Chúa Nhật Phục Sinh – Man-na Cho Người Lữ Hành

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 10,34a.37-43

Đáp ca : Tv 117,1-2.16ab và 17.22-23 (Đ. c.24)

Bài đọc 2 : Cl 3,1-4

Hoặc : 1 Cr 5,6b-8

Ca tiếp liên

Tin Mừng : Ga 20,1-9

Hoặc : Thánh lễ Ban Chiều có thể đọc : Lc 24,13-35

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài chia sẻ 1

Bài đọc 1 : Cv 10,34-43

Đáp ca : Tv 117

Bài đọc 2 : 1 Cr 5,6b-8

Bài Tin Mừng : Ga 20,1-9

2. Bài chia sẻ 2

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Hai ông Phê-rô và Gio-an trước ngôi mộ mở, trống rỗng : những nẻo đường của đức tin phục sinh

2. Mộ mở toang

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 10,34a.37-43

Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

34a Bấy giờ, tại nhà ông Co-nê-li-ô ở Xê-da-rê, ông Phê-rô lên tiếng nói : 37 “Quý vị biết rõ biến cố đã xảy ra trong toàn cõi Giu-đê, bắt đầu từ miền Ga-li-lê, sau phép rửa mà ông Gio-an rao giảng. 38 Quý vị biết rõ : Đức Giê-su xuất thân từ Na-da-rét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người. 39 Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giê-ru-sa-lem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. 40 Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, 41 không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. 42 Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. 43 Tất cả các ngôn sứ đều làm chứng về Người và nói rằng phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 117,1-2.16ab và 17.22-23 (Đ. c.24)

Đ. Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

1 Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

2 Ít-ra-en hãy nói lên rằng :

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Đ.

16ab Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao.

17 Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống,

để loan báo những công việc Chúa làm. Đ.

22 Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.

23 Đó chính là công trình của Chúa,

công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đ.

 

Bài đọc 2 : Cl 3,1-4

Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-lô-xê.

1 Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. 2 Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. 3 Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Ki-tô nơi Thiên Chúa. 4 Khi Đức Ki-tô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang.

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : 1 Cr 5,6b-8

Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

6b Thưa anh em, anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy lên sao ? 7 Anh em hãy loại bỏ men cũ để trở thành bột mới, vì anh em là bánh không men. Quả vậy, Đức Ki-tô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta. 8 Vì thế, chúng ta đừng lấy men cũ, là lòng gian tà và độc ác, nhưng hãy lấy bánh không men, là lòng tinh tuyền và chân thật, mà ăn mừng đại lễ.

Đó là lời Chúa.

 

Ca tiếp liên

Nào tín hữu ca mừng hoan hỷ,

Đức Ki-tô chiên lễ Vượt Qua.

Chiên Con máu đổ chan hoà,

cứu bầy chiên lạc chúng ta về đoàn.

Đức Ki-tô hoàn toàn vô tội

đã đứng ra môi giới giao hoà

tội nhân cùng với Chúa Cha,

từ đây sum họp một nhà Cha con.

Sinh mệnh cùng tử vong ác chiến,

cuộc giao tranh khai diễn diệu kỳ.

Chúa sự sống đã chết đi,

giờ đây hằng sống trị vì oai linh.

Ma-ri-a hỡi, xin thuật lại,

trên đường đi đã thấy gì cô ?

Thấy mồ trống Đức Ki-tô

phục sinh vinh hiển thiên thu khải hoàn.

Thấy thiên sứ chứng nhân hiển hiện,

y phục và khăn liệm xếp rời.

Giê-su, hy vọng của tôi,

sẽ đón các ngài tại xứ Ga-lin.

Chúng tôi vững niềm tin sắt đá,

Đức Ki-tô thật đã phục sinh.

Tâu Vua chiến thắng hiển vinh,

đoàn con xin Chúa dủ tình xót thương.

