Chúa Nhật III Phục Sinh, Năm A (19.04.2026) – Họ Nhận Ra Người (Lc 24,13-35)

“Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,30-31)
Bài đọc 1: Cv 2,14.22b-33

Cái chết không tài nào khống chế được Người mãi.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

14 Trong ngày lễ Ngũ Tuần, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với dân chúng rằng : “Thưa anh em miền Giu-đê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây.

22b “Đức Giê-su Na-da-rét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. 23 Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. 24 Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. 25 Quả vậy, vua Đa-vít đã nói về Người rằng : Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng. 26 Bởi thế tâm hồn con mừng rỡ, và miệng lưỡi hân hoan, cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. 27 Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. 28 Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan.

29 “Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đa-vít rằng : người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. 30 Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, 31 nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Ki-tô khi nói : Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. 32 Chính Đức Giê-su đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. 33 Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống : đó là điều anh em đang thấy đang nghe.”

Đáp ca: Tv 15,1-2a và 5.7-8.9-10.11 (Đ. c.11a) 

Đ.Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.

1Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con,
vì bên Ngài, con đang ẩn náu.2aCon thưa cùng Chúa : “Ngài là Chúa con thờ.5Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng,
là chén phúc lộc dành cho con ;
số mạng con, chính Ngài nắm giữ.

Đ.Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.

7Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy,
ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.8Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ.

Đ.Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.

9Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan,
thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.10Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ.

Đ.Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.

11Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống :
trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,
ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi !

Đ.Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.

Bài đọc 2: 1 Pr 1,17-21

Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn là Đức Ki-tô.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.

17 Anh em thân mến, Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này. 18 Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. 19 Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô. 20 Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. 21 Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa.

Tung hô Tin Mừng:x. Lc 24,32

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Chúa Giê-su, xin mở trí cho chúng con hiểu lời Kinh Thánh. Và khi Chúa phán dạy, xin đốt lòng chúng con cháy lửa nồng nàn. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng:Lc 24,13-35

Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.

18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”

25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.

28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”

33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————

 

Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

 

Thánh Lu-ca là tác giả duy nhất thuật lại câu chuyện trên đường Em-mau. Đấng Phục sinh như một người khách lạ vô tình gặp hai môn đệ trên đường trở về quê cũ. Tâm trạng hai ông lúc này là thất vọng và buồn chán. Khi gặp người khách lạ, hai ông như có dịp trút bầu tâm sự đang làm tâm hồn họ nặng trĩu. Tác giả đã khéo léo tạo dựng nhân vật trong trình thuật, để đưa độc giả, cũng giống như hai môn đệ năm xưa, hết đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Cuối cùng, như hai môn đệ ngỡ ngàng “mở mắt ra” độc giả là chúng ta hôm nay cũng được “mở mắt” để gặp gỡ Đấng phục sinh, Đấng đang bẻ bánh nuôi sống nhân loại.

Khi mở đầu câu chuyện, hai môn đệ tỏ ra rất thông tin và thạo tin. Hai ông hào hứng nói về tình hình thời sự và có vẻ như coi thường vị khách lạ: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”. Câu nói này cho thấy vụ việc Chúa Giê-su là một biến cố lớn làm rung động Thành Thánh. Không chỉ là những người thạo tin, hai ông còn tỏ ra là những người hiểu biết rõ vị ngôn sứ thành Na-da-rét: “Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân”. Rồi sau đó, hai ông giãi bày tâm trạng của mình: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en”. Khi nói “trước đây”, có nghĩa hiện tại hai ông không còn hy vọng nữa. Nói cách khác, niềm hy vọng mà các ông đặt để nơi vị ngôn sứ ấy giờ đây đã bị dập tắt, trở thành ảo vọng, thậm chí là thất vọng. Hai ông cũng tỏ cho thấy, mình không phải là người không hiểu biết gì, bởi lẽ “thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mồ từ sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ và thấy sự việc ý như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy”.

Qua những lời tâm sự, thực ra hai ông đang thú nhận sự kém cỏi và chậm tin của mình. Cũng như các môn đệ khác, chắc chắn trước đó hai ông đã nghe Thầy mình tiên báo về cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người. Vậy mà bây giờ, với khá nhiều bằng chứng hiển nhiên về sự phục sinh của Thầy mình, họ vẫn không tin.

