
Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
19 Đức Chúa phán những lời này với ông Sép-na, tể tướng triều đình :
“Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ,
Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị.
20Ngày ấy, Ta sẽ gọi tôi tớ Ta
là En-gia-kim, con của Khin-ki-gia-hu.
21Áo thụng của ngươi, Ta sẽ lấy mặc cho nó,
cân đai của ngươi, Ta sẽ đem thắt cho nó,
quyền bính của ngươi, Ta sẽ trao vào tay nó,
nó sẽ là cha đối với cư dân Giê-ru-sa-lem và với nhà Giu-đa.
22Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó.
Nó mở ra thì không ai đóng được,
nó đóng lại thì không ai mở được.
23Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột,
nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.”
Đ.Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.
1Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ,
Ngài đã nghe lời miệng con xin.
Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa,2ahướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ.
Đ.Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.
2bcXin cảm tạ danh Chúa,
vì Ngài vẫn thành tín yêu thương,
đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài
trên tất cả mọi sự.3Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại,
đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn.
Đ.Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.
6Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn ;
đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết.8bcLạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.
Đ.Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.
Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
33 Thưa anh em, sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào ! Quyết định của Người, ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được ! 34 Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa ? Ai đã làm cố vấn cho Người ? 35 Ai đã cho Người trước, để Người phải trả lại sau ? 36 Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời ! A-men.
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Ha-lê-lui-a.
Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

Trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy (còn gọi là Bí tích Rửa tội), mỗi chúng ta đều phải tuyên thệ từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những hành động mờ ám xấu xa. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin, trọn vẹn đầy đủ mọi tín điều được nêu trong kinh Tin kính. Chính trong đức tin này mà chúng ta được tái sinh làm con Thiên Chúa. Và rồi, đức tin ấy luôn được tuyên xưng, không chỉ qua ngôn từ và môi miệng, mà qua chính cuộc đời của chúng ta, ở mọi nơi, mọi lúc. Tiếc rằng nhiều Ki-tô hữu không ý thức hoặc quên điều cốt lõi ấy.
Khoa Giáo lý phân biệt giữa đức tin được tuyên xưng và đức tin được sống. Nói dễ hiểu hơn, là giữa việc tuyên xưng đức tin và thực hành đức tin. Hai lãnh vực này bổ túc cho nhau. Đức tin cần được tuyên xưng bằng môi miệng; đức tin cũng cần được thể hiện trong cuộc sống. Đó mới là đức tin trọn vẹn. Đức Giê-su nói: “Không phải hễ ai nói với Ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ đều sẽ vào Nước Trời đâu, nhưng chỉ những người làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.” (Mt 7,21). Sau này thánh Gia-cô-bê viết: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (Gc 2,17).
Chúng ta có thể dễ dàng tuyên xưng đức tin khi vui vẻ khỏe mạnh và làm ăn phát đạt và khi an bình hạnh phúc. Tuy vậy, tuyên xưng đức tin vào thời điểm bệnh tật, làm ăn thua lỗ không phải là điều dễ. Hơn nữa, trong thực tế, luôn có những khác biệt, thậm chí là mâu thuẫn, giữa tâm tình trong nhà thờ và thái độ ngoài cuộc sống của cùng một con người. Khi đó, đức tin có nguy cơ trở thành một công thức suông bề ngoài.
“Người ta bảo Thầy là ai? Các anh bảo Thầy là ai?”. Hôm nay Chúa Giê-su vẫn đang hỏi chúng ta những câu hỏi ấy. Câu trả lời của các môn đệ ban đầu là dựa vào những lời đồn đại của dân chúng: “Người thì bảo … người khác lại bảo…”. Đức tin vào Chúa Giê-su không phụ thuộc vào lời đồn đại, nhưng phải được học hỏi và phải là niềm xác tín nơi người Ki-tô hữu.
“Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Thánh Phê-rô đã tuyên xưng như thế. Đức tin là một ân ban đến từ Thiên Chúa chứ không phải là một nhân đức đến từ con người. Vì vậy, Chúa Giê-su khẳng định: chính Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mạc khải cho anh điều ấy. Sau này, tông đồ Phao-lô viết: “không ai có thể nói “Đức Giê-su là Chúa” mà lại không do Thánh Thần” (1 Cr 12,3).
Tin vào Thiên Chúa, là tin vào Đấng quyền năng vô biên, nhưng Đấng ấy lại huyền nhiệm siêu hình. Lý trí con người giới hạn không thể hiểu hết về Thiên Chúa, mặc dù đã được Thiên Chúa mạc khải và ban ơn soi sáng. Chính vì vậy, đức tin của người tín hữu cần đi đôi với con tim yêu mến và tâm tình phó thác. Điều đó có nghĩa, chúng ta luôn tin rằng Chúa hiện diện trong đời sống của chúng ta và Ngài luôn làm những điều tốt đẹp cho chúng ta. Bởi lẽ bản tính của Thiên Chúa là nhân hậu và yêu thương. Thánh Phao-lô nói với tín hữu Rô-ma: không ai dò thấu được ý định và chương trình của Thiên Chúa, vì Ngài là Chủ của muôn loài. Như thế, tin vào Thiên Chúa quyền năng sẽ dẫn chúng ta tới sự tín thác hoàn toàn vào tình yêu của Ngài, và chúng ta dành cho Ngài con tim yêu mến trọn vẹn chân thành.
Ngôn sứ I-sa-i-a (Bài đọc I) ghi lại lời Thiên Chúa lên án một người bất trung, đó là ông Sép-na, một vị tướng triều đình thời vua Khít-kia (Hezekiah). Ông là một nhân vật lịch sử có thật, giữ chức vụ tể tướng, có vai trò rất quan trọng trong hoàng cung. Tuy vậy, ông kiêu ngạo và lạm dụng quyền lực, nên bị Thiên Chúa truất phế. Qua lời tuyên bố truất phế quan tể tướng Sép-na, Chúa lại tiên báo một vị lãnh đạo trong tương lai, đó là Ê-li-gia-kim, người thay thế Sép-na. Ông này được mô tả như người mang “chìa khóa nhà Đa-vít”, biểu tượng cho quyền bính chính đáng và trung tín. Thông điệp của ngôn sứ I-sai-a là: Thiên Chúa luôn ban thưởng cho những ai trung tín và cậy trông nơi Người.
“Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Thánh Phê-rô đã được Chúa Cha mạc khải để có thể tuyên xưng với niềm xác tín như vậy. Ước chi mỗi tín hữu chúng ta cũng luôn tuyên xưng chân lý ấy, không chỉ bằng môi miệng, nhưng bằng chính cuộc đời.
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh
CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI
Lập tể tướng triều đình thiên quốc. Phỏng theo nghi thức thiết lập tể tướng triều đình, ngôn sứ I-sai-a loan báo tin vui cho thành Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa, sẽ có một người Tôi tớ mới đầy quyền bính, mình mặc áo thụng, lưng thắt cân đai và được trao cho chìa khóa nhà Đa-vít, để người Tôi tớ thi hành quyền Đóng và Mở cửa Nước Trời theo ý mình muốn: “Chìa khóa nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được nó đóng lại thì không ai mở được … Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó” (x. Bài Đọc 1. Is 22, 19-23). Vậy quyền chìa khóa nầy là gì? Ai trao cho ai ? Để làm gì ?
Lời ngôn sứ I-sai-a được loan báo sáu trăm năm trước khi Đức Giê-su thực hiện lược đồ nầy của nhà tiên tri để khẳng định căn cước của mình là Đấng Mê-si-a, và đàng khác Đức Giê-su thiết lập Hội Thánh và đặt thánh Phê-rô làm đầu Hội Thánh. Người trao cho ông Phê-rô quyền chìa khóa, tức quyền đóng và mở cửa Nước Trời, quyền quản lý và phân phát các bí tích Đức Giê-su đã thiết lập. Đức Giê-su làm ứng nghiệm lời tiên tri I-sai-a.
