Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.
Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en.
12 Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau : “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. 13 Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. 14 Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa.”
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 129,1-2.3-4.5-6a.6b-8 (Đ. x. c.7bc)
Đ. Chúa luôn luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.
1 Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa, 2 muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con. Dám xin Ngài lắng tai để ý nghe lời con tha thiết nguyện cầu. Đ.
3 Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng ? 4 Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ để chúng con biết kính sợ Ngài. Đ.
5 Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. 6a Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông. Đ.
6b Hơn lính canh mong đợi hừng đông, 7 trông cậy Chúa đi, Ít-ra-en hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa. 8 Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn. Đ.
Bài đọc 2 : Rm 8,8-11
Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, ngự trong anh em.
8 Thưa anh em, những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô. 10 Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính. 11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin mừng : Ga 11,25a.26
Chúa nói : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống ; ai tin vào Thầy sẽ không phải chết bao giờ.”
Tin mừng : Ga 11,1-45
Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống?
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”
5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.
6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !” 8 Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” 9 Đức Giê-su trả lời : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”
11 Nói những lời này xong, Người bảo họ : “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.”
12 Các môn đệ nói với Người : “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” 13 Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ : “La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” 16 Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”
17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”
28 Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !” 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.
32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” 33 Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”
45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.
Đó là lời Chúa.
Hoặc Bài đọc ngắn : Ga 11,3-7.17.20-27.33b-45
Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống?
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
3 Khi ấy, hai cô Mác-ta và Ma-ri-a cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”
5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.
6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !”
17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi.
20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”
33b Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”
45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Ed 37,12-14
1. Lời hứa của Thiên Chúa trong bài đọc 1 hôm nay gồm hai điểm : thứ nhất : “Hỡi dân Ta, này chính Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi”, thứ hai : “Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en” hoặc “Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi.” Những kiểu nói trên đây cho phép chúng ta biết được thời điểm biến cố xảy ra : Dân Ít-ra-en đang sống kiếp lưu đày ở Ba-by-lon, bị người Ba-by-lon đày đoạ, gần như bị huỷ diệt, như đã chết, cho nên Thiên Chúa mới nói đến mồ mả, huyệt mộ. Do đó, kiểu nói “Ta sắp mở huyệt cho các ngươi” có nghĩa là Thiên Chúa sắp hồi sinh dân Người. Mời anh chị em nhìn lại chương 37 sách Ê-dê-ki-en, chúng ta sẽ thấy bài đọc 1 hôm nay là phần tiếp theo trong một thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en về “những bộ xương khô” và giải thích thị kiến này : “Đức Chúa dùng Thần Khí đem tôi ra đặt giữa thung lũng ; thung lũng ấy đầy xương cốt và đã khô đét : Thiên Chúa nói với chúng : những người anh em của ngươi đang tuyệt vọng trong chốn lưu đày bên Ba-by-lon, kể như mình đã chết, nhưng chính Thiên Chúa sẽ hồi sinh họ, vì Thiên Chúa là Đấng luôn trung tín với Giao ước đã ký kết với dân Người.”
2. Tại sao phải lặp lại hai lần cùng một sự việc ? Thật ra, lời hứa thứ hai không hề lặp lại lời hứa thứ nhất, nhưng nói rộng hơn : “Chính Ta mở huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta ! Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa”, và điều sâu xa nhất là việc trở lại tình trạng trước khi bị lưu đày ở Ba-by-lon ; nhưng trong lời hứa thứ hai này, có một vấn đề khác, mới hơn, chưa bao giờ thấy : “Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh”, đó là Giao ước mới được nói đến ở đây : từ nay về sau “luật yêu thương” sẽ không được ghi trên các tấm bảng bằng đá, nhưng trong chính tâm hồn con người, như ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã nói : “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi, và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt” (Ed 36,26).
3. Vì thế, ở đây kiểu nói “hỡi dân Ta” chứng tỏ rõ ràng hai lời hứa nói trên báo sự hồi sinh của dân Ít-ra-en. Đây không phải là sự hồi sinh cá nhân. Quả thật, dân Ít-ra-en chỉ khám phá ra niềm tin vào sự phục sinh ở thế kỷ II trước Công nguyên, cho tới thời điểm đó, người ta quả quyết những người chết sẽ xuống Âm Phủ (shêôn) là nơi ở của những người đã chết, chốn thinh lặng, tối tăm và bị lãng quên (x. Am 9,2 ; Tv 88,11-13). Trước khi Đấng Cứu Độ đến, mọi người chết, dù lành hay dữ, đều phải vào Âm Phủ. Ở đó, không được nhìn thấy Thiên Chúa, họ chờ đợi Người đến phán xét. Sau khi Chúa Giê-su hy sinh mạng sống mình, với tư cách là Đấng Cứu Độ, Người đã xuống Âm Phủ (ngục Tổ tông) để giải thoát những người công chính đang mong đợi Người đến (x. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 633). Trong nhiều thế kỷ liền, người ta chỉ quan tâm đến việc hồi sinh của dân tộc chứ không phải của cá nhân.