 

Tung hô Tin Mừng : x. 1 Cr 5,7b-8a

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đức Ki-tô đã chịu hiến tế,

làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta.

Nào ta hãy hỷ hoan trong Chúa mà ăn mừng đại lễ. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Ga 20,1-9

Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Thánh lễ Ban Chiều có thể đọc : Lc 24,13-35

Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài chia sẻ 1

Bài đọc 1 : Cv 10,34-43

Dựa vào chương 10 sách Công vụ Tông Đồ để kể chuyện ông Phê-rô tới nhà viên sĩ quan Rô-ma tên Co-nê-li-ô, giảng tại nhà ông này và rửa tội cho cả nhà.

1. Giới thiệu ông Co-nê-li-ô.

2. Tại sao ông mời ông Phê-rô ?

3. Ông Phê-rô thấy gì trong thị kiến ?

4. Ông Phê-rô giảng tại nhà ông Co-nê-li-ô, sau đó là rửa tội cho cả nhà ông.

* Việc ông Co-nê-li-ô và cả gia đình trở lại sau khi nghe ông Phê-rô giảng, là một biến cố quan trọng đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động tông đồ của ông Phê-rô và các Tông Đồ khác. Tin Mừng được loan báo cho dân ngoại. Họ cũng được kêu gọi sống làm con cái Thiên Chúa như người Do-thái, được hưởng ơn cứu độ trực tiếp không cần qua cửa ải Do-thái giáo. Qua trình thuật này, ta có thể rút ra ba điểm căn bản : một là Hội Thánh mở rộng vòng tay đón tiếp những người thiện chí, những người kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành ; hai là loại bỏ những điều cấm kỵ về đồ ăn thức uống giữa người Do-thái và người ngoài Do-thái ; ba là anh em dân ngoại gia nhập Hội Thánh không cần phải cắt bì. Như vậy, bức tường nghi thức đã bị phá bỏ. Chỉ còn Tin Mừng được đón nhận và trở thành quy luật sống muôn đời cho mọi thế hệ.

 

Đáp ca : Tv 117

Trước hết chúng ta cần nhớ thánh vịnh 117 không phải được soạn thảo cho Đức Giê-su Ki-tô : Giống như tất cả các thánh vịnh khác, thánh vịnh này được soạn thảo từ nhiều thế kỷ trước khi Đức Ki-tô giáng sinh, để hát trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, và cũng giống như các thánh vịnh khác, thánh vịnh 117 kể lại toàn bộ lịch sử Ít-ra-en, lịch sử thật dài của Giao ước : đó là điều người ta gọi là “công trình của Thiên Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”. Nhờ kinh nghiệm đó mà dân Ít-ra-en mạnh dạn thốt lên : “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Người suốt dòng lịch sử của họ, và Người luôn cứu họ khỏi mọi thử thách gian truân.

Ta nghe trong thánh vịnh 117 tiếng dội lại của bài ca chiến thắng dân Ít-ra-en được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, hát vang lên sau khi vượt qua Biển Đỏ mà vẫn ráo chân : “Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi” (Xh 15). Các từ “công trình” hay “kỳ công” trong Kinh Thánh luôn ám chỉ cuộc giải thoát khỏi Ai-cập.

“Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao” cũng gợi nhớ đến cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập. Công việc giải thoát này không phải chỉ kéo dài trong một ngày nhưng kéo dài liên tục, và dân Ít-ra-en cảm nghiệm rất rõ điều đó. Từ kinh nghiệm này mà họ có thể thốt lên : “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Chính tình yêu bất tử của Thiên Chúa tạo nên niềm hy vọng, hy vọng vào tương lai là Thiên Chúa sẽ sai Đấng Mê-si-a đến ; cuối cùng dân sẽ nhận được hạnh phúc Chúa hứa ban ; và rồi dân Chúa chọn cùng với toàn thể nhân loại tìm được hoà bình và công lý, điều xem ra vẫn còn xa vời khi thánh vịnh này được viết ra.

