A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Hc 15,15-20

Đáp ca: Tv 118,1-2.4-5.17-18.33-34 (Đ. c.1b)

Bài đọc 2: 1 Cr 2,6-10

Tin Mừng: Mt 5,17-37

Hoặc : Bài đọc ngắn  Mt 5,20-22a.27-28.33-34a.37

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Hc 15,15-20

2. Đáp ca : Tv 118

3. Bài đọc 2: 1 Cr 2,6-10

4. Bài Tin Mừng: Mt 5,17-37

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Hãy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta”

2. “Sự cấp tiến của Bài Giảng Trên Núi”

3. “Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước đến nay”

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Hc 15,15-20

Đức Chúa không truyền cho ai ăn ở thất đức.

Bài trích sách Huấn ca.

15 Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn mà trung tín làm điều đẹp ý Đức Chúa.
16 Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy.
17 Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó.
18 Vì trí khôn ngoan của Đức Chúa thật lớn lao, Người mạnh mẽ uy quyền và trông thấy tất cả.
19 Người để mắt nhìn xem những ai kính sợ Người, và biết rõ tất cả những gì người ta thực hiện.
20 Người không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội.

Đó là lời Chúa.

Đáp ca        Tv 118,1-2.4-5.17-18.33-34 (Đ. c.1b)

Đ. Hạnh phúc thay người noi theo luật pháp Chúa Trời.

1 Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện,
biết noi theo luật pháp Chúa Trời.
2 Hạnh phúc thay kẻ tuân hành ý Chúa,
hết lòng hết dạ kiếm tìm Người.     Đ.

4 Vâng lạy Chúa, Ngài đã ban huấn lệnh,
truyền chúng con tuân giữ vẹn toàn.
5 Ước mong sao con hằng vững bước
theo thánh chỉ Ngài ban.      Đ.

17 Xin tỏ lòng nhân hậu cùng tôi tớ Chúa đây
để con được sống và tuân giữ lời Ngài.
18 Xin mở mắt cho con nhìn thấy
luật pháp Ngài kỳ diệu biết bao.      Đ.

33 Lạy Chúa, xin dạy con đường lối thánh chỉ,
con nguyện đi theo mãi đến cùng.
34 Xin cho con được trí thông minh
để vâng theo luật Ngài và hết lòng tuân giữ.     Đ.

Bài đọc 2: 1 Cr 2,6-10

Lẽ khôn ngoan Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

6 Thưa anh em, điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của các thủ lãnh thế gian này, là những kẻ sớm muộn gì cũng phải diệt vong. 7 Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa đã được giữ bí mật, lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển. 8 Lẽ khôn ngoan ấy, không một ai trong các thủ lãnh thế gian này đã được biết, vì nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá. 9 Nhưng, như đã chép : Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.

10 Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng         x. Mt 11,25

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng       Mt 5,17-37

Anh em đã nghe luật dạy người xưa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

17 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. 18 Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. 19 Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.

20 “Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. 23 Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, 24 thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. 25 Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. 26 Thầy bảo thật cho anh biết : anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.

27 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. 28 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi. 29 Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi ; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hoả ngục. 30 Nếu tay phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi ; vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục.

31 “Luật còn dạy rằng : Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. 32 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, bất cứ ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình ; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình.

33 “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. 35 Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. 36 Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. 37 Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’ ; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”

Đó là lời Chúa.

Hoặc : Bài đọc ngắn           Mt 5,20-22a.27-28.33-34a.37

Anh em đã nghe luật dạy người xưa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

20 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời.

21 “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. 22a Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà.

27 “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. 28 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Bất cứ ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.

33 “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. 34a Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả.

37 “Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’ ; thêm thắt điều gì là do ác quỷ.”

Đó là lời Chúa.

