tiếng nói : 37 “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giu-đê, bắt đầu từ miền Ga-li-lê, sau phép rửa mà ông Gio-an rao giảng. 38 Quý vị biết rõ : Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. 39 Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giê-ru-sa-lem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. 40 Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, 41 không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. 42 Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. 43 Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội.”
Đ.Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
1Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Ít-ra-en hãy nói lên rằng :
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Đ.Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
16abTay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao.
Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống,
để loan báo những công việc Chúa làm.
Đ.Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
22Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.
Đó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.
Đ.Đây là ngày Chúa đã làm ra,
nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.
Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-lô-xê.
1 Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. 2 Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. 3 Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa. 4 Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.
Nào tín hữu ca mừng hoan hỷ
Đức Ki-tô chiên lễ Vượt Qua
Chiên Con máu đổ chan hoà
cứu bầy chiên lạc chúng ta về đoàn.
Đức Ki-tô hoàn toàn vô tội
đã đứng ra môi giới giao hoà
tội nhân cùng với Chúa Cha
từ đây sum họp một nhà Cha con.
Sinh mệnh cùng tử vong ác chiến
cuộc giao tranh khai diễn diệu kỳ
Chúa sự sống đã chết đi
giờ đây hằng sống trị vì oai linh.
Ma-ri-a hỡi, xin thuật lại
trên đường đi đã thấy gì cô ?
Thấy mồ trống Đức Ki-tô
phục sinh vinh hiển thiên thu khải hoàn.
Thấy thiên sứ chứng nhân hiển hiện
y phục và khăn liệm xếp rời
Giê-su, hy vọng của tôi
sẽ đón các ngài tại xứ Ga-lin.
Chúng tôi vững niềm tin sắt đá
Đức Ki-tô thật đã phục sinh.
Tâu Vua chiến thắng hiển vinh
đoàn con xin Chúa dủ tình xót thương.
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Đức Ki-tô đã chịu hiến tế,
làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta.
Nào ta hãy hỷ hoan trong Chúa
mà ăn mừng đại lễ. Ha-lê-lui-a.
Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”
3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

Đức Giê-su đã chết và đã sống lại! Đó là khẳng định của Ki-tô giáo từ hai mươi thế kỷ nay. Đó cũng là cốt lõi lời rao giảng của Giáo hội Ki-tô, ngay từ những ngày đầu.
Trước hết, chúng ta phải xác định: Chúa Giê-su đã chết trên cây thập giá. Bởi lẽ nếu Người không chết, thì không thể nói đến sống lại. Một người được coi là “sống lại” tức là người trước đó đã chết thực sự. Trong lịch sử, cũng đã có những lập luận cho rằng Đức Giê-su chỉ chết lâm sàng mà không chết thật, sau đó Người hồi sinh. Cả bốn tác giả Phúc âm đều khẳng định: Đức Giê-su đã chết khi còn bị treo trên thập giá, và đã được an táng trong mồ.
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Người cũng là Thiên Chúa quyền năng. Vì thế thân xác của Người không bị chi phối theo quy luật vật lý thông thường, và việc Người từ cõi chết sống lại cũng không phải là bất khả thi. Các tông đồ đều làm chứng, Chúa Giê-su đã sống lại. Phê-rô vốn là một người dân chài đơn sơ ít học, nhưng đã trở nên can đảm lạ thường. Trước Công nghị Do Thái, ông dõng dạc khẳng định: Đức Giê-su là Đấng Thiên sai mà Thiên Chúa của Tổ phụ chúng ta đã hứa. Người đã bị chính quý vị hành hạ, đóng đinh và giết chết. Thiên Chúa đã làm cho Người phục sinh, như lời Thánh Kinh, và chúng tôi xin làm chứng về điều ấy. Trước đó, ông cũng công khai giảng dạy trước cử tọa đông đảo khách hành hương về Giê-su-sa-lem nhân ngày lễ Ngũ Tuần. Bài giảng của ông đầy lửa và Thần Khí, nên đã có ba ngàn người xin theo Đạo.