Tuy nhiên, tác giả Thánh vịnh hiểu rằng Thiên Chúa có thể biến đổi mọi sự, từ cái chết đến sự sống : “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm.” Chúng ta biết vào lúc thánh vịnh này được viết ra, niềm tin vào sự phục sinh chưa có, mãi đến sau này mới xuất hiện trong dân Ít-ra-en ; lời quả quyết : “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống” là một lời tuyên xưng đức tin nhưng trong một lãnh vực khác ; chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi dân Người, ngay cả trong những hoàn cảnh tồi tệ nhất, Thiên Chúa sẽ làm cho họ sống, và đó là ơn gọi của dân Chúa : “để loan báo những công việc Chúa làm”.

Để minh hoạ cho những thay đổi mà Thiên Chúa có thể thực hiện, tác giả Thánh vịnh mượn ngôn ngữ của các kiến trúc sư : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường.” Khi thánh vịnh này được sáng tác, thì không phải là lần đầu tiên người ta dùng hình ảnh viên đá góc tường để nói về công trình của Thiên Chúa, ngôn sứ I-sai-a đã sử dụng trước rồi (chương 28). Chính Đức Giê-su đã đề cập đến chủ đề này trong dụ ngôn tá điền sát nhân (Mt 21,33-46 ; Mc 12,1-12 ; Lc 20,9-19).

Như thế, tự nhiên thánh vịnh này trở nên lời công bố Tin Mừng Phục Sinh tuyệt vời nhất. Đức Ki-tô chính là viên đá bị xem thường, bị các thợ xây loại bỏ : Người trở nên đá tảng góc tường, viên đá nền tảng của nhân loại mới. Từ nay về sau, nhân loại được giải thoát khỏi cái chết có thể cùng ca lên với Người : “Không, tôi sẽ không phải chết, nhưng tôi sẽ sống, để loan báo những công việc Chúa làm.”

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 5,6b-8

Trong bài đọc 2 hôm nay, men tượng trưng cho sự rửa nát, và bánh không men tượng trưng cho sự tinh tuyền liêm chính. Đây là một điểm điển hình trong đạo đức theo thánh Phao-lô : Anh em hãy trở nên con người thật của anh em, nghĩa là : con người mới mà anh em đã trở thành ngày chịu phép rửa, anh em hãy cho nó sống ; con người được Đức Ki-tô cho hoá nên đồng hình đồng dạng với Người, anh em hãy cho nó hình thành trong đời sống anh em.

Mừng đại lễ, tức là lễ Vượt Qua đang đến. Lễ nghi Vượt Qua Do-thái gồm có việc thải trừ mọi thứ bánh có men còn lại trong nhà, hiến tế Chiên Vượt Qua và dùng bánh không men. Đó là những hình ảnh biểu trưng thực tại tuyệt đỉnh là Đức Ki-tô. Chính Người mới là Chiên Vượt Qua đích thực đã tự hiến tế và nhờ đó đã tiêu diệt tội lỗi (tượng trưng là men cũ), làm phát sinh đời sống mới, đời sống trong mầu nhiệm Vượt Qua. Bản chất đời sống mới này là sự thánh thiện và tinh tuyền (tượng trưng là bánh không men). Thánh Phao-lô so sánh như vậy có thể là vì ngài viết thư này vào mùa lễ Vượt Qua Do-thái.

 

Bài Tin Mừng : Ga 20,1-9

Thánh Gio-an nói “lúc trời còn tối” : ánh sáng Phục Sinh xuyên qua màn đêm, ta nghĩ ngay đến Lời Tựa Tin Mừng Gio-an : “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” ; bóng tối không hiểu được ánh sáng, bởi vì, như Đức Giê-su cũng nói trong Tin Mừng Gio-an : “Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy mà cũng chẳng biết Người”, hoặc “ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng” (Ga 3,19) ; nhưng, dù vậy, bóng tối cũng không thể diệt được ánh sáng, nghĩa là ngăn cản không cho chiếu sáng ; chính thánh Gio-an luôn luôn tường thuật cho chúng ta câu nói lên chiến thắng của Đức Ki-tô : “Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian !” (Ga 16,33).