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1: Hc 15,15-20

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Huấn ca của ông Ben Xi-ra, một thân hào ở Giê-ru-sa-lem, một kinh sư từ thuở thiếu thời đã tỏ ra tha thiết mến yêu và miệt mài với luật Mô-sê, một con người luôn ưu tư về tiền đồ của Do-thái giáo và muốn đối phó với nguy cơ Hy-lạp một cách lâu bền và hữu hiệu. Để bảo vệ gia sản tôn giáo và văn hoá của dân tộc, không gì bằng trình bày trong một tác phẩm, quan điểm đúng đắn về Thiên Chúa, về thế giới và về ơn gọi của Ít-ra-en, cho mọi người xác tín rằng Bộ Luật mặc khải hàm chứa sự khôn ngoan đích thực, dân Do-thái chẳng có gì phải thèm khát chạy theo một nền văn minh ngoại giáo, đó là nền văn minh Hy-lạp, và đó cũng là mục tiêu ông Ben Xi-ra nhắm tới khi viết sách Huấn ca.

2. Trở lại bài đọc 1 hôm nay, ông Ben Xi-ra mời chúng ta suy nghĩ về sự tự do của con người gồm ba điểm sau đây : thứ nhất, cái xấu ở bên ngoài con người ; thứ hai, con người được tự do chọn lựa làm điều tốt hay làm điều xấu ; thứ ba, chọn điều tốt cũng là chọn hạnh phúc.

Thứ nhất, cái xấu ở bên ngoài con người, nghĩa là cái xấu không thuộc bản tính tự nhiên của con người chúng ta, đó là một tin vui trọng đại, vì nếu cái xấu thuộc bản tính tự nhiên của con người chúng ta, thì chúng ta không có một chút hy vọng được cứu độ, vì chúng ta không bao giờ có thể diệt trừ cái xấu được, như là quan niệm của người Ba-by-lon chẳng hạn. Trái lại, Kinh Thánh lạc quan hơn, quả quyết cái xấu ở ngoài con người. Thiên Chúa không làm nên cái xấu, và không thúc đẩy chúng ta làm điều xấu. Do đó Người không chịu trách nhiệm về cái xấu chúng ta đã làm. Đó là ý nghĩa của câu cuối cùng trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe : “Chúa không truyền cho ai ăn ở thất đức, cũng không cho phép ai phạm tội.” Vài câu trước bài đọc 1 hôm nay, ông Ben Xi-ra viết như sau : “Con đừng nói : ‘Tại Đức Chúa mà tôi phạm tội.’ Đừng nói : ‘Chính Người làm tôi lầm đường lạc lối.’”

Nếu Thiên Chúa tạo dựng nên ông A-đam là một sinh vật vừa có phần tốt vừa có phần xấu như người Ba-by-lon tưởng tượng, thì cái xấu là thành phần trong bản tính của chúng ta. Nhưng Thiên Chúa chỉ là tình yêu và cái xấu hoàn toàn xa lạ với Người. Câu chuyện sa ngã của hai ông bà nguyên tổ, ông A-đam và bà E-và mà sách Sáng thế kể lại, được viết nhằm giúp mọi người hiểu rằng cái xấu ở bên ngoài con người, bởi vì nó được ma quỷ dưới hình con rắn đưa vào, và lan tràn khắp thế gian kể từ khi con người không còn tin Thiên Chúa nữa. Ta tìm thấy một lời quả quyết tương tự trong thư thánh Gia-cô-bê : “Khi bị cám dỗ, đừng ai nói : ‘Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ, vì Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Người cũng không cám dỗ ai.” Hay nói cách khác, cái xấu hoàn toàn xa lạ với Thiên Chúa, Người không thể thúc đẩy ai phạm tội. “Nhưng mỗi người có bị cám dỗ, là do dục vọng của mình lôi cuốn và dùng mồi mà bắt” (Gc 1,13-17).

