Chúa Nhật 3 Mùa Chay Năm A – Man-na Cho Người Lữ Hành

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 17,3-7

Đáp ca : Tv 94,1-2.6-7a.7b-9 (Đ. c.7b.8a)

Bài đọc 2: Rm 5,1-2.5-8

Tung hô Tin mừng : x. Ga 4,42.15

Tin Mừng: Ga 4,5-42

Hoặc : Bài đọc ngắn : Ga 4,5-15.19b-26.39a.40-42

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 17,3-7

Đáp ca : Tv 94

Bài đọc 2 : Rm 5,1-2.5-8

Bài Tin Mừng : Ga 4,5-42

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Theo kiểu của họ, các anh chị em tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của đức tin”

2. “Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 17,3-7

Cho chúng tôi nước uống đi.

Bài trích sách Xuất hành.

3 Trong sa mạc, dân khát nước nên đã kêu trách ông Mô-sê rằng : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ?” 4 Ông Mô-sê kêu lên cùng Đức Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con !” 5 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en ; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. 6 Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống.” Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en. 7 Ông đặt tên cho nơi ấy là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là thử thách và gây sự, vì con cái Ít-ra-en đã gây sự và thử thách Đức Chúa mà rằng : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 94,1-2.6-7a.7b-9 (Đ. c.7b.8a)

Đ. Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
1 Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta,
2 vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,
cùng tung hô theo điệu hát cung đàn. Đ.

6 Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,
quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta.
7a Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ, còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Đ.

7b Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
8 Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng
như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc,
9 nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức
và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.” Đ.

 

Bài đọc 2: Rm 5,1-2.5-8

Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho ta.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

1 Thưa anh em, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. 2 Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay ; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. 5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. 6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : x. Ga 4,42.15

Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu độ trần gian, xin ban cho con nước hằng sống, để con không bao giờ khát nữa.

 

Tin Mừng: Ga 4,5-42

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến –và chính là lúc này đây– giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.

31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ ‘kẻ này gieo, người kia gặt’ quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”

39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ʻÔng ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm.ʼ 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Bài đọc ngắn : Ga 4,5-15.19b-26.39a.40-42

Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.

7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ?

12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”

15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 19b Người phụ nữ lại nói : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến –và chính là lúc này đây– giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

39a Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 17,3-7

1. Giả sử anh chị em có một bản đồ sa mạc Xi-nai và cố tìm xem coi Ma-xa và Mơ-ri-va nằm ở chỗ nào trong sa mạc Xi-nai, thì anh chị em sẽ thất vọng hoàn toàn. Tại sao vậy ? Thưa vì đây chỉ là những địa danh biểu tượng mà thôi, ám chỉ đến hai nơi mà dân Ít-ra-en muốn thử thách và gây sự với ông Mô-sê, nghĩa là muốn nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Câu chuyện xảy ra tại Rơ-phi-đim, giữa lòng sa mạc, nằm giữa Ai-cập và Ít-ra-en. Kinh Thánh cho biết : “Họ đã đóng trại ở Rơ-phi-đim, nhưng tại đó không có nước cho dân uống”, mà ở trong sa mạc, không có nước uống đồng nghĩa với cái chết gần kề. Do đó, dân kêu trách ông Mô-sê cũng là kêu trách chính Chúa, bởi vì ông Mô-sê đưa dân ra khỏi Ai-cập để tiến về Đất Hứa là theo lệnh Đức Chúa phán bảo với ông từ bụi cây bốc cháy : “Ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập” (Xh 3,16).

Thái độ của dân Ít-ra-en thật là hung hăng, lời nói thật gay gắt lúc họ chất vấn ông Mô-sê : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ?” Khi thấy tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng và nguy hiểm, ông Mô-sê phải cầu cứu Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con.” Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en, cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống.” Nước vọt ra từ tảng đá khiến dân chúng và súc vật uống thoả thuê, đồng thời cũng giúp dân chúng yên tâm, vì có “Đức Chúa luôn ở giữa họ” trên con đường dẫn đưa họ tới tự do sau hơn bốn trăm năm làm nô lệ bên Ai-cập. Đó là điều dân Ít-ra-en phải ghi tâm khắc cốt.