Ngay từ thời sơ khai, Giáo hội Ki-tô đã suy tư về cái chết và sống lại của Chúa Giê-su với lăng kính phụng vụ. Cái chết của Chúa Giê-su đích thực là một hy tế, nhằm tôn vinh Thiên Chúa. Trên cây thập giá, Đức Giê-su dâng hiến chính thân mình làm của lễ, thay cho những của lễ cũ được quy định bởi Luật Môi-sen, như chiên, cừu, mỡ động vật, máu bò… Tác giả thư gửi người Híp-ri đã nêu rõ: “Máu các con bò, con dê không thể nào xóa được tội lỗi. Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây. Con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,4-7). Như thế, theo Giáo lý Ki-tô giáo, kể từ cái chết của Chúa Giê-su, nhân loại không cần các hy lễ xưa nữa. Hy lễ xưa chỉ là hình bóng, nay thực tại đã đến rồi thì hình bóng trở nên lỗi thời và phải nhường bước. Vì vậy, mà trong bài Ca Thánh Thể (Tantum ergo) chúng ta hát: “hy lễ xưa nhường cho hy lễ mới”; hay bản dịch khác: “Phụng vụ xưa phải được thay, này đây nghi lễ mới”.
Về điều này, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo viết: “Cái chết của Đức Ki-tô đồng thời vừa là hy lễ Vượt qua, mang lại ơn cứu chuộc tối hậu cho loài người, nhờ Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, vừa là hy lễ của Giao ước mới, cho con người lại được hiệp thông với Thiên Chúa, khi giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ máu đổ ra cho muôn người được tha tội” (số 613).
Thánh Au-gút-ti-nô đã diễn tả rất sinh động và sâu sắc: “Người (Đức Giê-su) không có gì ở nơi mình để chết vì chúng ta, nếu Người đã không nhận lấy xác phàm phải chết của chúng ta. Như thế, Đấng bất tử đã có thể chết. Như thế, Người đã muốn ban sự sống cho loài người phải chết: vì chưng với những gì chúng ta có xưa, chúng ta không thể sống; cũng như với những gì là của Người trước kia, Người không thể chết” (Bài đọc II, Kinh Sách thứ Hai Tuần Thánh). Thánh nhân muốn diễn tả: chết là bản tính của con người. Con Thiên Chúa vốn không bao giờ chết, nhưng vì yêu thương nhân loại, nên đã mang lấy xác thịt để có thể chết.
Khi suy tư về cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, Ki-tô hữu được mời gọi nhận ra cái chết và sống lại của Người nơi chính bản thân mình. Thánh Phao-lô quảng diễn: “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” ( 2 Cr 4,10). Thật là một điều kỳ lạ! Chấp nhận chết với Chúa, thì có sự sống của Người nơi bản thân. Khước từ chết với Người, sẽ không được chung phần vinh quang với Người. Thực ra, nơi con người của chúng ta, sự chết và sự sống luôn hòa quyện đan xen. Mỗi ngày chúng ta chết đi cho tội lỗi, ích kỷ, gian trá và những điều nhỏ nhen, thì niềm vui, sự an bình và lòng quảng đại lại được sinh ra và lớn lên trong chính tâm hồn và cuộc đời chúng ta. Lời mời gọi sống lại với Chúa luôn vang lên trong cuộc đời của Ki-tô hữu chúng ta. “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự”. Đó là những cố gắng nỗ lực của một cuộc đời đã sang trang, muốn chuyển hướng định mệnh tương lai, không còn hướng xuống đất, nhưng hướng lên trời.
Nếu cái chết của Chúa Giê-su là một hy tế, thì cuộc sống của Ki-tô hữu cũng là một lễ dâng. Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1). Vâng, chính những cố gắng hy sinh, những thiện chí và quảng đại, những trách nhiệm của chúng ta đối với tha nhân, với môi trường, với công ích… đều là những của lễ đẹp lòng Chúa, nếu chúng được thực hiện với tâm tình vâng phục của Đức Giê-su. Đó là cách thức thờ phượng mà Chúa muốn nơi chúng ta.
Trong cuộc sống hôm nay, cái chết vẫn luôn ám ảnh và hành hạ chúng ta. Đó không chỉ là cái chết thể lý, mà còn là cái chết tinh thần, cái chết thiêng liêng. Khi tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, và sự sống đời sau”, Ki-tô hữu vừa xác tín vào sự sống lại của ngày tận thể, vừa khẳng định: hôm nay, ở đây, trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể sống lại thực sự với Đức Ki-tô, nếu chúng ta cùng chết với Người.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh
AL-LÊ-LU-IA !
CHÚA ĐÃ PHỤC SINH
AL-LÊ-LU-IA là lời công bố Chúa Ki-tô sống lại, vang dội trong các giáo đường Đêm thánh phục sinh. Suốt cả mùa chay chúng ta suy niệm về tội lỗi, sự tha thứ, sự dữ, cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giê-su. Nay chúng ta hân hoan đi vào mầu nhiệm Đức Giê-su Ki-tô phục sinh. Chúng ta hân hoan suy tôn Đức Giê-su Ki-tô sống lại, đem đến cho nhân loại nguồn ơn cứu độ tức là sự sống vĩnh hằng.