Hội Thánh là người gìn giữ kho tàng đức tin và ban phát ân sủng bi tích cho các tín hữu. Các bí tích là hệ thống vật sự nhằm thánh hóa các linh hồn, còn hệ thống nhân sự tức hàng linh mục của Hội thánh giúp quản lý và phân phát các bí tích đó. Thiết lập Hội Thánh là một việc làm đại sự rất quan trọng, trước đó Đức Giê-su đã cẩn thận thăm dò dư luận và thăm dò lòng tin nơi các môn đệ.
Trình thuật trao quyền chìa khóa xảy ra tại thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Con người là ai?” Chưa thỏa mãn lắm về câu trả lời, Đức Giê-su hỏi thêm: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” Lời tuyên xưng đức tin của Phê-rô làm yên lòng Đức Giê-su và sau đó Người thiết lập Hội Thánh và trao cho Phê-rô Quyền chìa khóa.
Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giê-su trả lời: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy trao cho anh chìa khóa Nước Trời” (x. Bài Tin Mừng. Mt 16, 13-20). Lời nói tuy đơn sơ, nhưng như đinh đóng cột, kiên vững hai ngàn năm. Hội Thánh được xây dựng trên lời hứa với thánh Phê-rô, đệ nhất giám mục thành Rô-ma, và thánh Phê-rô nắm giữ quyền chìa khóa, quyền cầm buộc và tháo cởi. Lời nầy là căn bản pháp lý thành lập Hội Thánh (x. Mt 16,18) và thiết lập quyền bính trong Hội Thánh, được hiểu là quyền thánh hiến, quyền giảng dạy và quyền quản trị Hội Thánh.
Hội Thánh của Đức Giê-su không cậy dựa vào sức mạnh của xác thịt và máu huyết nhân loại, nghĩa là không dựa vào phương tiện trần thế, quyền bính thế gian, tiền bạc và quân đội, nhưng dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng linh hoạt Hội Thánh. Dù vậy mặc lòng Hội Thánh Chúa được thế giới nhìn nhận có uy quyền bao trùm trên quốc tế, có một hệ thống tổ chức xã hội nhân sự chặt chẽ, tiêu biểu là quốc gia Va-ti-can nằm gọn trong nước Ý, nơi đây Đức Thánh Cha và giáo triều Rô-ma điều hành Hội Thánh công giáo thế giới với đầy đủ quyền hành cầm buộc và tháo cởi.
Như thế Hội Thánh là một thực tại mầu nhiệm hiện diện nơi trần thế, Hội Thánh được gọi là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô mà mỗi Ki-tô hữu đều là chi thể. Hội Thánh là một mầu nhiệm, vì thế cho nên có khía cạnh chúng ta thấy Hội Thánh như một cơ chế xã hội trần thế, có tổ chức nhân sự, có phẩm trật ban bệ và luật lệ tôn giáo; tuy nhiên có khía cạnh khác chúng ta phải dùng đến đức tin để nhìn nhận Hội Thánh là phương tiện cứu thế của Đức Giê-su dùng để chuyển tải ơn cứu độ đến cho mọi người.
Hội Thánh được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và linh hoạt, mà nếu không có Chúa Thánh Thần thì Hội Thánh chỉ là xác chết vô hồn. Mặt tâm linh siêu nhiên nầy mới là điều chính yếu và quan trọng của Hội Thánh, chứ không phải là cơ cấu tổ chức quy mô rầm rộ hoàng nhoáng bên ngoài nơi trần thế. Hội Thánh do Đức Giê-su thiết lập và mãi mãi Đức Giê-su là đầu của Hội Thánh, Người là thủ lãnh dẫn đưa đàn chiên đến với Chúa Cha. Tất cả mọi Ki-tô hữu làm nên thân mình mầu nhiệm của Chúa Ki-tô, và mỗi Ki-tô hữu là chi thể của thân mình mầu nhiệm đó, cho nên Đầu đi đến đâu thì Thân thể đi đến đó, nghĩa là ở đâu có Hội Thánh thì ở đó có Chúa Ki-tô và ngược lại.