2. Điều này cũng giúp ta hiểu tại sao trong ký ức của dân Ít-ra-en, nơi này không gọi là Rơ-phi-đim nữa, là một trong những nơi dân Ít-ra-en cắm trại, vì sự việc xảy ra tại nơi đây đặc biệt nghiêm trọng, nên ông Mô-sê đã gọi nơi này là “thử thách” và “nổi loạn”, vì dân Ít-ra-en đã dám gây sự và thử thách Đức Chúa khi nói : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?”

Cám dỗ nghi ngờ Thiên Chúa cũng có thể có nơi mỗi người chúng ta khi chúng ta gặp thử thách gian truân trong cuộc sống đức tin thường ngày. Câu chuyện của hai ông bà tổ tông, A-đam và E-và trong vườn địa đàng xưa luôn là một bài học sống động cho tất cả chúng ta.

Chúng ta hãy cùng nhau xác tín điều này : Thiên Chúa luôn đồng hành, phù hộ và nâng đỡ tất cả chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế đầy khó khăn này. Đừng bao giờ nghi ngờ sự hiện diện và phù trợ của Người, nhưng hãy đặt trọn niềm tin vào Người. Hãy noi gương ông Gióp trong Cựu Ước.

 

Đáp ca : Tv 94

Thánh vịnh 94 thấm đẫm kinh nghiệm của Ma-xa và Mơ-ri-va, và chúng ta hiểu rõ tại sao chúng ta lại hát thánh vịnh này vào Chúa nhật thứ ba mùa Chay, như là tiếng dội lại của câu chuyện xảy ra tại Ma-xa và Mơ-ri-va mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc 1. Thánh vịnh hôm nay cho thấy cuộc hành trình đức tin của tất cả chúng ta, đó là vấn đề “tin tưởng”, “tín nhiệm”. Đối với dân Ít-ra-en, vấn đề tín nhiệm được đặt ra mỗi khi họ gặp khó khăn trong sa mạc : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” Hay nói cách khác, ta có thể đặt trọn niềm tin vào Người không ? Hay ta có thể hoàn toàn trông cậy Người hay không ? Có chắc chắn là Người trợ giúp chúng ta khi chúng ta gặp hiểm nguy không ?

Kinh Thánh cho ta biết đức tin là tin tưởng, tín nhiệm. Vấn đề tin tưởng này dựa vào kinh nghiệm. Đối với dân Ít-ra-en, tất cả bắt đầu với cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, và trải qua nhiều khó khăn, Chúa mới giải thoát dân Người khỏi ách nô lệ Ai-cập, thì không có lý do gì Người lại để họ chết đói, chết khát giữa sa mạc khô cằn, nắng cháy. Do đó, ta có thể cậy dựa vào Người như dựa vào một tảng đá. “Tung hô Người là núi đá độ trì ta.” Đây là một lời tuyên xưng đức tin. Sau câu chuyện không vui ở Ma-xa và Mơ-ri-va, người ta thường gọi Thiên Chúa là Tảng Đá của Ít-ra-en. Đối với một số người, vấn đề đức tin được đặt ra mỗi khi không tìm được câu trả lời cho những vấn nạn thường gặp : chấp nhận việc không thể biết tất cả, không thể hiểu tất cả mọi sự, chấp nhận con đường nhiệm mầu của Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta tin tưởng Người. Chúng ta chỉ còn có thể nói như thánh Phê-rô khi được Chúa Giê-su hỏi : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Vì chỉ mình Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Trong cuộc sống đức tin, mỗi ngày chúng ta hãy đọc và suy đi nghĩ lại lời thánh vịnh 94 hôm nay : “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa ! Người phán : ‘Các ngươi chớ cứng lòng.’”