Ðể có thể tin vào sự sống lại của cá nhân, chúng ta cần lưu ý hai điểm :
* Trước hết, việc quan tâm đến số phận của cá nhân không hề có lúc khởi đầu lịch sử Kinh Thánh. Vấn đề này tiến triển từ từ và khá chậm. Tiếp đến, yếu tố thứ hai không thể thiếu được để có thể tin vào sự sống lại, là phải tin vào một Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta cho Tử thần.
* Việc xác tín Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta không thể có ngay được, nó tiến triển dần dần theo những biến cố cụ thể trong lịch sử dân Ít-ra-en. Kinh nghiệm lịch sử của Giao ước đã nuôi dưỡng niềm tin của dân tộc Ít-ra-en. Mà kinh nghiệm của Ít-ra-en là kinh nghiệm về một Thiên Chúa giải thoát con người, Đấng luôn muốn con người không phải làm nô lệ cho ai cả, Đấng luôn can thiệp để giải thoát con người, để con người được tự do ; và Thiên Chúa luôn là Đấng trung tín với lời đã hứa. Chính niềm tin này đã hướng dẫn mọi tình huống trong đời sống của dân Ít-ra-en.
Năm trăm năm sau ngôn sứ Ê-dê-ki-en, vào khoảng năm 165 trước Công nguyên, hai yếu tố này phối hợp với nhau : niềm tin vào một Thiên Chúa không ngừng giải thoát con người, sự khám phá ra giá trị của mỗi cá nhân, dẫn tới niềm tin vào sự sống lại cá nhân. Như vậy Thiên Chúa muốn giải thoát con người khỏi thứ nô lệ kinh khủng nhất, đó là cái chết về phần linh hồn. Việc khám phá này xảy ra rất chậm, mãi cho tới thời Chúa Giê-su, niềm tin này vẫn chưa được mọi người chấp nhận, như nhóm Xa-đốc không hề tin vào sự sống lại (câu chuyện người đàn bà lấy 7 anh em làm chồng).
Đáp ca : Tv 129
1.Thánh vịnh 129 là một trong 15 thánh vịnh được gọi là thánh vịnh của “những kẻ lên đền”, nghĩa là những người hành hương hát khi lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, có lẽ được hát trong dịp lễ Lều, trong một nghi thức sám hối. Vì thế, hai từ “tội lỗi” và “tha thứ” là quan trọng trong thánh vịnh 129 này : “Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội, nào có ai đứng vững được chăng ? Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ, để chúng con biết kính sợ Ngài.”
2. Ở đây chính tội nhân lên tiếng và khẩn cầu, tin chắc là đã được tha thứ, chính dân Ít-ra-en vừa nhận biết lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa và sự bất lực của con người trong việc tuân giữ trọn vẹn Giao ước Xi-nai. Những sự bất trung trong việc sống Giao ước giống như “cái chết thiêng liêng” : “Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa.” Thiên Chúa là tình yêu và là ân sủng. Tha thứ nghĩa là tiếp tục đề nghị một Giao ước, một tương lai tươi đẹp, bất chấp những bội nghĩa vong ân. Chúng ta nhớ lại trường hợp của vua Đa-vít : sau khi phạm tội sát nhân, giết chết tướng U-ri-a, chồng của bà Bát-sê-va, ngôn sứ Na-than được Chúa sai đến khiển trách ông, ông ăn năn sám hối và được Chúa thứ tha. Ý tưởng Thiên Chúa tha thứ không phải được tất cả mọi người tán thành đâu ; tuy nhiên, đây là một trong những xác quyết quan trọng của Kinh Thánh, ngay từ thời Cựu Ước, Chúa Giê-su lấy lại và nhấn mạnh chủ đề này, chẳng hạn trong chương 15, Tin Mừng Lu-ca (dụ ngôn người Cha nhân hậu). Chúa Giê-su trên thập giá : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Kinh Thánh cho ta biết chính sự tha thứ mà Thiên Chúa biểu lộ sức mạnh của Người. Đó là một trong những khám phá quan