
Cho chúng tôi nước uống đi.
Bài trích sách Xuất hành.
3 Trong sa mạc, dân khát nước nên đã kêu trách ông Mô-sê rằng : “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì ? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không ?” 4 Ông Mô-sê kêu lên cùng Đức Chúa : “Con phải làm gì cho dân này bây giờ ? Chỉ một chút nữa là họ ném đá con !” 5 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en ; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. 6 Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống.” Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en. 7 Ông đặt tên cho nơi ấy là Ma-xa và Mơ-ri-va, nghĩa là thử thách và gây sự, vì con cái Ít-ra-en đã gây sự và thử thách Đức Chúa mà rằng : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?”
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
1Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,
tung hô Người là Núi Đá độ trì ta,2vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,
cùng tung hô theo điệu hát cung đàn.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
6Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,
quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta.7aBởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
7bNgày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !8Người phán : Các ngươi chớ cứng lòng
như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc,9nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức
và dám thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.
Đ.Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng.”
Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho ta.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
1 Thưa anh em, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. 2 Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay ; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. 5 Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. 6 Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.
Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu độ trần gian, xin ban cho con nước hằng sống, để con không bao giờ khát nữa.
Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy : “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói : “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời : “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy : “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp : “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo : “Chị nói : ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ … 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo : Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa : “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi : “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : 29 “Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng : “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông : “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau : “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói : Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em : Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ : “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

Nước là sự sống. Đó là lời quảng cáo rất ấn tượng của một hãng sản xuất nước uống đóng chai. Quả thực, con người không thể tồn tại nếu không có nước. Nếu cuộc sống thân xác rất cần đến nước, thì đời sống tâm hồn cũng rất cần đến nước trường sinh. Đức Ki-tô là Đấng ban cho con người thứ nước này. Theo giáo huấn của Chúa Giê-su, nước trường sinh là sự sống thiêng liêng mà Thiên Chúa ban, giúp con người được sống đời đời. Khi khẳng định điều này, đức tin Ki-tô giáo không giới thiệu một thứ bùa ngải mê tín dị đoan nhằm mục đích ma mị con người, nhưng dựa trên chính lời khẳng định của Chúa Giê-su: “Thầy là Đường, Sự Thật, và là Sự Sống”. Khái niệm “nước” ở đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một lời mời gọi cá nhân rất gần gũi.
Bài đọc I và bài Tin Mừng đều nói về nước. Nước từ tảng đá trong hành trình sa mạc về đất hứa, và nước do chính Chúa Giê-su giới thiệu. Người đã khởi đi từ nước vật chất, tức là nước giếng Gia-cóp, để nói về thứ nước thiêng liêng, tức là ân sủng mà người tin Chúa sẽ được lĩnh nhận dồi dào.
Thánh Gio-an là tác giả duy nhất thuật lại việc Chúa Giê-su gặp gỡ và nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri-a. Khi chủ động bắt chuyện với người phụ nữ này, Chúa Giê-su đã phá vỡ những rào cản truyền thống ngăn cách hai sắc tộc, là Do Thái và Sa-ma-ri-a. Hai dân tộc này mang mối hận thù truyền kiếp từ nhiều thế kỷ. Qua câu chuyện này, Chúa muốn nói với chúng ta: tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, và nơi thâm sâu của họ đều có những điều tốt lành. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a từ ngỡ ngàng ban đầu, đã tôn nhận Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, và cuối cùng bà đã trở nên một môn đệ truyền giáo. Cách trình bày của Tin Mừng đưa chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, để rồi sau cùng, người phụ nữ đó quên luôn việc múc nước, bỏ vò lại đó, chạy vào làng nói với mọi người về Chúa Giê-su. Người phụ nữ và dân thành Sa-ma-ri-a thực sự đã kín múc được nước trường sinh.
Cũng trong tin Mừng thánh Gio-an (Ga 7,37-39), “nước hằng sống” được giải thích là Chúa Thánh Thần – Đấng ban sự sống, đổi mới và thánh hóa con người. Thánh Thần làm cho tâm hồn “khô cạn” được sống lại, và những rạn nứt được hàn gắn. Cũng như nước làm cho đất đai màu mỡ, và cây cối sinh hoa kết trái, Chúa Thánh Thần sẽ đem lại cho con người niềm vui và từ đó họ nhiệt tâm làm việc lành.