3. Thứ hai : con người được tự do chọn lựa cái xấu và cái tốt. Dân Ít-ra-en dần dần mới hiểu được điều này, nhưng trong Kinh Thánh thì rất rõ ràng ngay từ đầu. Thiên Chúa tạo dựng nên con người tự do. Để cho sự xác tín này lớn dần nơi dân tộc Ít-ra-en, họ cần phải trải nghiệm hành động giải thoát của Thiên Chúa qua nhiều giai đoạn trong lịch sử của họ, khởi đầu kinh nghiệm giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập mà vào đêm thứ Bảy Vọng Phục Sinh chúng ta đều tưởng niệm việc này, cách riêng trong bài đọc trích sách Xuất hành chương 15, tất cả niềm tin của Ít-ra-en đều phát sinh từ kinh nghiệm lịch sử này : Thiên Chúa là Đấng giải thoát, và dần dần người ta hiểu rằng điều ngày hôm nay ta hiểu biết, đã có ngay từ lúc Chúa sáng tạo vũ trụ càn khôn và con người. Vì thế ta có thể kết luận rằng Thiên Chúa tạo dựng con người tự do.

Để hướng dẫn con người trong việc chọn lựa, Thiên Chúa ban cho Lề Luật của Người. Sách Đệ nhị luật nhấn mạnh : “Quả thế, mệnh lệnh tôi truyền cho anh em hôm nay đây, không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em. Mệnh lệnh đó không ở trên trời, khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành ?’ Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói : ‘Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành ?’ Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30,11-14).

4. Thứ ba : chọn điều tốt là chọn hạnh phúc. Ta đọc lại bản văn : “Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì sẽ được cái đó. Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy”, hay nói cách khác, khi trung thành với Thiên Chúa, con người sẽ tìm được hạnh phúc thật ; còn khi xa lìa Thiên Chúa, thì sớm hay muộn gì, con người sẽ gặp bất hạnh. Ta có thể nói một cách cụ thể là con người thường xuyên đứng trước một ngã tư : hai con đường mở ra trước họ : một con đường dẫn đến sự sáng, niềm vui, sự sống ; phúc cho những ai đi theo con đường này. Con đường khác là con đường của đêm đen, của tối tăm, chỉ mang lại buồn phiền và chết chóc ; vô phúc cho những ai chạy theo con đường lầm lạc đó. Chúng ta nhớ lại câu chuyện của ông A-đam và bà E-và trong vườn Ê-đen xưa, việc chọn lựa sai lầm dẫn đến chỗ diệt vong.

Chủ đề hai con đường thường được triển khai trong Kinh Thánh, cách riêng trong sách Đệ nhị luật : “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em : hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là phải chết, bị tai hoạ. Hôm nay tôi truyền cho anh em phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đi theo đường lối của Người, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ của Người để anh em được sống. Anh em hãy chọn sống để anh em và dòng dõi anh em được sống, nghĩa là hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nghe tiếng Người và gắn bó với Người” (Đnl 30,15-20). Dứt khoát không bao giờ chúng ta là tù nhân, ngay cả sau khi chúng ta có những chọn lựa không phù hợp, vì qua bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được ghép vào Ðức Giê-su Ki-tô, là Ðấng luôn ban ơn trợ giúp để chúng ta trở lại đường ngay nẻo chính. Bởi đó ta gọi Người là Ðấng Cứu Ðộ, có nghĩa là Ðấng giải thoát khỏi vòng cương toả của tội lỗi. Là những người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được Chúa Giê-su Ki-tô ban thêm sức mạnh tinh thần để sống cuộc đời ngay thẳng, đẹp lòng Chúa.

2. Đáp ca : Tv 118

1. Thánh vịnh 118 hoàn toàn là một tiếng dội của bài đọc 1 trích từ sách Huấn ca. Thánh vịnh chính là suy niệm kéo dài của bài đọc 1. Ý tưởng chính được triển khai là nhân loại chỉ tìm được hạnh phúc khi đặt trọn niềm tin vào Chúa và tuân giữ các điều răn của Người. Nỗi bất hạnh và cái chết sẽ tóm lấy con người ngay khi họ không còn tin tưởng Chúa nữa, nghi ngờ Chúa và các điều răn của Người là bước vào một con đường không có lối thoát, dẫn đến sự diệt vong. Đó là trường hợp của ông A-đam và bà E-và mà sách Sáng thế đã kể lại. Trong thánh vịnh này, ta thấy lại chủ đề hai con đường mà bài đọc 1 đã đề cập, hai con đường luôn mở ra trước mắt chúng ta, một con đường dẫn ta tới hạnh phúc, một con đường đưa ta tới bất hạnh.