trọng của Ít-ra-en. Chúng ta nhớ lại lời của sách Khôn ngoan : “Chính do sức mạnh của Chúa mà Chúa hành động công minh, và vì Chúa làm bá chủ vạn vật nên Chúa nương tay với muôn loài. Khi không có ai tin rằng Chúa nắm trọn quyền năng, thì Ngài tỏ sức mạnh” (Kn 12,16-17). Dân Ít-ra-en thống hối đang trông chờ sự tha thứ “hơn lính canh mong đợi hừng đông”, “chính Ngài sẽ cứu chuộc Ít-ra-en cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn”. Chúng ta rất thường gặp trong Kinh Thánh những kiểu nói tương tự. Dân Ít-ra-en còn trông đợi nhiều hơn nữa bởi vì họ đã có kinh nghiệm về sự yếu đuối và lỗi lầm luôn lặp đi lặp lại, và họ cũng cảm nghiệm rất rõ lòng trung tín của Thiên Chúa. Họ chờ đợi chính Thiên Chúa thực hiện trọn vẹn những lời hứa này. Người Ki-tô hữu chúng ta biết rõ thế giới này đang đi đến hồi kết thúc, một sự kết thúc có hậu, nhờ Đức Giê-su Ki-tô : “Hồn tôi trông chờ Chúa, hơn lính canh mong đợi hừng đông.”
Bài đọc 2 : Rm 8,8-11
Người tín hữu sống theo Thần Khí
1. Trong bài đọc 1, ngôn sứ Ê-dê-ki-en công bố : “Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh”, còn ở đây, trong bài đọc 2, thánh Phao-lô nói với chúng ta từ nay về sau, kể từ khi chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, lời công bố nói trên của ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã trở thành hiện thực, chúng ta trở nên đền thờ của Thần Khí, chính Người điều khiển chúng ta kể từ nay. Theo thánh Phao-lô, chúng ta để Thần Khí hướng dẫn, chỉ huy chúng ta trong mọi tình huống cụ thể của đời sống đức tin thường ngày. Chúng ta có thể thay thế từ “Thần Khí” bằng từ “tình yêu”, và trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô cho ta biết hoa quả của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.
2. Đối với thánh Phao-lô, sống theo Thần Khí là sống thực tế, chứ không sống trên mây ; ngài là người thừa kế tất cả truyền thống ngôn sứ, mà tất cả các ngôn sứ đều quả quyết rằng mối liên hệ của chúng ta đối với Chúa được thể hiện rõ nét trong các mối liên hệ với tha nhân ; trong các bài ca người tôi tớ, I-sai-a xác nhận mạnh mẽ rằng sống theo Thần Khí của Thiên Chúa là yêu thương và phục vụ anh em mình. Các ngôn sứ luôn dùng những từ mạnh mẽ để nói với những người tưởng rằng mình làm đẹp lòng Chúa nhờ những nghi lễ hoành tráng trong khi những người khốn khổ chết đói trước cửa nhà của mình. Như vậy, sống theo Thần Khí đơn giản là sống theo lòng bác ái yêu thương, ngược lại với lòng bác ái là dửng dưng trước sự đau khổ của người khác hay sống trong hận thù ; hay nói cách khác, yêu thương là không sống ích kỷ, chỉ biết có mình, còn sống theo xác thịt là sống ích kỷ, chỉ biết có mình mà thôi. Sống như thế thì không thể nào hoà hợp với Thiên Chúa là Tình Yêu. Thánh Phao-lô nói : “Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa.”
Trái lại, Đức Ki-tô là Con yêu quý của Thiên Chúa, và Thiên Chúa hài lòng về Người, nghĩa là Người hoàn toàn hoà hợp với Thiên Chúa vì Đức Ki-tô cũng chỉ là Tình Yêu. Trong câu chuyện Chúa Giê-su bị quỷ cám dỗ mà chúng ta đọc trong chương 4 Tin Mừng Mát-thêu vào Chúa nhật thứ nhất mùa Chay, một trình thuật rất cảm động vì Chúa Giê-su chỉ tập trung vào Thiên Chúa và lời của Thiên Chúa, và từ chối tập trung vào cơn đói hoặc những nhu cầu khác trong sứ vụ Mê-si-a của Người.
Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45 : Anh La-da-rô sống lại
1. Câu chuyện về việc anh La-da-rô được Chúa cho sống lại là câu chuyện về phép lạ dài nhất trong Tân Ước, vì đây là một dấu lạ quan trọng. Chúa Giê-su, khi làm phép lạ này, ít lâu trước khi bước vào cuộc Thương Khó, báo trước cái chết và sự phục sinh của Người, là một sự sống lại thật sự, chứ không phải là việc hồi sinh một xác chết, còn ông La-da-rô sống lại một thời gian rồi cũng sẽ chết. Biến cố này cho ta thấy rõ hơn nhân tính của Chúa Giê-su với những cảm xúc, thương xót và nước mắt, đồng thời thiên tính của Người là chủ sự sống và cái chết. Lời mời gọi tin là ý tưởng chủ đạo xuyên suốt câu chuyện. Sự đối đầu giữa Chúa Giê-su và dân Ít-ra-en là cái phông cho Tin Mừng thứ tư, Tin Mừng theo thánh Gio-an, chưa bao giờ lại căng thẳng đến vậy.
Một ít lâu trước đó, Chúa Giê-su phải rời khỏi Giê-ru-sa-lem để khỏi bị ném đá, cũng như các môn đệ đã nhắc cho Người, Người đã rút lui sang “bên kia sông Gio-đan”, nơi ông Gio-an Tẩy Giả đã khởi đầu sứ vụ của ông.
2. Chính tại nơi đây mà hai cô Mác-ta và Ma-ri-a báo cho Chúa Giê-su về bệnh tình của em mình là La-da-rô. Khi biết tin, Chúa Giê-su trả lời : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.” Tuy nhiên, như thường gặp trong Tin Mừng thứ tư, kiểu nói trên có hai nghĩa : chắc chắn Chúa Giê-su sẽ được tôn vinh nhờ chính phép lạ này, nhưng phép lạ này đưa Người tới cái chết vì phép lạ này khiến các kẻ thù của Người nổi điên.
Chúng ta biết rằng đối với thánh Gio-an thì vinh quang của Chúa Giê-su rực rỡ trong suốt cuộc Thương Khó của Người. Thập giá là dấu chỉ “Con Người được nâng cao”. Tác giả Tin Mừng cho ta hiểu rằng “Con Người” được vinh quang trong việc cứu độ nhân loại vì Người đặt tất cả tình yêu của Người vào đó.
3. Chúa Giê-su cố ý đến trễ
Thay vì đi ngay đến Bê-ta-ni-a, Chúa Giê-su còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. Rồi sau đó Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê.” Các môn đệ nhắc Người : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” Chúa Giê-su trả lời các môn đệ bằng một ngôn ngữ tượng hình : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình.” Lời nói trên của Chúa Giê-su nhắc cho ta nhớ Người là ánh sáng thế gian, “Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.” Một lời nói mời gọi các Tông Đồ “Hãy theo Thầy” dù nguy hiểm. Rồi Chúa Giê-su tuyên bố La-da-rô đã chết ; giống như trong trường hợp con gái ông trưởng hội đường Gia-ia, Chúa Giê-su nói về giấc ngủ nhưng các môn đệ lại hiểu giấc ngủ bình thường. Ông Tô-ma, gọi là Đi-đi-mô nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy.” Chúa Giê-su muốn cho các môn đệ hiểu rõ ý nghĩa cái chết của Người : hy sinh mạng sống cho những kẻ Người yêu thương. Chúa Giê-su vui mừng : “Thầy mừng cho anh em, vì Thầy không có mặt ở đó để anh em tin.” Người vui một niềm vui thánh thiêng vì sứ điệp cứu độ của Người sẽ được mọi người nhận biết trong dấu lạ Người sắp làm.
4. Tại Bê-ta-ni-a
Chúa Giê-su chỉ đến Bê-ta-ni-a bốn ngày sau khi ông La-da-rô chết. Lý do thứ nhất của việc đến trễ này, chắc chắn là để cho việc Người sắp làm, cho ông La-da-rô sống lại từ cõi chết đã bốn ngày, sẽ khiến mọi người chứng kiến xúc động hơn, vì theo thói quen lúc bấy giờ, người chết được chôn cất ngay trong ngày chết hoặc hôm sau, sau khi đã tẩm liệm. Tuy nhiên ngày thứ tư cũng là ngày xác nhận theo luật một người đã chết. Có thể đây là nguyên nhân chính. Theo truyền thống, việc chia buồn kéo dài đến bảy ngày. Thân bằng quyến thuộc không vội đến viếng người quá cố ngay mà chờ đợi một thời gian, và ngày thứ tư rất đông người đến chia buồn với tang gia. Tin Mừng ghi lại : “Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a vì em các cô mới qua đời.”