 

Bài đọc 2 : Rm 5,1-2.5-8

Chương 5 đánh dấu một khúc quanh trong thư Rô-ma : bởi vì cho tới đó, thánh Phao-lô nói về quá khứ của nhân loại (những người ngoại giáo cũng như những người có niềm tin) ; nhưng từ nay về sau ngài chỉ nói đến tương lai, một tương lai đã được biến đổi cho những người tin, nhờ sự sống, cái chết và sự sống lại của Đức Ki-tô Giê-su. Để có thể hiểu được tư tưởng của thánh Phao-lô, chúng ta cần đọc bản văn bắt đầu từ phần cuối : thứ nhất, Đức Ki-tô tự nguyện chấp nhận cái chết để cứu chuộc chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi ; thứ hai, Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta ; thứ ba, từ nay về sau, chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa.

1. “Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi.” Kiểu nói “vì chúng ta” phải được hiểu là vì ích lợi của chúng ta, nghĩa là qua cái chết trên thập giá, Ðức Giê-su Ki-tô đem lại ơn cứu độ cho chúng ta, chuộc lại ơn làm nghĩa tử cho chúng ta, để mỗi người chúng ta có thể gọi Thiên Chúa là Áp-ba, Cha ơi ! Tiếng gọi đã mất từ khi ông bà tổ tông của chúng ta, A-đam và E-và phạm tội bất tuân lệnh Chúa trong vườn Ê-đen, vườn địa đàng.

Ta phải hiểu thế nào về câu “ngay khi chúng ta còn là tội nhân” khi chúng ta còn là nô lệ của hận thù, bạo lực bao vây đời sống con người, do đam mê tiền bạc, danh vọng ?

2. “Thánh Thần đã được ban cho chúng ta”, và với Người, chính là tình yêu của Thiên Chúa được đổ vào lòng chúng ta qua cuộc Thương Khó và cái chết của Đức Ki-tô trên thập giá, Thánh Thần của Thiên Chúa được ban tràn đầy cho thế giới. Trong Tin Mừng thứ tư, thánh Gio-an đã nói về vấn đề này vào dịp lễ Lều, khi Người đề cập đến nước hằng sống : “Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lề Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng : ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống.’” Như Kinh Thánh đã nói : “Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống. Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh” (Ga 7,37-39). Và, vào lúc Đức Giê-su hấp hối trên thập giá, để minh chứng lời hứa này đã được thực hiện, thánh Gio-an cho biết : “Nhấp xong một chút giấm từ miếng bọt biển có thấm đầy giấm, Đức Giê-su nói : ‘Thế là đã hoàn tất.’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30).

3. Thứ ba, từ nay về sau, chúng ta tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô dùng nhiều lần từ “tự hào” trong thư gửi tín hữu Rô-ma, gồm hai điểm : Trước tiên, chúng ta không có lý do gì để tự hào cả, dù chúng ta có làm nhiều việc lành phúc đức đi nữa, vì chúng ta cần nhớ rằng tất cả những gì chúng ta có đều là hồng ân của Chúa, kể cả một nhân đức nào đó chúng ta tập luyện được. Trái lại là điểm thứ hai, chúng ta có quyền tự hào về những ân sủng Chúa ban cho chúng ta kể từ lúc chúng ta trở nên con cái của Người qua bí tích Thánh Tẩy, và Thánh Thần Chúa đã ngự trong chúng ta ; hơn thế nữa, chúng ta biết chúng ta đang chờ đợi vinh quang nào, khi chính Thánh Thần ngự trong lòng chúng ta biến đổi tâm hồn và thân xác chúng ta theo hình ảnh của Đức Ki-tô Phục Sinh. Câu chuyện Chúa Hiển Dung của Chúa nhật tuần rồi, cho ta nếm thử trước vinh quang này.