Vì thế, “lúc trời còn tối”, bà Ma-ri-a Mác-đa-la thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ ; bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ được Đức Giê-su thương mến (là thánh Gio-an tông đồ) và bảo họ : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.” Tất nhiên hai môn đệ vội vã chạy ra mộ ; ta thấy có sự khác biệt của ông Gio-an đối với ông Phê-rô ; ông Gio-an chạy nhanh hơn vì còn trẻ hơn, nhưng ông Phê-rô là người đầu tiên bước vào mộ. “Ông Phê-rô vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.” Đối với thánh Gio-an, những khăn vải đó là bằng chứng cho thấy Đức Giê-su đã sống lại ; vào chính lúc Đức Giê-su bị đóng đinh thập giá, và mãi về sau này, các đối thủ của người Ki-tô hữu tung tin thất thiệt là môn đệ của Đức Giê-su lấy trộm xác của Người. Thánh Gio-an trả lời : “Nếu các môn đệ Đức Giê-su lấy trộm xác Người, thì họ phải lấy luôn cả đồ liệm nữa chứ ! Và nếu Đức Giê-su vẫn còn chết, nghĩa là một tử thi, thì người ta không thể lấy trộm đồ tẩm liệm Người.”

Những băng vải này là bằng chứng cho thấy Đức Giê-su từ nay về sau đã sống lại thật rồi. Những băng vải và khăn che đầu dùng để tẩm liệm Đức Giê-su tượng trưng cho sự tiêu cực của cái chết. Trước những thứ này bị bỏ lại, từ nay về sau đã trở nên vô ích vì ông Gio-an đã thấy và đã tin, ông đã hiểu ngay tất cả mọi sự. Khi ông La-da-rô được Chúa cho sống lại mấy ngày trước, ông bước ra khỏi mộ mình vẫn còn quấn băng vải, thân xác ông vẫn còn là tù nhân của những xiềng xích thế gian ; thân xác ông La-da-rô không phải là một thân xác phục sinh ; Đức Giê-su đã được tháo cởi khỏi mọi vướng víu, Người hoàn toàn tự do ; thân xác phục sinh của Người không còn bị ràng buộc nào cả.

Câu cuối cùng có thể khiến ta ngạc nhiên : “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” Nhiều lần thánh Gio-an đã viết trong Tin Mừng của ngài là phải chờ đến Phục Sinh thì các môn đệ mới có thể hiểu được mầu nhiệm Đức Ki-tô, những lời của Người và cách ứng xử của Người. Vào lúc thanh tẩy Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đã gây ra một xì-căng-đan thật sự khi xua đuổi những người buôn bán súc vật và đổi tiền ra khỏi Đền Thờ : “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2,16). “Khi Đức Giê-su trỗi dậy từ cõi chết, các môn đệ nhớ lại Người đã nói điều đó, họ tin vào Kinh Thánh và lời Đức Giê-su đã nói” (Ga 2,22). “Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà tôi đây sẽ phải thiệt thân !” Cũng như lúc Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem dịp lễ Lá, thánh Gio-an ghi nhận : “Lúc đầu, các môn đệ không hiểu những điều ấy. Nhưng sau khi Đức Giê-su được tôn vinh, các ông nhớ lại là Kinh Thánh đã chép những điều đó về Người” (Ga 12,16).