5. Lòng tin của cô Mác-ta
Khi gặp Chúa Giê-su, cô Mác-ta nói có vẻ như trách Người : “Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết.” Đấng đã chữa lành biết bao bệnh nhân, đã cho kẻ chết sống lại nhưng đã không đến để chữa bệnh cho người bạn yêu quý của Người ! Tuy nhiên cô Mác-ta vẫn còn hy vọng : “Nhưng bây giờ con biết : bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” Nhưng Chúa Giê-su muốn cô Mác-ta nhận biết Người là ai, là Đấng nào.
6. “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.”
Lời công bố này của Chúa Giê-su thêm vào một loạt những lời “Tôi là”, qua đó Chúa Giê-su xác nhận căn tính thần linh của Người. “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống … Tôi là ánh sáng thế gian … Tôi là cửa chuồng chiên … Thầy là cây nho thật … Tôi là mục tử nhân lành …”
Niềm tin vào sự sống lại đã có nơi dân Ít-ra-en từ nhiều thế kỷ qua. Theo di sản thiêng liêng của Do-thái giáo, trừ nhóm Xa-đốc phủ nhận niềm tin này, Chúa Giê-su đi xa hơn : “Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.” Chúa Giê-su quả quyết Người là nguồn sự sống. Người muốn bổ túc cho lời tuyên xưng của cô Mác-ta. Đối với những ai tin, có một sự sống siêu nhiên giúp kết hợp những người đó với Đức Ki-tô. Giáo Hội dạy cho ta biết sự sống không hề kết thúc với cái chết. “Sự sống thay đổi chứ không mất đi” như lời Kinh tiền tụng của lễ Cầu hồn quả quyết. Cô Mác-ta đã lắng nghe ; niềm tin của cô trở nên sâu sắc hơn, cô nhận ra Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a và là Con Thiên Chúa. Còn cô Ma-ri-a biểu lộ niềm tin một cách khác, cô phủ phục dưới chân Chúa Giê-su.
7. Chúa Giê-su xúc động
Bài Tin Mừng diễn tả cơn xúc động của Chúa Giê-su như sau : “Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến … Đức Giê-su liền khóc … Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng.”
8. “Đem phiến đá này đi !”
Ngôi mộ nơi ông La-da-rô an nghỉ là một cái hang có phiến đá đậy lại. Thánh Gio-an nhấn mạnh đến những chi tiết này vì ông sẽ báo một lần mai táng khác, một tảng đá sẽ cùng được lăn ra. “Chúa Giê-su lớn tiếng cầu nguyện.” Chúa Giê-su lớn tiếng cầu nguyện nhằm khơi dậy lòng tin của tất cả những người hiện diện : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” Nói xong, Người kêu lớn tiếng : ‘Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !’ Người chết đi ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn.” Ông Gio-an nhấn mạnh một lần nữa các chi tiết để cho thấy sự khác nhau với Chúa Giê-su Phục Sinh, bỏ lại trong mồ tất cả những gì liên hệ đến cái chết, cái chết mà Người đã chiến thắng vĩnh viễn.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Ki-tô, chúng con tin Chúa là “sự sống lại và là sự sống”.
Tự vấn :
Trong thực tế của đời sống hằng ngày, chúng ta có nhớ lời của thánh Gia-cô-bê tông đồ : “Đức tin không việc làm là đức tin chết” không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Lớn lên trong đức tin
(N. Quesson, “Les entretiens du Dimanche A”, Droguet et Ardant).
Trong câu chuyện này, cả hai cô Mác-ta lẫn Ma-ri-a đều được mời gọi tiến triển thêm. Cô Mác-ta đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do-thái : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” Đức Giê-su mời bà tiến thêm một bước : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Chị có tin thế không ?” Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Đức Giê-su, Đấng ban sự sống ngay hôm nay cho ai tin vào Người. Đó chính là mục đích của phép lạ này : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con … Con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.”
Kết thúc cuộc khám phá về Đức Giê-su, và để chuẩn bị cho việc tuyên xưng đức tin, chúng ta đã cùng hai cô Mác-ta và Ma-ri-a lãnh nhận bài giáo lý cuối cùng. Những người xứ Sa-ma-ri đã nhận biết Người là Đấng cứu độ trần gian …, người mù bẩm sinh đã nhận Người là Con Người …, cô Mác-ta và cô Ma-ri-a đã tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa.