Nếu hai ông hồ hởi khoe khoang sự hiểu biết của mình, thì Chúa Giê-su lại chê họ: “Các anh chẳng hiểu gì cả! lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”

Suy nghĩ của hai môn đệ cũng giống như suy nghĩ của nhiều người trong chúng ta. Là Ki-tô hữu, chúng ta vẫn nghe  Giáo Hội nói về sự phục sinh của Chúa Giê-su; hằng năm chúng ta vẫn nghe trình thuật về việc ông Tô-ma thách thức Chúa và sau đó được gặp Người; chúng ta cũng vẫn nghe câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau, nhưng chúng ta vẫn không được thấy Chúa và cuộc đời của chúng ta vẫn không có gì thay đổi. Đối với nhiều tín hữu, đức tin vào Chúa chỉ đơn thuần giống như một thói quen văn hóa. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta: cần phải mở con mắt tâm hồn để thực sự gặp gỡ Đấng phục sinh đang hiện diện và đang ngỏ lời với chúng ta, để rồi sự phục sinh của Chúa là động lực soi sáng và thúc đẩy hành vi, ngôn từ của chúng ta.

Tại bàn ăn, khi thấy người khách lạ làm những cử chỉ rất quen thuộc là “cầm bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ”, mắt các ông mở ra và nhận ra Thầy mình. Đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa sẽ giúp chúng ta lấy lại nghị lực siêu nhiên và niềm vui trong tâm hồn cũng như trong cuộc đời. Trên đường về Em-mau, lòng các ông nặng trĩu. Khi quay ngược trở lại Giê-ru-sa-lem, các ông phấn chấn và mạnh mẽ. Lòng các ông đã bừng cháy từ khi nghe người khách lạ giải thích Kinh Thánh.

Lời Chúa trong mùa Phục sinh nhấn mạnh đến lời chứng của thánh Phê-rô và các Tông đồ. Bài đọc I cho chúng ta nghe một phần bài giảng của thánh Phê-rô trong ngày lễ Ngũ Tuần. Dân chúng hành hương hết sức ngạc nhiên, thấy thánh Phê-rô và nhóm Mười Một vốn là những người ít học mà bỗng nhiên trở nên khôn ngoan uyên bác đến lạ kỳ. Thánh Phê-rô trích dẫn Cựu ước, với những nhân vật và sự kiện quá quen thuộc với người Do Thái, để từng bước chứng minh Đức Giê-su là Đấng Thiên sai. Người đã bị giết chết và đã sống lại. Các Tông đồ rao giảng hăng say, đến nỗi một số người cực đoan có mặt cho rằng các ông bị say rượu (x. Cv 2,13).

Xin Chúa Giê-su Phục sinh mở mắt để chúng ta gặp Người ngay trong cuộc sống này, dẫu rằng vẫn còn đó những gian nan thử thách. Thánh Phao-lô khuyên chúng ta: khi tuyên xưng vào sự sống lại của Chúa Giê-su, chúng ta đặt để niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy chuyên tâm sống tốt cuộc đời lữ khách này (Bài đọc II). Chúa Phục sinh đang hiện diện và đồng hành với chúng ta. Người đang bẻ bánh cho chúng ta mỗi khi chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể. Xin Chúa mở mắt để chúng ta thấy Người.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)

—————————

 

Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

 

KHAI MỞ TÂM TRÍ MÔN ĐỆ EM-MAU

 

Bài giảng của thánh Phê-rô vào ngày lễ Ngũ tuần, thuật lại vụ việc xảy ra tại Giê-ru-sa-lem, về sự kiện dân chúng kết án đóng đinh Đức Giê-su cũng như việc Người sống lại (Bài Đọc 1. Cvtđ 2,14.22b-33) và cuộc đàm thoại giữa Đức Giê-su  với các môn đệ làng Em-mau (Bài Tin Mừng Lc 24, 13-35), cả hai bài đọc có chung một điểm nhấn, đó là khai mở tâm trí cho người nghe hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của những biến cố thời sự vừa xảy ra.  Cả thánh Phê-rô và Đức Giê-su  đều lấy Kinh thánh làm cơ sở để hướng dẫn người nghe đi tới chỗ nhận ra sự ứng nghiệm lời sấm trong Kinh thánh vào các sự kiện xảy ra tại Giê-ru-sa-lem nơi chính bản thân Chúa Giê-su.  Có thể coi đây là mô mẫu cho một bài giáo lý trong Giáo hội ban sơ.

Bài giàng thuyết của thánh Phê-rô mang nặng tính văn hoá Do thái, minh chứng cho người Do thái thấy rằng Thiên Chúa thực hiện điều đã hứa với dân tộc Do thái.  Từ ngàn năm qua dân Do thái mong đợi một đấng Mê-si-a, tức Đấng cứu tinh dân tộc, niềm hy vọng nầy không ngớt được các ngôn sứ tô điểm và nhắc lại nhiều lần trong lịch sử. 