Người phụ nữ Sa-ma-ri-a đã được hướng dẫn khởi đi từ nước vật lý để tiến dần tới nước thiêng liêng. Bà đã được Chúa Giê-su chinh phục. Phần cuối trình thuật, người phụ nữ quên luôn mục đích của mình là đi kín nước giếng. Chị bỏ vò lại đó, chạy vào thành giới thiệu Chúa Giê-su cho mọi người cùng sắc tộc. Người phụ nữ này đã được đón nhận nước trường sinh Chúa Giê-su ban tặng. Chị không còn khát nữa, như lời Chúa nói trước đó: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa, và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”.
Qua Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta đến với Người, tin vào Người, để đón nhận sự sống mới Người ban cho chúng ta. Được như thế, chúng ta sẽ cảm nhận niềm vui thiêng liêng và sự bình an nội tâm, và từ con người của mỗi Ki-tô hữu, sẽ tỏa lan hương thơm nhân đức đến môi trường xung quanh. Thánh Phao-lô diễn tả điều này trong Bài đọc II: “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta”. Vị tông đồ dân ngoại hướng chúng ta đến sự trông cậy và niềm hy vọng nơi quyền năng của Thiên Chúa. Ngài luôn yêu thương chúng ta, và bằng chứng của tình yêu ấy là việc sai Con Một đến với chúng ta, và ban Thánh Thần để tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong mọi hành động.
Trong khi người Do Thái khinh miệt và tách biệt với người Sa-ma-ri-a, Chúa Giê-su lại khẳng định: họ cũng là những mảnh đất tốt để Lời Chúa gieo vào. Trình thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và người phụ nữ đã nói lên điều đó.
Ki-tô hữu là người được nước trường sinh thanh tẩy trong nghi thức gia nhập Đạo, tức là Bí tích Thay tẩy. Bí tích Thanh tẩy là nơi hình ảnh “nước trường sinh” trở nên rõ ràng nhất, vì nước là dấu chỉ của sự chết và sự sống. Khi được dìm vào nước hoặc được đổ nước trên đầu, người lãnh bí tích chết đi cho con người cũ và sống lại trong Đức Ki-tô. Đây là sự tái sinh thiêng liêng, đúng như lời Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô: “Phải sinh ra bởi nước và Thánh Thần.”
Mùa Chay giúp chúng ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, như dòng nước trường sinh tưới mát tâm hồn. Mùa Chay cũng nhắc chúng ta thay đổi quan niệm về tha nhân. Thông thường, chúng ta hay nhận định người khác theo cái nhìn chủ quan của mình, mà ý kiến chủ quan thì hay lầm lạc vì bị chi phối bởi nhiều điều kiện khác nhau.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

NƯỚC GIẢI KHÁT
Hành trình đi vào đức tin được thánh Gio-an trình bày qua câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri đối thoại với Đức Giê-su về chủ đề nước. Nước là chủ đề của Chúa nhật 3 Mùa Chay năm A. Nước vọt ra từ tảng đá núi Khô-rếp theo lệnh của Mô-sê, nước của giếng Gia-cóp, nơi Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Sa-ma-ri. Một dân tộc du mục sống trong vùng đất khô cháy, thì nước là vấn đề sống chết. Giếng và nước chiếm một chỗ quan trọng trong lịch sử cứu độ: nước từ ban sơ thời tạo dựng cho đến nước rửa tội, nước lụt đại hồng thủy, nước biển Đỏ, nước sông Gio-đan. Nước nhắc nhớ sự chôn vùi dìm chết và giải thoát đem lại sự sống, một cuộc vượt qua đi vào thế giới mới, vào sự sống mới. Nước dìm chết và đồng thời làm phát sinh sự sống.
Nước và sự sống gắn liền với nhau. Giếng nước là dấu chỉ sự sống, là nơi quy tụ sinh hoạt của dân làng, là nơi gặp gỡ của bao nhiêu cuộc tình giữa trai tài gái sắc. Người dân du mục đi từ ốc đảo nầy sang điểm nước khác, sự phong phú của đàn vật và sự sống của con người gắn liền với guồng nước. Người ta quyết sống chết để dành cho được nước, bao nhiêu cuộc chiến tranh xảy ra ở vùng vịnh là vì nước, nước là sự quyết định sinh tồn và sự phồn vinh của một dân tộc.
Đời sống các tổ phụ được đan dệt từ dòng nước. Giếng nước Gia-cóp là một điển hình (x. Bài Tin Mừng hôm nay Ga 4,5-42). Trong trình thuật này Đức Giê-su xuất hiện trước mắt người phụ nữ Sa-ma-ri như một người đi kín múc nước, thực chất Người là nguồn nước hằng sống. Nước Người ban không vọt ra từ đất, nhưng là hồng ân sự sống Thiên Chúa ban tặng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (câu 10).