 

Bài Tin Mừng : Ga 4,5-42

Trong Kinh Thánh, giếng nước đầu làng hay ở giữa sa mạc nắng cháy đã chứng kiến bao cuộc gặp gỡ dẫn đến hôn nhân hoặc đưa đến một kết thúc tốt đẹp : ơn đức tin như trường hợp người lão bộc của ông Áp-ra-ham vâng lệnh ông chủ về quê cưới vợ cho cậu I-xa-ác là con trai duy nhất của ông Áp-ra-ham và bà Xa-ra. Ông cho lạc đà phục ở ngoài thành, gần giếng nước, vào buổi chiều lúc đàn bà con gái ra múc nước, và tại đó ông đã gặp cô Rê-bê-ca, người trở thành vợ của ông I-xa-ác sau đó ; ông Gia-cóp cũng gặp cô Ra-ken bên bờ giếng, bên bờ một cái giếng ở Pa-lét-tin mà Chúa Giê-su đã gặp và bắt đầu một trong những cuộc đối thoại nổi tiếng nhất trong Tin Mừng Gio-an với một người phụ nữ mà ta gọi là người phụ nữ Sa-ma-ri.

Chúa Giê-su đi ngang qua Sa-ma-ri để trở lại Ga-li-lê ; Người đã rời Giu-đê vì tại đó nhóm Pha-ri-sêu bắt đầu kiếm chuyện với Người. Lúc đó khoảng mười hai giờ trưa. Tại sao ông Gio-an lại nói như vậy ? Thưa vì trong các nước ở vùng sa mạc nắng cháy, mười hai giờ trưa không phải là giờ đi lấy nước ; phải chăng người phụ nữ Sa-ma-ri, vốn không được dân làng đánh giá cao, đành phải chọn thời điểm mười hai giờ trưa đi lấy nước để khỏi phải gặp ai hết, hoặc ông Gio-an muốn cho ta hiểu rằng đó là lúc ánh sáng ngập tràn và ánh sáng của thế giới vừa xuất hiện tại Sa-ma-ri, với việc mặc khải của Đấng Mê-si-a ? Vì dưới con mắt của những người Pha-ri-sêu, Sa-ma-ri cần phải hoán cải.

Mối bất hoà giữa những người Giu-đê và những người Sa-ma-ri đã có từ rất lâu rồi : Về phía Giê-ru-sa-lem, từ lâu người ta đã coi những người Sa-ma-ri như những kẻ lạc giáo, bởi vì một số người trong họ thuộc dòng dõi các dân tộc ngoại giáo đã định cư tại Sa-ma-ri sau khi đế quốc Át-xy-ri chinh phục vùng này. Tuy nhiên, phải thành thật mà nói, họ cũng mạnh mẽ đáp trả lại cư dân Giê-ru-sa-lem, bởi vì họ không chỉ gồm toàn những người do đế quốc Át-xy-ri đưa vào cư ngụ ở đó, nhưng họ cũng là dòng dõi của những chi tộc ở phía Bắc luôn cố gắng trung thành tuân giữ luật Mô-sê như những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem ; họ cũng đả kích những người đang sống tại Giê-ru-sa-lem tự cho mình là trong sạch hơn họ. Mối bất hoà ngày càng trở nên nghiêm trọng qua dòng thời gian, và tới thời Chúa Giê-su thì mối bất hoà càng rõ nét hơn. Do đó, ta mới thấy người phụ nữ Sa-ma-ri ngạc nhiên hỏi : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Nhưng vì người phụ nữ này biết lắng nghe, nên Chúa Giê-su có thể ban cho chị ân huệ thật sự : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị”, ân huệ của Thiên Chúa, chính là Chúa Giê-su : điều quan trọng là nhận biết Người ; Chúa Giê-su nói lại điều này trong lời cầu nguyện cuối cùng trong Tin Mừng Gio-an : “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3).