Thưa anh chị em,

1. Cho đến khi thấy ngôi mộ trống, các môn đệ không hề chờ đợi Đức Giê-su phục sinh, các ông thấy Người đã bị đóng đinh và đã chết, thế là hết, tất cả đều chấm dứt, bao nhiêu mộng đẹp đều sụp đổ. Tuy nhiên các ông vẫn còn sức để chạy ra mộ. Đối với chúng ta, từ nay về sau, chúng ta vẫn có thể tìm được sức mạnh để đọc thấy trong cuộc đời của mỗi người chúng ta và của cả thế giới những dấu chỉ của mầu nhiệm Phục Sinh. Chính Thánh Thần ban sức mạnh giúp ta làm được việc đó. Từ nay về sau, vào mỗi ngày “thứ nhất trong tuần”, tức ngày Chúa nhật, chúng ta vội vã đi đến nhà thờ, để cùng với anh chị em mình tham dự thánh lễ mừng Chúa Phục Sinh, tham dự cuộc gặp gỡ nhiệm mầu với Đấng Phục Sinh.

2. Chính bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã tham dự vào buổi bình minh đầu tiên của nhân loại mới ! Ma-ri-a Mác-đa-la, người phụ nữ tội lỗi, bà là hình ảnh của toàn thể nhân loại khám phá ra Đấng Cứu Độ của mình. Nhưng rõ ràng là bà chưa hiểu ngay điều đã xảy ra ; ở đó bà cũng là hình ảnh của nhân loại.

3. Cho dù chưa hiểu hết mọi sự, nhưng bà đã chạy đi báo tin cho các Tông Đồ, và bởi vì nhờ bà dám làm việc đó, mà hai ông Phê-rô và Gio-an mới chạy ra mộ và mắt hai ông mở ra. Đến lượt chúng ta, hãy noi gương bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi báo tin cho mọi người biết Đức Ki-tô đã phục sinh !

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin cho chúng con biết chết cho tội lỗi và sống lại với Chúa.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có tránh xa tội lỗi để sống xứng đáng với tình yêu của Chúa Ki-tô Phục Sinh không ?

 

2. Bài chia sẻ 2

* Hôm nay chúng ta cử hành lễ Phục Sinh, mừng Chúa sống lại. Lễ Phục Sinh là lễ quan trọng nhất trong mùa Phụng vụ là một lễ của ánh sáng ; Chúa Phục Sinh soi sáng chúng ta, đặt vào tâm hồn chúng ta một niềm vui bao la, một niềm hy vọng tràn trề và đong đầy tâm hồn chúng ta tình yêu của Người.

Tin Mừng kể lại những chuyện xảy ra vào buổi sáng Phục Sinh. Hôm sau ngày sa-bát, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ lúc trời còn tối. Theo một quy định rất nghiêm ngặt của luật Do-thái, ngày sa-bát không được phép di chuyển. Tuy nhiên ngày sa-bát kết thúc khi màn đêm buông xuống. Cho nên, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ. Bà hết lòng yêu mến Chúa nhưng cũng gặp nhiều đau khổ tinh thần và thể xác. Khi đến mộ, bà rất đổi ngạc nhiên, bà thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Cả đoạn Tin Mừng cho chúng ta hiểu rằng Phục Sinh là một biến cố bất ngờ đối với chính các môn đệ. Họ nghĩ rằng Chúa đã chết, thế là hết, mọi sự đều kết thúc. Họ không hiểu rằng những lời tiên báo về Đức Giê-su đều liên quan đến sự Phục Sinh của Người, chúng ta cần hiểu rằng tất cả những lời tiên báo về Đức Giê-su, ít nhất như chúng ta đọc trong Tin Mừng, không hoàn toàn rõ ràng. Đức Giê-su nói về việc “trỗi dậy” mà các môn đệ không hiểu về việc Phục Sinh. Cho nên các ông hoàn toàn không chuẩn bị gì cho việc Phục Sinh của Chúa. Khi thấy hòn đá đã lăn khỏi mộ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la không nghĩ rằng Chúa đã sống lại, nhưng tin rằng người ta đã đem Chúa đi khỏi mồ. Đối với bà, sự Phục Sinh là một việc không thể tưởng tượng được, Chúa đã chết, Người không thể đi ra khỏi mộ một mình được, vì vậy Người đã bị đem đi và chúng ta không biết họ để Người ở đâu ? Đó là một sự xúc phạm mồ mả. Đó là kết luận của bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Bà vội chạy về báo tin cho các môn đệ và hai ông Phê-rô và Gio-an. Lập tức đi ra mộ để kiểm tra thực hư thế nào. Tác giả Tin Mừng cho biết ông Gio-an chạy tới trước vì trẻ hơn, nhưng luôn kính trọng thánh Phê-rô như là lãnh tụ các Tông Đồ, vì thế ông không vào trước mà nhường cho ông Phê-rô. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi, ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các bằng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Những việc đó thật kỳ lạ, có ý nghĩa gì ? Nếu những kẻ bất lương lấy trộm xác Đức Giê-su, chắc chắn họ sẽ lấy cả băng vải và khăn che đầu, chứ không để lại như vậy. Khi ông Gio-an vào trong mộ, ông hiểu rằng không có chuyện xác Đức Giê-su bị lấy trộm, Chúa đã sống lại, một cuộc sống hoàn toàn khác với cuộc sống trần thế, một cuộc sống trong đó băng vải và khăn che đầu hoàn toàn vô ích, ông đã thấy và đã tin. Tác giả Tin Mừng nói tiếp : “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” Sự Phục Sinh của Đức Giê-su soi sáng tâm trí các môn đệ của Người.