2. Theo thánh vịnh 118, hạnh phúc thì rất đơn giản. Đối với một người tín hữu, con đường chắc chắn dẫn tới hạnh phúc là tuân giữ Lề Luật của Chúa : “Hạnh phúc thay ai sống đời hoàn thiện, biết noi theo luật pháp Chúa Trời.” Người tín hữu cảm thấy hạnh phúc khi trung thành tuân giữ các điều răn của Chúa, đây là điều mà thánh vịnh 118 muốn nói với tất cả chúng ta.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng không phải tới lúc có Tân Ước người ta mới biết Thiên Chúa là Tình Yêu và Lề Luật không có gì khác hơn là dẫn đưa con người đi trên con đường tình yêu. Toàn bộ Kinh Thánh là bài học về sự tập sự của dân Chúa chọn để sống tình yêu này. Sách Đệ nhị luật nói : “Hãy nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4), và sách Lê-vi tiếp tục : “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18). Sau này, Chúa Giê-su ráp hai điều răn này thành một, đã là mến Chúa thì phải yêu người. Có thể nói, Người đã tóm tắt Luật của Do-thái giáo.

3. Bài đọc 2:    1 Cr 2,6-10

Chúa nhật tuần trước, thánh Phao-lô đối chọi sự khôn ngoan của loài người với sự khôn ngoan của Thiên Chúa ; hôm nay, thánh Phao-lô tiếp tục triển khai chủ đề này với một ý tưởng mới : Vâng, việc công bố mầu nhiệm của Thiên Chúa là một sự điên rồ đối với loài người, nhưng qua đó thánh Phao-lô muốn đề cập đến một sự khôn ngoan cao quý hơn, đó là sự khôn ngoan của Thiên Chúa : “Điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành là một lẽ khôn ngoan, nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian … Trái lại, chúng tôi giảng dạy lẽ khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa.” Do đó chúng ta phải chọn lựa : sống theo sự khôn ngoan của thế gian, sống theo tinh thần thế gian, hay sống theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Hai sự khôn ngoan này hoàn toàn đối chọi nhau. Ta tìm thấy chủ đề này trong bài đọc 1 trích từ sách Huấn ca và thánh vịnh 118, chủ đề về hai con đường. Con người chúng ta đứng trước ngã tư của hai con đường và phải chọn lựa đường đi thích hợp : một con đường dẫn đến sự sống, dẫn đến ánh sáng, dẫn đến hạnh phúc ; một con đường khiến ta chìm đắm trong bóng tối, cái chết.

“Sự khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa được giữ kín” : một trong những quả quyết quan trọng của Kinh Thánh là con người ta không thể biết hết về mầu nhiệm của sự sống và sự sáng tạo của Thiên Chúa, càng biết ít hơn nữa về chính mầu nhiệm Thiên Chúa. Đó là giới hạn của con người chúng ta, như sách Đệ nhị luật nói : “Có những điều Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, giữ kín cho mình ; nhưng những điều này, được mặc khải cho chúng ta và con cháu chúng ta đến muôn đời, để chúng ta đem ra thực hành những lời của Luật dạy” (Đnl 29,28). Điều đó muốn nói rằng : Thiên Chúa biết tất cả mọi sự, nhưng chúng ta chỉ biết những gì Chúa mặc khải cho chúng ta, bắt đầu bằng Lề Luật là chìa khoá giúp ta hiểu tất cả những phần khác.

“Lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển.” Thánh Phao-lô nhấn mạnh nhiều lần trong các bức thư của ngài là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời và kế hoạch không hề thay đổi.

“Cho chúng ta được vinh hiển” : Thông thường thì vinh quang là một ưu phẩm của Thiên Chúa và chỉ dành cho một mình Người mà thôi. Ơn gọi Ki-tô hữu của chúng ta là tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa. Kiểu nói này của thánh Phao-lô cho ta thấy ý định nhân hậu của Thiên Chúa : kế hoạch của Thiên Chúa là tập họp toàn thể nhân loại trong Đức Giê-su Ki-tô và cho ta tham dự vào vinh quang của Ba Ngôi Thiên Chúa.

4. Bài Tin Mừng:     Mt 5,17-37

1. Chúng ta cùng nhau suy niệm mấy điểm trong bài Tin Mừng khá dài chúng ta vừa nghe :

Đức Giê-su đến trần gian để kiện toàn Luật Mô-sê. Lời nói trên đây của Chúa Giê-su cho ta thấy mối tương quan và lập trường của Chúa Giê-su và Cựu Ước. Những câu này rất quan trọng, cho thấy chính Người là Đấng Mê-si-a phải đến và dân Ít-ra-en đang mong đợi. Người là đích điểm của lịch sử dân Chúa, là ý nghĩa của tất cả Sách Thánh Cựu Ước, nơi Người, mọi lời Thiên Chúa hứa và tiên báo qua các ngôn sứ đều được thực hiện. Người có quyền chính thức giải thích ý của Thiên Chúa về tất cả những gì Thiên Chúa đã phán và đã thực hiện trong quá trình mặc khải cho đến bây giờ. Kiện toàn ở đây có hai nghĩa : Chúa Giê-su đưa Luật tới ý nghĩa hoàn hảo, ý nghĩa thật sự, ý nghĩa cánh chung của Lề Luật, đồng thời Chúa Giê-su thực hiện những lời tiên báo của các ngôn sứ về cánh chung.

Một chấm, một phết trong Lề Luật không phải là những dấu để phân câu trong câu văn, mà phải hiểu đó là chữ nhỏ nhất trong mẫu tự Do-thái (chữ Giốt) và những nét nhỏ như cái chấm để phân biệt chữ này với chữ khác. Chúa Giê-su dùng hình ảnh này để nói lên tầm quan trọng đích thực của mọi luật vì đó là ý muốn của Thiên Chúa, mà đã là ý muốn của Thiên Chúa thì không có gì là nhỏ bé, tầm thường.

“Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-sêu”, trước hết phải hiểu công chính do tin vào Chúa Giê-su (ơn Chúa), sau đó mới đến ăn ở theo lòng tin đó (nghĩa luân lý, đạo đức). Không phải chỉ tránh sống đạo hình thức kiểu các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu, mà hơn nữa, cho dù trong các kinh sư, Pha-ri-sêu cũng có những người sống theo luật Mô-sê cách thật tình, thì từ đây sống như vậy không đủ để được hạnh phúc, bởi vì Đấng Mê-si-a đã đến. Từ đây phải tin vào Người, sống như Người dạy mới vào được Nước Trời. Từ đây tất cả phải được Ki-tô hoá.

2. Đức Giê-su đưa ra bốn phản đề : những kiểu nói phản đề đưa ra những trường hợp điển hình về sự công chính mới, sự công chính được kiện toàn như thế nào. Điều luật cũ vẫn còn nhưng Chúa Giê-su đòi luật đó phải đi sâu vào nội tâm và kiểm soát cả đến ước vọng và những động lực thầm kín nhất của con người.

