Chúa Nhật Chúa Hiển Linh, Năm A (04.01.2026) – Ngôi Sao Dẫn Đường (Mt 2,1-12)

“Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại” (Mt 2.9)
Bài đọc 1: Is 60,1-6

Vinh quang của Đức Chúa chiếu toả trên ngươi.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi,
vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa
như bình minh chiếu toả trên ngươi.
2Kìa bóng tối bao trùm mặt đất,
và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
3Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi,
vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
4Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi :
con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
5Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ,
lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
6Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha :
tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương,
và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.

Đáp ca: Tv 71,1-2.7-8.10-11.12-13 (Đ. x. c.11)

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

1Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,2để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

7Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.8Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

10Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.11Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

12Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,13chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.

Đ.Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6

Nay mầu nhiệm được mặc khải là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

2 Thưa anh em, hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. 3a Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô. 5 Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. 6 Mầu nhiệm đó là : trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.

Tung hô Tin Mừng:Mt 2,2

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng:Mt 2,1-12

Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2 và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” 3 Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. 4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 5 Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng : 6 Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”

7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” 9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và một dược mà dâng tiến. 12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————

Suy niệm 1: TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

 

Vì Do Thái giáo từ nguyên thủy là một tôn giáo của một bộ tộc du mục, nên quan niệm về ơn cứu độ chỉ đóng khung trong bộ tộc đó. Theo não trạng của người Do Thái, ơn cứu độ chỉ dành cho dân Ít-ra-en là dân được Thiên Chúa tuyển lựa. Tuy vậy, dựa vào lời Đức Chúa hứa với Áp-ra-ham, dân Do Thái cũng tin rằng muôn dân sẽ được thừa hưởng phúc lành nhờ họ (St 12,3). Có những người theo trường phái cực đoan, chủ trương rằng chỉ người Do Thái mới có thể được cứu rỗi. Quan niệm này tạo nên một lối suy nghĩ chủ quan, dẫn đến kiêu ngạo. Đức Giê-su đến trần gian để điều chỉnh lại quan niệm lệch lạc này. Người tỏ cho con người thấy gương mặt dịu hiền nhân từ của Chúa Cha. Thánh Gio-an đã viết: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả, nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết”. Qua lời giáo huấn của Chúa Giê-su, con người nhận ra Thiên Chúa là Cha chung của cả gia đình nhân loại.

Ki-tô hữu chúng ta vốn là dân ngoại, nhưng nhờ bí tích Thanh tẩy, chúng ta được tháp nhập vào dân riêng của Thiên Chúa. Chúng ta được gọi là con Thiên Chúa nhờ việc đón nhận Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể (x. Ga1.12-13). Thánh Phao-lô viết: “Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại thành một; Người đã hy sinh thân mình phá đổ ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,13-14). Quả vậy, từ nguồn gốc dân ngoại, Bí tích Thánh tẩy đã làm cho chúng ta được tháp nhậm vào dân Ít-ra-en mới, là dòng dõi Áp-ra-ham trong đức tin.

Thánh Mát-thêu thuật lại sự kiện ba nhà đạo sĩ đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su mới sinh tại Bê-lem. Các ông đại diện cho phương Đông, là thế giới mà người Do Thái thường gọi là “dân ngoại”. Ngôi sao lạ đã hướng dẫn các ông thờ lạy vị Vua mới sinh. Điều kỳ lạ là, các ông lên đường với mục đích chiêm ngưỡng một vị vua, và chắc các ông mường tượng vị vua đó sẽ ngự trên ngai vàng điện ngọc lộng lẫy. Nhưng không phải vậy. Khi đến Bê-lem, các ông chỉ thấy một trẻ thơ mới sinh trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Sự nghèo khó bề ngoài không làm các ông nản lòng. Các ông vui mừng dâng lên Hài Nhi của lễ đặc trưng cho các dân tộc phương Đông, đó là vàng, nhũ hương và mộc dược. Các của lễ này, theo cách cắt nghĩa của truyền thống, mang tính biểu tượng phong phú: vàng thường được dâng cho vua chúa; trầm hương được dâng kính các thần linh; và mộc dược thường dùng để tẩm liệm xác người đã chết và chữa lành những đau đớn. Như vậy, các lễ vật ba nhà đạo sĩ mang đến dâng Chúa mang ngôn ngữ biểu tượng đặc biệt.