Đức Giê-su Phục Sinh là nguồn ánh sáng, một ánh sáng an ủi và nâng đỡ những ai tin Chúa. Sự Phục Sinh của Đức Giê-su mặc khải ý nghĩa cuộc Thương Khó của Người. Không có sự Phục Sinh, xem ra cuộc Thương Khó của Đức Giê-su chỉ là một biến cố bi thảm, một thất bại khủng khiếp, một kết thúc vô vọng. Sự Phục Sinh đem lại cho cuộc Thương Khó một giá trị quý báu, chứng tỏ rằng cuộc Thương Khó không phải là một thất bại, nhưng là một chiến thắng, cuộc chiến thắng của tình yêu. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10,11). Như Đức Giê-su đã nói : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Đức Giê-su đã sống cuộc Thương Khó bằng tình yêu và Người đã Phục Sinh. Người đã nhận một sự sống mới khác với sự sống trần thế. Người đã có một cuộc sống huyền nhiệm, một sự sống vĩnh cửu thật đẹp. Chúng ta hãy đón nhận sứ điệp Phục Sinh của Đức Giê-su. Chúng ta chỉ có thể đón nhận sứ điệp này trong đức tin. Về phương diện nhân loại, biến cố này không thể giải thích được. Tuy nhiên, đức tin cho ta nhận ra những sự can thiệp của Thiên Chúa trong đời sống của chúng ta và giúp chúng ta đón nhận ánh sáng huy hoàng này soi sáng không chỉ mầu nhiệm Đức Giê-su, mà còn cả cuộc sống của chúng ta nữa.

Trong bài đọc 1, thánh Phê-rô công bố sứ điệp Phục Sinh. Trong nhà viên sĩ quan Co-nê-li-ô, ngài ngỏ lời và công bố rằng Đức Giê-su đã đi rao giảng trong xứ Pa-lét-tin, khi làm nhiều việc lành và chữa trị cho tất cả những ai đang sống dưới ách thống trị của ma quỷ, bị kết án cách bất công và chết tủi nhục trên thập giá, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại vào ngày thứ ba và Người đã hiện ra với nhiều người, những lần hiện ra này xác nhận rõ nhất sự kiện ngôi mộ trống. Thánh Phê-rô quả quyết : “Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy là cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại.” Đức Giê-su Phục Sinh tràn đầy sức mạnh. Tuy nhiên sức mạnh của Người không phải là sức mạnh xét xử, nhưng là sức mạnh tha tội. Qua cuộc Thương Khó, Người ban ơn tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta, sức mạnh đầu tiên của Đức Ki-tô Phục Sinh là một sức mạnh cứu độ. Người cũng là một Thẩm Phán, vì cuối cùng con người bị xét xử về việc đón nhận hay đón nhận Đức Giê-su.

Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô cho ta biết những hiệu quả của việc Đức Giê-su Phục Sinh đối với đời sống chúng ta. Người quả quyết rằng chúng ta cùng được sống lại với Người. Trong đoạn thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma đọc Đêm Canh Thức Vượt Qua (Rm 6,3-11) thánh Phao-lô giải thích rằng : “Nhờ phép rửa, chúng ta đã được mai táng với Đức Ki-tô trong cái chết của Người, thì chúng ta cùng được sống lại với Người.” Sự sống của Đức Ki-tô Phục Sinh đã biến đổi nội tâm chúng ta. Con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy con người cũ do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi được nữa ; nhưng chúng ta có nơi mình một mầm của sự sống mới, sự sống của Đức Ki-tô Phục Sinh sẽ biến đổi chúng ta từ từ. Chúng ta có bổn phận phải đón nhận với lòng biết ơn vì ân sủng tuyệt vời đã nhận được, thánh Phao-lô quả quyết ; “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.” Chúng ta phải hiểu rõ kiểu nói của thánh Phao-lô : “Những gì thuộc thượng giới.” Ngài không có ý khơi dậy trí tưởng tượng của chúng ta, để chúng ta sống trên mây nhưng đề cập đến những giá trị thiêng liêng, thánh Tông Đồ cho chúng ta hiểu rằng sau khi Đức Giê-su Phục Sinh, đừng chỉ lo tìm những của cải vật chất, nhưng chúng ta cần ý thức rằng cuộc đời của chúng ta chỉ có ý nghĩa và thật sự có giá trị khi chúng ta kết hợp với Đức Ki-tô trong tình yêu : “Anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, có nghĩa là chúng ta phải sống trong đức tin, kết hợp với Đức Ki-tô Phục Sinh, sống trong niềm hy vọng vào ân sủng của Thiên Chúa để mỗi giây phút trong cuộc đời của chúng ta đều sống trong ơn nghĩa Chúa và để vinh quang Chúa luôn tỏ hiện trong đức mến, trong tình yêu thần linh đến từ Thánh Tâm Đức Giê-su. “Những gì thuộc thượng giới” mà chúng ta phải tìm kiếm là những thực tại rất thật, cụ thể. “Tìm kiếm những gì thuộc thượng giới” có nghĩa là chúng ta phải sống quảng đại, với tinh thần phục vụ đặc biệt, quan tâm đến những nhu cầu của tha nhân, xứng đáng với Đức Ki-tô đã hy sinh tính mạng vì yêu thương chúng ta, và khi Đức Ki-tô, nguồn sống mới của chúng ta xuất hiện, chúng ta sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang. Sự Phục Sinh của Đức Ki-tô không chỉ là nguồn đức tin, nhưng còn là nguồn hy vọng tuyệt vời, chúng ta phải biết ơn Chúa vì ân huệ kỳ diệu này.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin cho tất cả chúng con biết chết cho tội lỗi để được cùng sống lại với Chúa là Đấng vì yêu thương, và để cứu độ chúng con, đã chấp nhận cái chết đau đớn và nhục nhã trên Thập Giá.

Tự vấn :

Chúng ta có ý thức rằng mỗi khi tham dự thánh lễ Chúa nhật là chúng ta mừng Chúa Phục Sinh không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Hai ông Phê-rô và Gio-an trước ngôi mộ mở, trống rỗng : những nẻo đường của đức tin phục sinh

(J. Potin, “Jésus, l’histoire vraie”).