2.1. Đừng giận ghét : Luật dạy người xưa rằng : “Chớ giết người, ai giết người thì đáng bị đưa ra toà.” Còn Chúa Giê-su dạy rằng ai mắng nhiếc, chửi rủa anh em mình thì đáng bị phạt rồi. Vấn đề giải quyết bất hoà với tha nhân quyết định giá trị của việc thờ phượng. Người ta thường dễ quan tâm đến bổn phận thờ phượng, mà lơ là bổn phận tha thứ và yêu thương. Để của lễ lại là kiểu nói diễn tả ý muốn giảng hoà, tha thứ. Không được hiểu sát chữ mà hoãn việc thờ phượng, vịn lẽ chưa dàn xếp xong. Làm như vậy là dấu không sẵn sàng giảng hoà. Việc thờ phượng là lý do thúc bách phải sớm tha thứ.

2.2. Chớ ngoại tình “Anh em đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình.” Còn Chúa Giê-su dạy : “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.” Ta phải hiểu thế nào về móc mắt, chặt tay ? Thưa, đây là những kiểu nói mạnh.

2.3. Đừng ly dị : Ở đây Chúa Giê-su thắt chặt lại khoản luật lỏng lẻo của Cựu Ước. Trường hợp ngoại trừ ở đây không phải là ly dị vì ngoại tình …

2.4 Đừng thề thốt : Có nghĩa là nói đúng sự thật khách quan ; bụng nghĩ sao, miệng nói vậy, thành thật ; nhắc lại tiếng có hoặc tiếng không để quả quyết hoặc phủ nhận điều mình nói cách trịnh trọng (kiểu Do-thái). Nếu là trường hợp thứ tư này, Chúa có ý nói : không cần thề thốt, tức là nại đến điều linh thánh, chỉ cần quả quyết một cách nghiêm chỉnh là đủ.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, để được vào Nước Trời, mỗi người chúng con phải đặt trọn niềm tin vào Chúa và sống theo lời Chúa dạy trong Tin Mừng. Xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con luôn tin yêu Chúa giữa muôn vàn thử thách của cuộc đời.

Tự vấn :

Chúng ta thử xét mình xem chúng ta đã sống lời Chúa như thế nào trong cuộc sống đức tin thường ngày ?

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Hãy để cho lề luật kiện toàn chính chúng ta”

(Mgr. L. Daloz trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 51).

“Đức Giê-su kiện toàn lề luật bằng cách trả lại cho nó tất cả sự trong sáng của lời Thiên Chúa, khi nhấn mạnh đến điều cốt lõi : “Ta muốn lòng nhân chứ không phải hy tế.” Khi được hỏi về giới răn trọng nhất, Người không do dự trả lời rằng toàn bộ Lề Luật và Ngôn Sứ đều quy về giới răn trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như chính mình (x. 22,34-40). Chính Người đã kiện toàn giới răn cao cả ấy bằng cách tự hiến đời mình. Phần các môn đệ, kiện toàn Lề Luật khác hẳn việc tuân thủ các mệnh lệnh. Đúng hơn, chính Lề Luật kiện toàn ta, đưa ta đi đến cùng. Có thế mới đáng để ta tuân giữ từ giới răn nhỏ bé nhất – thậm chí cho tới một nét phẩy – không phải vì tỉ mỉ hay cầu toàn, nhưng vì tự hiến hoàn toàn, mở lòng trọn vẹn, để lời của Thiên Chúa thấm nhập và biến đổi tận đáy lòng ta, và biến ta nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo. Đây không phải là sự nô lệ mà là tình nguyện. Nó không bao giờ kết thúc vì ta luôn bất toàn. Đây là sự rèn luyện trường kỳ về tính sáng suốt và lòng can đảm. Trước tiên, đây là một hồng ân, một ân huệ của Thiên Chúa, Đấng muốn và thực hiện nơi ta điều đó. Đây chính là tác phẩm của Chúa Thánh Thần, Đấng đến để sản sinh trong ta những hoa trái của Người, như vậy kiện toàn Lề Luật là ghi khắc nó vào tận đáy lòng ta …”

2. “Sự cấp tiến của Bài Giảng Trên Núi”

(J. Guillet, “Đức Giê-su trong niềm tin của các môn đệ tiên khởi”, Desclée de Brouwer, 1995).