Dù bị những người Pha-ri-sêu ở Giê-ru-sa-lem coi là những kẻ lạc giáo, nhưng những người Sa-ma-ri cũng trông chờ Đấng Mê-si-a, họ cũng biết rằng Người sẽ tỏ mình ra cho họ : như người phụ nữ Sa-ma-ri đã nói với Đức Giê-su : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” Đơn giản chỉ vì chị đã chấp nhận cuộc đối thoại, biết cởi mở, chân thành xin chỉ cho chị biết làm cách nào để đẹp lòng Thiên Chúa, nên chị đã được ban cho ơn hiểu biết Đấng Mê-si-a : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”

Suốt câu chuyện, ông Gio-an cho ta hiểu rằng với sự xuất hiện của Đấng Mê-si-a, bộ mặt của thế giới sẽ thay đổi : tất cả vấn nạn đều có một lời giải đáp. Giờ đã đến, giờ mà toàn thể lịch sử nhân loại đã điểm. Từ nay về sau, việc thờ phượng không phải là vấn đề nơi chốn, đền thờ, núi non. Nước hằng sống vọt lên trong tâm hồn những ai tin : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Chúng ta cần lưu ý Chúa Giê-su nhấn mạnh đến ân huệ của Thiên Chúa : Với Thiên Chúa Tình Yêu, tất cả đều là ân huệ và tha thứ : người phụ nữ Sa-ma-ri biết rõ điều đó, và chị báo tin cho mọi người biết mình đã gặp Đấng Mê-si-a.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, người phụ nữ Sa-ma-ri đã hoàn toàn thay đổi sau cuộc gặp gỡ với Chúa bên bờ giếng Gia-cóp. Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con, khi gặp gỡ Chúa trong bí tích Thánh Thể, cũng biết thay đổi đời sống, để ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa hơn.

Tự vấn :

Chúng ta thử nhìn lại xem mỗi lần chúng ta đi đến nhà thờ gặp gỡ Chúa Giê-su trong thánh lễ, cuộc gặp gỡ này có làm thay đổi cuộc đời chúng ta không ? Có làm cho chúng ta trở nên nhân chứng của Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Theo kiểu của họ, các anh chị em tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của đức tin”

(H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, tr. 119-120).

“Người phụ nữ Sa-ma-ri”. Đối với nhiều người, đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương bốn của Tin Mừng thánh Gio-an, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt có sức thu hút.

Nói là “thu hút” nhưng trong câu chuyện Tin Mừng không hề có vấn đề thu hút gì cả. Đúng hơn đây là một sự tiếp cận, một sự khám phá và là một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Sa-ma-ri ở đây đúng là mẫu mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Đức Giê-su.

Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi : là phụ nữ và là thành phần của một sắc dân bị người Do-thái miệt thị (bằng chứng về sự xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Ki-tô hữu tại Sa-ma-ri ngay vào thời Tin Mừng thứ tư đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Đức Giê-su vẫn tìm cách lôi kéo người phụ nữ này như bằng một sức hấp dẫn vô hình.

Cách tiếp cận thật lạ lùng : Người khách lạ đã mỏi mệt dừng chân bên bờ giếng xin người phụ nữ chút nước uống. Đấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người.

Thế rồi câu chuyện bỗng đổi chiều, giờ đây cái nhìn của Đức Giê-su soi thấu vào ngõ ngách đời tư của người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Đức Giê-su đã trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ ?

Đến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị ngôn sứ. Chị biết rằng dòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao dòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha.

Chưa hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết định của chị.

Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của đức tin ?”

 

2. “Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng”

(J. Cl. Giroud, trong “Dossiers de la Bible”, tr. 22)

Bên bờ giếng, có một khách bộ hành mỏi mệt dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó chẳng giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ chẳng tới đâu với một loạt đời chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su, qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Sa-ma-ri kia, những kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này.

Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như : ăn, uống, cuộc sống chung với một người đàn ông, cố gắng quay về với Thiên Chúa … mà con người nghe được tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây và lúc này, Người lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại, qua những khoảnh khắc thinh lặng để cho chân lý lên tiếng nói.

 

Nguồn: WHĐ (06/3/2026)