Điều khó hiểu là khi tôn vinh Chúa sống lại chúng ta lại tuyên dương sự thất bại của Chúa Ki-tô. Thật thật lạ lùng! chúng ta làm một việc ngược đời, vì thường khi suy tôn, tuyên dương danh phận một người nào đó, người ta thường nêu cao công trạng, việc làm phi thường và thành tích vĩ đại của họ, đồng thời giảm thiểu tối đa những thất bại của vị anh hùng hào kiệt. Đàng nầy thì ngược lại, khi suy tôn Đức Giê-su Ki-tô phục sinh chúng ta toàn nói chuyện thất bại đắng cay, nào là âm mưu sát hại Thầy, Giu-đa bán đứng Thầy, Phê-rô chối phắt Thầy, môn đệ bỏ Thầy đào thoát, nhất là cái chết nhục nhã và cô đơn của Thầy trên thập giá… Xem ra như chúng ta suy tôn đau khổ và sự dữ. Không phải như thế ! Chúng ta suy tôn tình yêu của Thiên Chúa.
Chúng ta tôn vinh tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu điên rồ đến khó hiểu vượt tầm trí khôn, một tình yêu đi trên con đường đau khổ, một tình yêu mặc lấy gương mặt của thập giá, một tình yêu đồng nhất trong diễn tả đau khổ. Chúng ta suy tôn Đấng phục sinh bước đi trên con đường tử nạn chỉ vì yêu. Thập giá và tình yêu đi chung cùng một con đường, cho nên khi suy tôn tình yêu của Đức Chúa chúng ta luôn nhắc đến việc đau khổ Người đã kinh qua vì yêu thương chúng ta.
Ánh sáng phục sinh phơi trần tất cả những thất bại và bóng đen tội lỗi, có nguy cơ làm người mới tin đạo chao đảo ngã lòng. Chân lý đức tin không lùi bước trước sự kiện lịch sử, Tin mừng cũng không chơi trò gian lận trí thức cắt bỏ những khúc phim ít hoành tráng và buồn thảm, những hành vi đáng hổ thẹn của một số tông đồ thượng đẳng trong cơn khủng hoảng mất Thầy. Tất cả như đặt chúng ta vào một sự lựa chọn. Tin vào Chúa phục sinh trở nên một thách đố đối với não trạng khoa học kỹ thuật, vì thật sự đã có ai nhìn thấy Đức Giêsu đội mồ bước ra, không ai cả, ngay đến lính canh và các môn đệ.
“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ”. Tức là sự việc sống lại đã xảy ra rồi, xảy ra trước khi các môn đệ phát hiện sự kiện. Sau nầy hai ông Phê-rô và Gio-an đi vào trong mộ trống vắng, chỉ thấy những băng vải, khăn che đầu cuộn lại để riêng một nơi. Tuyệt nhiên không ai chứng kiến việc Đức Giê-su sống lại! Chỉ có Gio-an thấy hiện trường và đã tin (x. Bài Tin Mừng Ga 20,1-9). Ông thấy hiện trường cụ thể và ông tin vào Đấng phục sinh vô hình. Đức tin đòi vượt qua vật chất. Đức tin đòi vượt qua bóng tối, vượt qua sự bấp bênh giữa tranh tối tranh sáng, điều cần thiết là lên đường đi tìm Đấng phục sinh. Điều an ủi là Đấng phục sinh cũng đã hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la và ra lệnh cho bà ra đi loan báo Tin Mừng phục sinh cho các tông đồ; bà được mệnh danh là Tông đồ của các tông đồ.
Giữa cái cụ thể và Đấng vô hình có một mắt xích bị cắt đứt, nghĩa là thiếu lô-gích khoa học để kết luận Đức Giê-su đã phục sinh. Đức tin đòi lý trí chấp nhận sự thiếu minh bạch, đức tin đòi vượt qua bóng mờ tức vượt qua sự khó hiểu. Sự hy sinh lý trí này làm nên công trạng của người tin. Đức Giê-su sống lại vẫn còn là một bí mật lớn cho đến hôm nay. Tin mừng Đức Giê-su sống lại như một thách đố lớn, đòi chấp nhận vô điều kiện, đòi hy sinh một phần lý trí suy luận. Đức tin như sự nhảy vọt từ vật chất đến siêu hình.