Lạy Chúa Giê-su, xin cho con biết yêu mến, bảo vệ, tùng phục và xây dựng Hội Thánh vì Hội Thánh là Mẹ sinh ra các Ki-tô hữu, nuôi dưỡng, dạy dỗ, bảo vệ và dẫn đưa về với Chúa Cha . A-men
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku
______________________
Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? ” (Mt 16:15)
Quý ông bà và anh chị em thân mến,
Đoạn Lời Chúa trong Tin Mừng Mátthêu hôm nay tường thuật lại cho chúng ta nghe lời tuyên tín của thánh Phêrô, đại diện cho các tông đồ, về căn tính của Thầy Giêsu. Đoạn văn này được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại như một biểu chứng của tầm quan trọng trong việc nhận biết Đấng Thiên Sai. Và câu hỏi của Thầy Giêsu dành cho các tông đồ cũng là câu hỏi Người dành cho mỗi người chúng ta: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16:15)
Câu hỏi về căn tính của Thầy Giêsu dành cho hai đối tượng: đối tượng khách quan là những người khác – “Người ta nói Con Người là ai?” – và đối tượng chủ quan là bản thân của từng môn đệ, cũng là kinh nghiệm thiết thân của chúng ta về Đức Giêsu – “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? “. Loại câu hỏi gây thách đố chúng ta nhất, chính là câu hỏi trực tiếp nhắm đến kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta về Chúa. Tại sao Chúa Giêsu lại hỏi các môn đệ rằng “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Phải chăng vì “vô tri bất mộ”, nghĩa là không biết Chúa thì làm sao yêu Chúa được!? Không yêu Chúa thì làm sao theo Chúa được!? Không theo Chúa thì làm sao chia sẻ đau khổ và vinh quang với Chúa được!?
Nếu đối chiếu cả ba bản văn của Tin Mừng Nhất Lãm, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng Tin Mừng Mátthêu thuật lại chi tiết nhất từ câu trả lời của các tông đồ cho đến câu trả lời của riêng thánh Phêrô. Trong Tin Mừng Mátthêu, câu trả lời chung về căn tính Đức Giêsu được thêm vào danh tính của ngôn sứ Giêrêmia, bởi lẽ Giêrêmia được mệnh danh là một “con người đau khổ”, vì cuộc đời và sứ mạng ông toàn gặp đau khổ, thù ghét, có khi bị đe dọa cả tính mạng, đôi lúc kèm theo sự tuyệt vọng, tuy thế ông vẫn một niềm cậy trông Thiên Chúa, vâng theo ý Chúa, đón nhận khổ đau và loan báo một giao ước mới sắp được thiết lập giữa Thiên Chúa và con người. Đây cũng là hình ảnh về Đấng Mêxia được chính Đức Giêsu thừa nhận và tiên báo: “Con Người sẽ chịu đau khổ nhiều…” (x. Mt 16:21). Còn câu trả lời riêng của thánh Phêrô thì khác chút ít so với hai Tin Mừng kia: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16:16). Thánh Máccô và Luca thì thuật lại câu trả lời của thánh Phêrô rằng “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8:29) và “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9:20). Như thế, câu trả lời của tông đồ Phêrô trong Tin Mừng Mátthêu nêu rõ hơn căn tính của Đấng Mêxia, nghĩa là Đức Giêếu vừa có bản tính Thiên Chúa vừa mang bản tính con người. Lời tuyên tín của tông đồ Phêrô như minh chứng rằng ngài có một kinh nghiệm sâu đậm về Thầy Giêsu sau một thời gian dài đi theo Người. Tuy thế, tông đồ Phêrô vẫn mang trên mình một thân xác giới hạn, mọn hèn, nên ngài đã khó chấp nhận một Đấng Kitô phải chịu nhiều đau khổ. Thực thế, đôi khi kinh nghiệm về Chúa chưa hẳn đã là kinh nghiệm của Chúa, tức là sẵn sàng đón nhận một thân xác chịu nhiều đau khổ, bị khinh thị và bị thù ghét, có khi bị đe dọa tính mạng, và có một sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng như chính Chúa Giêsu.