Ngày lễ Ngũ tuần, không nhằm mục đích công bố điều chi mới mẽ, nhưng cốt thiết giúp cho những người ở Giê-ru-sa-lem hiểu ý nghĩa thâm sâu điều đang xảy ra về việc Chúa Thánh thần ngự xuống, khai trương vương quyền của Đấng Mê-si-a.  Chúa Thánh thần đến như chứng nhận cái chết và sự sống lại của Đức Giê-su Na-da-rét là sự thực hiện tròn đầy niềm mong đợi của toàn dân: “Thiên Chúa không thể bỏ rơi tôi trong sự chết, không để cho Đấng thánh của Người bị huỷ diệt”, đó là lời Thánh vịnh của vua Đa-vít nói tiên tri về Đấng cứu chuộc. 

Lược đồ bài giảng của thánh Phê-rô giống lược đồ của cuộc đàm thoại giữa Đức Giê-su  với các môn đệ làng Em-mau: Đức Giê-su Ki-tô cứu chuộc nhân loại bằng con đường khổ hình thập giá.  Hai môn đệ biết rõ các việc xảy ra tại Giê-ru-sa-lem trong những ngày vừa qua, nhưng họ không đọc ra ý nghĩa, và vì mù mờ về ý nghĩa của các sự kiện, họ lâm vào khủng hoảng niềm tin, muốn tháo lui bỏ chạy. : “Còn chúng tôi, trước đây chúng tôi hy vọng người là đấng giải phóng dân Ít-ra-en.  Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi”.  Luận lý nầy chúng ta đã gặp trên đồi Can-vê: “Ông ta đã mở mắt cho người mù và phục sinh La-da-rô, ông ta hãy tự cứu lấy chính mình đi ”.  Họ nhìn mà không thấy !   Đức Giê-su  nhận xét: “ Các anh chẳng hiểu gì cả!  Lòng trí các anh thật  là chậm tin vào lời các tiên tri!  Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao” (Bài Tin Mừng Lc 24,13-35). 

Đức tin đòi hỏi vượt qua cái cụ thể trước mắt để đạt đến chân lý siêu hình.  Tin vào sự sống lại bị nấm mồ của sự chết án ngữ, làm cho khó tin và khó chấp nhận.  Chính ở điểm nầy có sự khác biệt giữa chân lý đức tin và chân lý khoa học, chân lý đức tin không kiểm nghiệm được, khác với chân lý khoa học có thể được cân đo đong đếm.  Trong khoa học con người càng mất tự do càng đi gần với chân lý khoa học, ngược lại trong đức tin, càng sử dụng tự do, con người càng đi gần tới chân lý đức tin hơn.  Khi nói 2 x 2 = 4, con người không còn tự do để nói khác được; nhưng khi nói “tôi xin chết thay cho người nầy” con người hoàn toàn tự do và đi gần tới đức ái hoàn hảo.

Hai môn đệ làng Em-mau bỏ về quê vì ngã lòng trước cái chết của Đức Giê-su.  Người đuổi theo họ, đi tìm họ, đàm thoại và giải quyết các thắc mắc nơi tâm hồn u uất của họ.  Chính Thánh thần sẽ giúp đọc ra ý nghĩa các biến cố đó.  Đây là sự thách đố của đức tin, chính sự thách đố nầy làm nên công trạng của người tin, nhất là khi họ đứng trước nấm mồ của người thân, trước bệnh tật và đau khổ, trước tai ương hoạn nạn mà họ không thể nào lý giải được, mặc dầu vậy họ vẫn tuyên xưng đức tin vào sự sống lại, đó thật sự là một thách đố to lớn!

 Cần phải có người dẫn giải Kinh thánh, khai mở tâm trí và dẫn đưa chúng ta vào con đường sự sống, đó là hành trình đức tin.  Ngày hôm nay không còn Đức Giê-su hiện hình đến bẻ bánh, để mở mắt cho các môn đệ nhận ra Đấng phục sinh nữa, nhưng mỗi ngày đều có Bẻ Bánh, nhất là ngày Chúa nhật đều có nghi lễ phụng vụ với các bài đọc và lời dẫn giải phúc âm chuẩn bị mở mắt chúng ta nhận ra nơi phép Thánh thể, Đấng là Đường, là sự Thật và là sự Sống.  Sự thật tôn giáo, lịch sử ơn cứu độ đã xảy ra cách đây hai ngàn năm không dễ để hiểu biết cách thâm sâu, cần phải có người hướng dẫn, đó là các vị thừa sai, các giáo lý viên, những người có kinh nghiệm về đời sống tôn giáo.  Thiên Chúa lên tiếng qua người của Hội Thánh.

Lạy Chúa Giê-su Kitô Phục Sinh, xin hãy tìm kiếm con khi con xa lìa Chúa do ngã lòng, vì tội lỗi, vì thất bại hay bị tẩy chay, xin hãy mở mắt tâm trí con để nhận ra Chúa trong hoàn cảnh éo le. A-men.

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

______________________

 

Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

 

 

(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)

 

WGPKT(17/04/2026) KONTUM