Qua ba nhà đạo sĩ, muôn dân đã được thấy Ánh Sáng. Ơn Cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô không chỉ dành riêng cho dân tộc Do Thái mà cho tất cả những ai thành tâm thiện chí. Lời tuyên bố của Đức Chúa trong sách Ngôn sứ I-sai-a: “Này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49,6) đã được thực hiện nơi Đức Giê-su. Trong Tin Mừng thánh Gio-an, Đức Giê-su khẳng định: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8,12). Ki-tô hữu là người bước đi trong ánh sáng của Đức Ki-tô. Ki-tô hữu cũng được mời gọi cố gắng nỗ lực mỗi ngày để trở nên ánh sáng, nhờ tiếp nhận ánh sáng thánh thiện từ Đức Giê-su. “Chính anh em là áng sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được….Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,14-16).

Trong Phúc Âm, chúng ta thấy một số người ngoại, tức không phải Do Thái lại được diễn tả với cái nhìn rất tích cực. Đó là người phụ nữ Phê-ni-xi đến xin Chúa chữa con mình khỏi quỷ ám (x. Mt 15,21-28; Mc 7,24-30). Đó là viên sĩ quan hoàng gia ở Ca-phác-na-um xin Chúa chữa bệnh cho con trai đau nặng sắp chết (x. Ga 4,46-54). Đó còn là viên bách quan đội trưởng, khi chứng kiến Chúa Giê-su tắt thở trên thập giá, đã thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Cũng có thể nhắc đến người Sa-ma-ri-a nhân hậu trong dụ ngôn Chúa nói trong Tin Mừng thánh Lu-ca (x.Lc 10,29-37); người cùi được chữa lành trở lại cám ơn Chúa (Lc 17,11-19)… Qua những nhân vật này, Chúa nói với chúng ta: người ngoại cũng có một trái tim, có lòng trắc ẩn và họ cũng cần được cứu rỗi, trong khi những ai cậy mình là dân được tuyển chọn phải cẩn thận xem lại mình.

Hành trình đức tin của Ki-tô hữu cũng là hành trình vươn mình về phía ánh sáng. Cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm; giữa cái thiện và cái ác luôn là cuộc chiến cam go và ác liệt. Trong hành trình tìm kiếm vị vua mới sinh, các nhà đạo sĩ đã có lúc không còn thấy ngôi sao chỉ đường nữa, nhưng các ông không nản. Các ông đã tìm đến Giê-ru-sa-lem, là nơi các ông có thể tìm thấy sự hướng dẫn và quả đúng như vậy. Cuộc tìm kiếm của các ông còn gặp nguy hiểm đến từ vua Hê-rô-đê, người lo sợ bị mất ngai vàng. Thiên Chúa luôn nâng đỡ những ai tìm kiếm Ngài. Giấc mơ và lời sứ thần mà các ông nghe thấy, chính là sự nâng đỡ và soi sáng của Thiên Chúa. Như các nhà đạo sĩ, chúng ta cần lắng nghe lời chỉ dẫn của Chúa, để biết đâu là con đường phải đi và đâu là những việc phải làm.

“Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi!”. Đó là lời hiệu triệu được gửi tới những ai tin vào Chúa. Hãy đứng thẳng, tức là hãy sống trung thực, xứng đáng là con của Chúa. Hãy đứng thẳng, đó cũng là trạng thái an bình thanh thản của một người luôn phó thác vào quyền năng và tình yêu thương của Đấng đã chết để cứu độ nhân loại.

Lễ Hiển Linh năm nay là ngày kết thúc Năm Thánh Hy Vọng cấp Giáo Hội hoàn vũ. Tại Rô-ma, Đức Thánh Cha sẽ dâng lễ bế mạc Năm Thánh. Năm Thánh khép lại, nhưng là khởi đầu của cuộc lên đường mới. Như các nhà đạo sĩ “đi lối khác mà về”, chúng ta hãy lên đường để loan báo Đức Ki-tô là Niềm Hy Vọng cho thế giới hôm nay.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)

—————————

 

Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

 

 

HÃY ĐẾN BÁI LẠY NGƯỜI

 

Ngôi Lời làm người luôn luôn là một mầu nhiệm đối với nhà thần học cũng như đối với giới bình dân. Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người có tên gọi là Đức Giêsu, Người là một thực tại khó hiểu, là mầu nhiệm, mầu nhiệm “Giêsu” không khác với mầu nhiệm Thiên Chúa.  Đức Giêsu là sự xuất hiện ra bên ngoài của Thiên Chúa mà Thiên Chúa thì không ai thấy bao giờ, người ta thấy việc Đức Giêsu làm và nghe lời Đức Giêsu nói, từ đó hiểu về Thiên Chúa.  “Hiển linh” có nghĩa Thiên Chúa tỏ mình ra. 