Sự kiện sống lại đã được chuẩn bị qua các biến cố lịch sử: từ tạo dựng vũ trụ, con người sa ngã, lời hứa ban đấng cứu độ, việc kêu gọi Á-pra-ham đi về đất hứa, nhất là biến cố Xuất hành của dân Do thái thoát vòng nô lệ, vượt qua biển Đỏ tiến vào Đất hứa. Tất cả là hình bóng, chuẩn bị cho người Kitô hữu đón nhận ánh sáng của Đêm phục sinh, đêm mà Đức Giê-su vượt qua cái chết đến sự sống, vượt qua thế gia nầy mà về cùng Cha.
Suy niệm việc làm trong quá khứ xảy ra nơi một dân tộc để nghiệm thấy ơn cứu độ phổ quát đối với mọi người và đối với cá nhân, để từ đó đi vào niềm tin Chúa sống lại. Cựu ước chuẩn bị cho Tân ước như hình bóng chuẩn bị cho hiện thực. Tin chính là chấp nhận, hiệp thông, chia sẻ biến cố Vượt qua của Đức Giê-su. “Chúng tôi xin làm chứng về mọi việc Người đã làm …. Họ đã treo Người lên cây gỗ và giết đi … Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (x. Bài Đọc 1. Cv 10, 34a.37-43).
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, chúng con tin thật, duy nhất chỉ có Chúa mang lại cho trần gian sự sống lại, và không một ai có thể cứu chuộc chúng con. Con xin cảm tạ tri ân Chúa. A-men. Al-lê-lu-ia.
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku
______________________
Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
Chia sẻ tâm tình Mầu Nhiệm “CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI” (Suy niệm Ga 20:1-9)
Chắc hẳn quý vị đã từng nói hoặc nghe người khác nói “Chúa đã sống lại”, nhưng có bao giờ bạn ngẫm nghĩ câu này có ý nghĩa và giá trị như thế nào không?
Khi nói “Chúa đã sống lại” tức là “Chúa đã từng chết đi”. Như thế, “Chúa đã sống lại” là một quá trình biến đổi từ sự chết trở thành sự sống. Sự chết và sự sống lại của Chúa diễn ra cách đây gần 2000 năm. Thế nhưng, hằng năm Giáo Hội luôn long trọng tưởng nhớ biến cố trọng đại này. Tại sao thế?
Bởi lẽ Giáo Hội muốn giáo dục con cái mình rằng mỗi con người cần “chết đi” con người cũ, để khoác lên mình một “sự sống mới” của Đức Ki-tô Phục Sinh. Và đây là một quá trình dài, cần thời gian, cần sự nỗ lực của bản thân và trên hết là cần có ơn sủng của Đấng Phục Sinh. Hãy chiêm ngắm quá trình biến đổi từ sâu thành bướm để cảm nhận sự lột xác cần thời gian và là một quá trình tiệm tiến: đầu tiên những con sâu (do bướm đẻ trứng, trứng hình thành sâu nhỏ xíu), ăn nhiều và lột xác khoảng 4-5 lần, khi đủ lớn sẽ tạo kén, bên trong kén là nhộng, và nhộng được bao bọc bởi lớp kén (tựa như thai nhi trong bọc nước ối) để hình thành cánh – chân – hoàn thiện cơ thể của bướm, sau khoảng 1-2 tuần bướm phá kén chui ra ngoài để tung tăng bay nhảy tứ phương (dù quá trình hình thành bướm khá dài nhưng bướm cũng chỉ sống khoảng 1-2 tuần là lại trở về với cát bụi).
Bản thân chúng ta ít nhiều cũng kinh nghiệm “Chúa đã sống lại” khi chúng ta phạm tội và được Chúa tha tội qua Bí tích Hòa Giải, khi chúng ta đau bệnh “thập tử nhất sinh” nhưng lại được chữa lành, khi chúng ta thất bại trong kinh doanh nhưng đã vượt qua để tồn tại giữa cuộc sống đầy cạnh tranh, khi gia đình đổ vỡ nhưng nhờ ơn Chúa qua Bí tích Hôn Nhân cũng như nhờ biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa nên gia đình lại hòa thuận và yêu thương nhau, khi chúng ta “bỏ Chúa” hoặc không còn tin Chúa nữa nhưng nay biết quay về với Người, khi chúng ta đặt tiền bạc hoặc vật chất hoặc hưởng thụ… lên trên Chúa nhưng nay biết đặt Chúa lên trên hết và bám chặt lấy Chúa làm nguồn sống và niềm vui của mình, v.v..