Tính cấp tiến này không hề nệ luật. Điều hay nhất của bài giảng là không có thêm một điều khoản bổ túc, một đòi buộc mới nào. Nhưng lại không cho phép bất cứ ai tự tin mình đã đạt đến sự công chính cao siêu cả. Nó bắt mọi môn đệ tự do tưởng tượng, tiến xa hết mức trong việc phục vụ và trong tình yêu tha nhân. Giới luật đặc thù của Tin Mừng luôn có tính tích cực. Tại chỗ mà luật cũ mang tính tương đối và hạn định một giới hạn không thể vượt qua : “Ngươi không được giết người, không được phạm tội ngoại tình” thì Đức Giê-su lại công thức hoá chúng theo đường hướng tích cực : trước hết, hãy đi làm hoà đã, hãy móc mắt phải mà ném đi. Ta phải biết nhận ra nguyên lý nền tảng đàng sau những phóng đại quen thuộc theo kiểu nói “phương đông” : anh không được đặt giới hạn cho tình huynh đệ, cho việc tôn trọng phụ nữ.

3. “Cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất từ trước đến nay”

(H. Denis “100 từ nói lên niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 101-102).

Bạn có biết Thập Giới không ? Có lẽ bạn có thể đọc thuộc Mười Điều Răn bằng văn xuôi hay văn vần, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn, đó là biết được điều Đức Giê-su đã làm đối với Thập Giới. Ta có thể nói với Người rằng Lề Luật, không bị huỷ bỏ, nhưng được thăng tiến để được kiện toàn. Nói cách khác, ta cũng phải để ý kẻo khi vượt lên Lề Luật, ta lại khinh thường nó bằng cách bám víu vào đó như Đức Giê-su chưa từng kiện toàn nó vậy.

Với cái nhìn này, Bài Giảng Trên Núi có lẽ là cuộc cách mạng tôn giáo vĩ đại nhất của mọi thời. Một con người, một vị ngôn sứ, một sứ giả của Thiên Chúa dám nói lên những lời chưa từng nghe : “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng ; còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.” Vị Giê-su này vượt trên cả Lề Luật.

Bạn hãy thử tưởng tượng xem. Luật dạy người xưa. Luật ở đây là ai ? Thật đơn giản, đó chính là Thiên Chúa của Cựu Ước, Đấng đã ban Lề Luật. Vì thế mà đối với người Do-thái, không ai có thể vượt hơn Lề Luật, hơn được Lời Thiên Chúa đã trao ban một lần cho đến muôn đời được.

Vậy mà, có một người đã dám vượt trên Lề Luật, bạn hãy lần lượt xét kỹ từng giới răn rồi sẽ thấy, quả thật, khi đã biết Đức Giê-su là ai rồi, người ta sẽ thấy các giới răn thiêng liêng này thật tương đối so với một điều cao cả hơn nhiều là nhận ra Tình Yêu được biểu tỏ nơi Đức Giê-su, Con Chúa Cha.

Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.” Có lẽ các bạn đã biết đây là một trong ba luận cứ mà thần học đã rút ra từ Tin Mừng, coi như để mặc khải thiên tính của Đức Giê-su (một Đức Giê-su, may thay, không bao giờ tự xưng : Ta là Thiên Chúa, nhưng “Anh em bảo Thầy là ai ?”). Các bạn cũng biết hai luận cứ kia là gì rồi. Thứ nhất đó là việc gọi Thiên Chúa là Cha, người Cha (Áp-ba) thân thương thật sự. Sau đó là lời yêu sách quá quắt : “Mọi tội con đã được tha”, chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi.

Bạn thấy Lề Luật được kiện toàn này đưa ta đến đâu. Vào những lúc nghi nan, hay những giây phút mỏi mòn vì phải trung thành với Lề Luật, bạn hãy nhớ đến sự can đảm ấy của Đức Giê-su : “Luật dạy người xưa rằng, còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết.”