Thiên Chúa tỏ mình ra trong Đức Giêsu qua mầu nhiệm nhập thể, chính nơi bản thân Đức Giêsu, Thiên Chúa bộc lộ chính mình qua những việc Đức Giêsu  làm và các lời Người giảng dạy, như vậy tất cả con người của Đức Giêsu là trọn vẹn mặc khải và trình bày về Thiên Chúa.  Nhân loại biết được gì về Thiên Chúa là nhờ mặc khải của Đức Giêsu, lý trí nhân loại có thể suy luận đạt đến một đấng sáng tạo ra vũ trũ vạn vật, nhưng đấng đó là gì, công việc sinh hoạt ra sao thì con người hoàn toàn vô minh.  Tất cả phải nhờ Trung gian duy nhất là Đức Giêsu.

Đức Giêsu là nhân vật trung tâm của lịch sử Do thái được các tiên tri loan báo dưới nhiều danh hiệu có sứ mệnh khác nhau: đấng cứu tinh dân tộc, nhà giải phóng, người chăn chiên tốt lành, vị ngôn sứ cao cả, hoàng tử hòa bình … Tuy nhiên Người có gốc gác là dân Do thái, sinh ra từ chi họ Giuđa, thuộc dòng tộc vua Đavít.  Điều gây vấp phạm cho đức tin Kitô giáo, đó là Thiên Chúa xuống thế làm người, đến ở giữa chúng ta qua con đường trần gian. 

Đức Giêsu thật sự là mầu nhiệm khó hiểu, vì bản thân của Người mang hai bản thể, bản thể Thiên Chúa và bản thể nhân loại.  Người không phải là nhân vật thần thoại gồm một nửa là ‘thần’, nửa kia là ‘nhân’ mà trong các huyền thoại giả tưởng nói đến như con vật “đầu người mình sư tử” hay “đầu người mình ngựa”.  Đức Giêsu trọn vẹn là Thiên Chúa và trọn vẹn là con người.  Đó là điều khó chấp nhận đối với nhân loại đương thời cũng như đối với cả chúng ta hôm nay, bởi vì không có hữu thể nào trên trần gian nầy mang hai bản thể cả.  Nhân loại không có kinh nghiệm về điều nầy.  Đây là biến cố độc nhất vô nhị xảy ra nơi trần gian.  Cái khó khăn nằm ở chỗ đó, một hữu thể mang hai bản thể khác nhau.

Việc Đức Giêsu hiển linh được thể hiện nhiều lần chứ không phải chỉ một lần mà thôi, điển hình hôm nay hiển linh được thực hiện trong ba sự kiện: trong tiệc cưới Cana, trong lời giới thiệu của Chúa Cha khi Đức Giêsu vừa nhận phép rửa tại sông Giođan, và trong việc “Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa” (Lời nguyện nhập lễ Hiển Linh).  Nghĩa là chính Thiên Chúa bày tỏ mình ra cho dân ngoại, điều đó cho hiểu rằng ơn cứu chuộc không dành cho riêng ai, chính Thiên Chúa đi bước trước mở lối cho con người tìm về với Thiên Chúa, để tất cả những ai chấp nhận Đức Giêsu là Chúa đều được ở : “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Bài đọc 2. Ep 3, 6).

Thiên Chúa mời gọi con người đến gặp Người ở mọi thời, bằng những ‘hiển linh’ khác nhau, tuy nhiên muốn gặp Người trước hết cần phải lên đường, tức là từ bỏ sự yên thân, chấp nhận cuộc sống bị xáo trộn.  Đây là cách hành xử của các đạo sĩ Phương Đông đi tìm kiếm Thiên Chúa: Dựa vào lời Kinh thánh cùng với sự chỉ dẫn của bậc cao minh, nhìn trời theo dấu sao lạ, họ đã lên đường truy tìm ấu Chúa để bái lạy “Đức Vua Do thái”.   Con người có khả năng tìm gặp Thiên Chúa nhờ dựa vào Kinh thánh – lời người có kinh nghiệm dẫn dắt – đọc dấu thời đại – và nổ lực tìm kiếm của cá nhân,

Từ chân trời góc biển các đạo sĩ vất vả lên đường tìm đến hang Bêlem, đối lại, người ở thành Giêrusalem như Hêrôđê lại bối rối âm mưu đen tối tính kế thanh toán ấu Chúa mới chào đời.  Khi tới hang Bêlem, các đạo sĩ đã phủ phục thờ lạy Hài Nhi Giêsu nơi hang lừa máng cỏ, rồi dâng lên Người vàng, nhủ hương và mộc dược những lễ phẩm quý giá của Phương Đông (x. Mt 2, 10.11) để tỏ lòng kính trọng, thần phục suy tôn; ngược lại vua Hêrôđê cũng tìm kiếm ấu Chúa nhưng với ý đồ sát hại chứ không phải để thờ lạy. 