Làm thế nào để tôi có thể hân hoan vui sướng bộc phát thành lời từ tiếng nói vang vọng thẳm sâu trong tâm hồn rằng “Chúa đã sống lại”?!
Chúa đã sống lại trong tôi, bởi vì tâm hồn tôi đã chết, đã khô héo từ rất lâu rồi. Chúa đã sống lại trong tôi, bởi vì từ lâu tâm hồn tôi đã thiếu vắng Chúa và chẳng còn tin Chúa nữa. Chúa đã sống lại trong tôi, bởi vì Chúa đã chết trong tâm hồn tôi từ rất lâu rồi. Chúa đã sống lại trong tôi, bởi vì Người đã chiếu soi ánh sáng xua tan “bóng tối” trong tâm hồn tôi, bóng tối của sự thất vọng, ngờ vực, chết chóc… như hình ảnh Maria Mác-đa-la ra mộ, nơi đã an táng Thầy Giê-su, từ sáng sớm khi “trời còn tối” (Ga 20:1). Tuy là sáng, nhưng “trời còn tối”. “Tối” của cung lòng vì sự ra đi của người mình thương mến và tin tưởng; “Sáng” của thời gian, thời gian ra mộ là ban sáng khi sương còn đọng lại trên những nhành lá như một biểu tượng diễn tả niềm khát khao đợi chờ vào một người mình tin tưởng sẽ không bỏ mình ra đi mãi mãi và ước mong niềm tin ấy là một niềm tin chân xác và thiết thực. V.v..
Nếu tôi nhận ra điều này, rằng Chúa đã chết trong tim tôi, nhưng đến giây phút này Chúa vẫn chưa sống lại trong tôi, thì tôi phải làm gì?
Để Chúa có thể sống lại trong tôi, tôi cần kiên nhẫn với chính mình như Chúa đã kiên nhẫn với tôi; tôi cần chạy đến tâm sự với Người và liên lỉ cầu khẩn Người ban ơn trợ giúp; tôi không nên dựa vào sức riêng của mình để đạt được một sự sống mới, ngược lại tôi cần tin vào quyền năng của Chúa, vì chỉ có Chúa mới có khả năng biến đổi sự chết thành sự sống như Người đã từng thực hiện điều ấy với anh La-da-rô và con trai bà góa thành Nain, thậm chí cả thánh Phêrô. Ma quỷ thường dụ dỗ con người rằng tự mình cũng có thể được giải thoát, nên cứ dựa vào sức riêng mình. Sức riêng thì giới hạn. Nếu dùng sức riêng để cộng tác với ơn Chúa thì bản thân sẽ được biến đổi tốt hơn. Còn chỉ bám vào sức riêng mình thì đến một lúc sẽ kiệt quệ, sẽ chán nản, sẽ mặc cảm tội lỗi, sẽ không dám gặp Chúa hoặc những người thân hữu của mình. Đó là cái bẫy của sự dữ (có lẽ Giuđa Ítcariốt bị rơi vào cái bẫy này). Chúng không bao giờ muốn con người được “lột xác” để được tự do đi khắp nơi phụng sự Chúa và loan báo Tin Mừng.
Hy vọng rằng mỗi người chúng ta đều có thể vui mừng thốt lên thành lời “Chúa đã sống lại” trong tâm hồn mình và nhận ra ý nghĩa sâu xa của việc cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua hằng năm.
Đại Lễ Phục Sinh được cử hành hằng năm để tưởng niệm biến cố làm nên Đức tin Công giáo qua sự chết và sống lại của Ngôi Lời Nhập Thể, nhưng là dịp để chúng ta, những người tin Chúa, ăn mừng cho chính mình vì đã được Chúa phục sinh con người mình, được trở nên con cái Thiên Chúa và được thừa hưởng tất cả những gì Chúa Giêsu Kitô đã để lại cho chúng ta.
Quý vị biết không, trong đêm Vọng Phục Sinh này, có lẽ các anh chị em dự tòng là những người kinh nghiệm sâu xa nhất Mầu Nhiệm “CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI”. Xin chúc mừng các anh chị em Tân Tòng và hãy thêm lời cầu nguyện cho chúng tôi nữa nhé!
(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)
WGPKT(04/04/2026) KONTUM