Nước vọt lên từ nơi mà người ta không thể ngờ được, theo trình thuật trong Bài đọc 1 mô tả (Xh 17,3-7): tảng đá ở núi Khô-rếp, núi đá gợi lên sự khô cháy, hơn là gợi lên hình ảnh nguồn suối nước mát, thế mà ông Mô-sê cầm gậy đập vào đá. “Từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân. Ông Mô-sê đã làm như vậy trước mắt các kỳ mục Ít-ra-en”(c. 6). Cũng thế trong bài Tin Mừng, các khó khăn được kể đến khi múc nước: giếng thì sâu mà gàu không có, vậy làm sao lấy được nước. Khó khăn từ đá vắt ra nước được so sánh như giếng sâu mà không có gàu làm sao lấy được nước.
Sự kỳ thị địa phương xem ra hết thuốc chữa vì người đối thoại lại là phụ nữ Sa-ma-ri: “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?”. Một hố ngăn cách giữa Do thái và Sa-ma-ri, hai bên không giao thiệp với nhau. Những khó khăn nêu lên đó chẳng khác gì núi đá khô cháy, tường thành đố kỵ được dựng lên ngăn cách đối thoại, không mong gì có chút nước mát để giải khát. Nhất là khi bàn tới đời sống riêng tư, bà phụ nữ Sa-ma-ri không muốn bất cứ ai đụng tới đời tư ít tốt đẹp của bà nên lạnh lùng bà đáp: “Tôi không có chồng”.
Đức Giê-su chấp nhận sự thật đó và soi sáng thêm : “Bà đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với bà không phải là chồng bà”. Bà không muốn đụng đến quá khứ bất hảo của mình. Những khó khăn đó như hố sâu cách biệt chẳng khác gì tảng đả lạnh lùng ở núi Khô-rép. Nơi không thể đào ra nước được! Đức Giê-su nhà mô phạm tài năng đi từ vật chất đến tinh thần, Người là hướng dẫn chương trình, là một MC trong cuộc phỏng vấn nầy, Người đã thành công khi dẫn dắt cuộc phỏng vấn đạt đến mục đích nhắm tới (Master of Ceremony viết tắt M.C, tiếng Việt dịch: Người điều khiển chương trình).
Chuyện xin nước uống chỉ là chuyện làm quà để có dịp đi sâu hơn vào một thực tại khác mà Đức Giê-su muốn dẫn dắt người phụ nữ tiến bước: Từ nước giếng vật chất đến Nước Hằng Sống; từ thờ phượng trên núi nầy núi nọ đến thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý; từ của nuôi thân xác đến thi hành ý Cha. Đức Giê-su đi từ thực tại vật chất để dẫn đưa người phụ nữ đến Nước Hằng Sống, Người đi bước trước để khơi dậy niềm tin nơi người phụ nữ. Kể cũng lạ, Đấng sở hữu nước hằng sống lại đi xin con người chút nước uống! Đúng thật, Tin mừng Gio-an là tin mừng của các dấu chỉ: nói việc trước mắt, nhưng ám chỉ điều thâm sâu hơn.
Ngỏ lời xin nước uống như miếng trầu là đầu câu chuyện truyền giáo. Đức tin khởi đi bằng đối thoại với chính Thiên Chúa. Những ngộ nhận ban đầu được dần dà loại bỏ, người phụ nữ đi vào đức tin và trở nên người loan báo tin mừng: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đức Ki-tô sao?” (câu 29). Đức tin là cuộc đối thoại không ngơi nghỉ giữa con người với chính Thiên Chúa, là sự săn lùng dòng nước mát mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm cho con người được giải khát.
Tự nơi thâm tâm con người khao khát điều vô biên, khi tin vào Thiên Chúa con người như tìm được nguồn mạch sự sống: “Vì chúng ta tin, nên Đức Giê-su đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa” (x. Bài Đọc 2. Rm 5,1-2.5-8). Chỉ nơi Đức Giê-su nhân loại tìm được dòng nước giải khát cho mọi ước vọng.
Lạy Chúa Giê-su, nhân loại luôn khao khát nước hằng sống, nước hoà bình, nước công lý và bình đẳng, nước yêu thương và hạnh phúc … mà chỉ mình Chúa mới có thể lấp đầy hố sâu khát vọng nơi chúng con. A-men
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku
______________________
Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)
![]()