Theo thánh Gio-an, vải liệm thi thể Đức Giê-su có 2 loại. Trước hết có khăm sudarium dùng che đầu, còn othonia (khăn liệm) là những tấm vải lanh rộng bó lấy toàn thân thể (tay, thân, chân). Ngài phân biệt rõ như vậy trong trình thuật khám phá ngôi mộ là có dụng ý rõ rệt.

Trình thuật tìm cách xác nhận cuộc khám phá ngôi mộ trống của thánh Phê-rô, thủ lãnh các Tông Đồ. “Môn đệ kia” theo ông Phê-rô từ lúc bắt đầu vụ án, “môn đệ mà Đức Giê-su yêu mến” để ông Phê-rô vào trước. Ông nhận thấy rằng sudarium và othonia được để lại trên ghế. Vậy thi thể không bị lấy cắp, nhưng đã thoát ra khỏi khăn liệm, để vải liệm lại tại chỗ. Ông Phê-rô chưa có giải đáp cho câu hỏi. Môn đệ kia lanh lẹ hơn trong niềm tin : “Ông đã thấy và đã tin.” Nếu, vì kính trọng, ông đã để cho vị thủ lãnh Giáo Hội vào mộ trước, thì ông lại hiểu ngay điều cốt yếu chỉ bằng cách nghiêng mình ngó vào trong mộ. Là môn đệ được Đức Giê-su yêu mến cũng là một cái gì đó chứ.

Tuy vậy, niềm tin của họ vẫn chưa hoàn hảo. Chỉ thấu hiểu Kinh Thánh mới đưa họ thấm nhập vào mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su, vì Kinh Thánh giải thích ý nghĩa cái chết này, thánh Gio-an đã báo cho các độc giả rằng chỉ có sự thấu hiểu Kinh Thánh mới ban cho họ Thánh Thần mà Đức Giê-su Phục Sinh đã đem đến cho các môn đệ trong những lần hiện ra. Ông Phê-rô và “môn đệ kia” trở về nhà đóng kín cửa vì sợ người Do-thái.

Đối với các môn đệ, ngôi mộ trống vẫn còn là một câu hỏi chứ chưa chứng tỏ được sự Phục Sinh. Tuy nhiên nếu ngôi mộ khép chặt thì làm sao có thể rao giảng sự Phục Sinh được ?.

 

2. Mộ mở toang

(G. Boucher, “Le ciel sur terre”).

Sáng hôm ấy, một phụ nữ, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đến viếng mộ Đức Giê-su. Nhưng, kinh ngạc : mộ đã mở tung. Hòn đá lấp cửa mộ đã lăn qua một bên.

Thoạt nhìn ngôi mộ mở tung, ta nghĩ đến một âm mưu hoặc một trò lừa đảo. Đó là một trò giễu cợt chết người. Hay là một sự xúc phạm không chấp nhận được.

Phản ứng thế nào trước một sự việc như thế ? Bà Ma-ri-a Mác-đa-la báo ngay cho các môn đệ của Đức Giê-su. Bà chạy đến báo động cho ông Phê-rô. Có ông Gio-an theo, ông Phê-rô thoát ra khỏi dè dặt, phá vỡ sự im lặng sợ hãi. Ông rời nơi ẩn náu. Ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Một sự xúc phạm như thế cần phải xem cho kỹ đã.

Ông Phê-rô và ông Gio-an cùng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở sẵn. Giờ đây họ đối diện với sự vĩ đại của biến cố. Và, ông Gio-an đã thấy. Ông đã thấy và đã tin.

Ông Gio-an thấy. Nhưng ông thấy gì ? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.

Ta hãy nghiêng mình xuống như ông Gio-an. Ta thấy gì ? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.

Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì ông Gio-an đã thấy chân dung thật sự của Đức Giê-su, bạn ngài.

Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không ? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.

Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.

Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên trỗi dậy. Phục Sinh.

Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giê-su, đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục Sinh báo trước.

 

Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân

Nguồn: WHĐ (04/4/2025)