Để minh họa rõ hơn về kinh nghiệm của chúng ta với Chúa, tôi xin phép kể câu chuyện sau. Nhưng trước khi kể câu chuyện này, tôi xin kể về câu hỏi tôi được một tân tòng thắc mắc: “Thưa cha, Chúa Giêsu thì mình dễ hình dung khuôn mặt Ngài vì Ngài đến thế gian và ở giữa nhân loại này; nhưng khuôn mặt của Chúa Cha ra sao vì không ai thấy mặt Người trừ khi chúng ta lìa cõi thế?” – Tôi trả lời rằng khuôn mặt Chúa Cha giống khuôn mặt Chúa Con, vì Chúa Giêsu nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9), và “Thầy và Chúa Cha là một” (Ga 10:30). Chúa Con và Chúa Cha chỉ khác nhau tên gọi “Cha” và “Con”, ngoài ra các Ngài đều giống nhau. Như thế, nếu chúng ta kinh nghiệm Chúa Giêsu thì chúng ta cũng kinh nghiệm được Chúa Cha.
Chuyện kể rằng có một thiếu nữ đi làm về thì trời mưa, đường kẹt xe dữ dội; và “xui xẻo” hơn nữa, đó là cô nàng bị lủng lốp xe. Thế là con đường từ cơ quan về nhà trở nên dài thăm thẳm. Tối đến, trước khi ngủ, cô nàng hồi tâm một ngày sống và than phiền với Chúa rằng “Chúa ơi, sao Ngài không thương con, không bao bọc chở che con, để con phải chịu một ngày sống với nhiều điều không hay xảy ra! Sáng nay con đã cầu nguyện và dâng một ngày sống cho Chúa rồi mà! Con quên đem áo mưa nên mắc mưa và ướt nhẹp! Con nấu cơm và ăn cơm muộn nên không còn giờ nghỉ ngơi giải trí…!” Bấy giờ cô nàng nghe Chúa phân trần rằng “Con ơi, con có biết rằng trên đường con về nhà, khu vực con ở bị cúp điện! Khi con về tới nhà, lúc đó điện có trở lại. Nếu con về sớm, con sẽ không có nước ấm để tắm, không có điện để sấy tóc con, con cũng không thể nấu cơm! Ta sắp xếp mọi thứ để khi con về nhà, con có thể hoàn tất mọi thứ trong sự tiện lợi.”
Rõ ràng đôi khi chúng ta tin Chúa và yêu Chúa nhưng có lẽ chỉ trên môi miệng. Bởi lẽ khi khổ đau ập đến, khi những điều không mong muốn xảy ra, liệu chúng ta có thấy Chúa hiện diện và an bài mọi sự không? Chúa vẫn có đó, vẫn ở đó… nhưng chúng ta có nhận ra Ngài? Kinh nghiệm Chúa là một ơn lớn. Yêu Chúa và tin rằng Chúa như người cha hằng bao bọc chở che và sắp xếp mọi sự tốt nhất cho bản thân mình cũng là một ơn và là lời mời gọi mỗi người đạt tới.
Qua việc chiêm ngắm đoạn Lời Chúa hôm nay, chúng ta được đánh động điều gì nhất? Chúng ta có cảm thấy bị thách đố khi chưa thể trả lời câu hỏi về căn tính của Thầy Giêsu bằng một kinh nghiệm thiết thân và sống động về Người và của Người? Chúng ta phải làm gì để có thể trả lời câu hỏi ấy cách chân xác nhất?
Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!
Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ, giáo xứ Hoa Lư, Pleiku