Đối với nhiều trẻ em, những thanh niên và cả lứa tuổi trưởng thành, Đức Giê-su trước hết là một người bạn như thuở ban đầu hai cô Mác-ta và Ma-ri-a đã nhận biết. Có phải vào ngày Phục Sinh, ta sẽ tiến triển trong đức tin khi nói lên, không chỉ bằng môi miệng mà bằng cả một cử hành tạ ơn : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” … Hôm nay, con muốn xin Người đến lấp đầy lổ hổng của hữu thể con bằng Xác Thể hằng sống của Người, lương thực chân thật cho đức tin của con.
2. Từ “Phục Sinh” của La-da-rô đến Phục Sinh của Đức Giê-su
(Missel Communautaire).
Phép lạ đặt ngay trước cuộc Thương Khó của Đức Giê-su đã tiên báo cái chết và sự phục sinh của Người. Thật vậy, nếu ông La-da-rô rút tay chân bị trói ra khỏi giải băng và khuôn mặt bị che phủ khỏi tấm khăn liệm, điều đó nhắc nhở một cách đầy biểu tượng rằng ông vẫn còn là một người phàm hay chết. Đức Giê-su sẽ thoát ra vào ngày Phục Sinh như một người bất tử, được vĩnh viễn giải thoát khỏi sự chết. Nơi Đức Giê-su, sự sống đã khải hoàn.
3. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa mở cửa mồ
(Dossier d’animation de CCFD dành cho Chúa nhật V Mùa Chay).
Nhìn thế giới ta sẽ thấy nó thật bệnh hoạn. Sự phát triển của phương Bắc đã bị xét lại về sự coi thường môi trường và những nguy cơ nó gây ra cho tương lai của hành tinh và cho những thế hệ tương lai. Sự phát triển ấy càng bị chống đối khi ta nhìn thấy những người nghèo mới, số những người bị loại trừ chẳng bao giờ có thể tái hội nhập. Sự phát triển ở phía Đông cũng thế, càng sinh ra sự thù hận chủng tộc, bạo lực và nghèo khổ. Sự phát triển ở các nước thuộc thế giới thứ ba cũng bị công kích, vì nó không nuôi được dân trong vùng một cách đúng đắn, cũng không phân phối các sản phẩm cho công bằng.
Đức Ki-tô đã nói : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa” (Ga 11,4). Lời lẽ lạ lùng, ngược hẳn với cái nhìn đầu tiên của ta : Hẳn Người đã cảm thấy điều gì … Thật ra đã bốn ngày rồi … (Ga 11,39). Tuy nhiên đó là đức tin, là niềm hy vọng của ta. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa sự sống. Thiên Chúa của ta là Đấng mở những nấm mồ. Đức Ki-tô của ta là Đấng, giữa đoạn đường từ làng tới nghĩa trang, đã bảo đảm cho ta vượt qua từ sự chết đến sự sống. Chúa của ta là Đấng kêu lên : Hãy đi ra. Người gọi chúng ta, những kẻ đang bị giam hãm. Người cởi trói và giải thoát ta khỏi mớ quần áo sự chết, khỏi các giải băng sợ hãi. Thế nên chiến đấu cho công lý trở thành có thể được. Yêu thương là luôn luôn có thể được. Con người có thể gặp được nhân tính của mình : “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em” (Rm 8,9).
Thành viên của Comite Catholique contre la Faim et pour le Developpement làm chứng về những điều đó mỗi ngày. Tình liên đới, đắt giá lắm, nhưng là suối nguồn vui tươi. Sự phát triển rất phức tạp nhưng tiến tới là điều có thể được nếu ta biết hợp tác với nhiều người : các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các xí nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, tư nhân, các Giáo Hội. Mỗi người có thể tham gia theo cách của mình. Đối với chúng ta những kẻ tin, thì trong cố gắng của nhân loại ấy có dấu vết của Thiên Chúa trong lịch sử hoạt động : “Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt” (Ed 37,13).
Chính Thánh Thần của Đức Ki-tô và của Thiên Chúa Cha cho ta đủ năng lực chiến đấu chống lại tất cả sức mạnh của sự chết. Chính Người, một ngày kia, sẽ mở cửa đưa ta vào sự sống đời đời.