Kinh thánh vẫn còn đó, ánh sao lạ vẫn chưa tắt nơi tâm hồn mỗi người chúng ta, khi chúng ta lắng nghe sự thật, cố sống theo lương tâm ngay thẳng, chính lúc đó chúng ta đã lên đường tìm về sự thật và đến gần với Chân Lý.  Ánh sáng sao lạ đó không bao giờ thiếu cho từng người trong chúng ta, có điều là chúng ta đủ can đảm hay không trở thành đạo sĩ truy tìm chân lý hay bóp nghẹt sự thật như Hêrôđê.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, con cảm tạ Chúa đã hành trình xuống trần gian bằng con đường máng cỏ để tỏ cho con biết đường về trời, xin cho con biết yêu mến sự thật và có can đảm trở nên ánh sao lạ dẫn đường người khác về với Chúa. Amen

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

______________________

 

Suy niệm 3: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

 

 

CHÚA HIỂN LINH

 

Được sao lạ dẫn đường, mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến thờ lạy Hài nhi Giê-su.  Đó là công thức cổ truyền trong Tin Mừng nói về lễ Hiển Linh (x. Bài Tin Mừng. Mt 2, 1-12).  Thật ra khó để nắm bắt tình huống lịch sử về trình thuật Ba Vua đến thờ lạy Chúa, bởi lẽ chúng ta không diện kiến với một bài tường thuật tại chỗ do một phóng viên ghi lại chi tiết, nhưng chúng ta đứng trước niềm tin của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi.  Nhưng không phải vì vậy mà ngày lễ Chúa Hiển linh không mang lại lợi ích thiêng liêng quan trọng.  Phải vượt qua trình thuật về giai thoại lễ Ba Vua để đạt đến trình thuật đức tin mà tác giả muốn trình bày đó là sự bộc lộ mình ra cho dân ngoại, hiển linh có nghĩa Chúa tỏ mình.

Hiển linh là một mầu nhiệm, không phải là điều gì đó âm u khó hiểu, nhưng Hiển linh tích lũy phong phú ý nghĩa, sự sống và ánh sáng mà người ta không thể nào gói ghém hết nội dung trong một hạn từ, hay một định nghĩa được.  Hiển linh thuộc trật tự sống động bao hàm cả chúng ta nữa.  Trình thuật tin mừng Mát-thêu chiếu ánh sáng vào niềm tin và niềm hy vọng của chúng ta cũng như chiếu ánh sáng vào Giáo Hội và thế giới. 

Khi so sánh lễ Hiện xuống với lễ Phục sinh, người ta thường nói lễ Hiện xuống ném lửa vào trần gian và làm bùng cháy lên.  Thì Hiển linh cũng được hiểu như thế, lễ Hiển linh chứ không phải lễ Giáng Sinh làm bùng lên ánh sáng cứu chuộc cho khắp muôn dân, thuộc mọi ngôn ngữ, mọi thời đại, mọi văn hoá.  Hiển linh mang tính cứu độ hoàn vũ cho hết mọi người.  Nếu Chúa Giáng sinh mà không hiển linh cho dân ngoại thì nào có được lợi gì cho dân ngoại, vì con người nào có biết Thiên Chúa đâu mà thờ lạy.  Thiên Chúa sinh hạ làm người chưa đủ để làm cho con người nhận biết ThiênChúa, Người còn bộc lộ mình ra, nói về chính gốc tích mình và căn cước của mình nữa.

Các nhà Chiêm tinh, trước đây được gọi là Ba Vua, thật sự họ là những nhà Tiên tri vì:  Thứ nhất là vì họ đặt mình dưới sự hướng dẫn của Ngôi sao lạ, mà không cậy dựa vào sức mạnh của quyền lực, của tri thức thiên văn, của giàu sang để đi tìm kiếm Thiên Chúa, điều nầy cho chúng ta thấy rằng sự hiểu biết Thiên Chúa thuộc về một trật tự khác, không phải là trật tự theo suy luận, hay theo khoa học trần thế. 

Thứ hai, họ dâng cho Hoàng Tử Hoà Bình những sản phẩm quê hương mình theo phong tục và tập quán, chẳng phải họ đã làm tiên tri cho cả thế giới cách thức tôn thờ Thiên Chúa  theo phong tục và tập quán của địa phương mình đó sao?  Dâng hương để nhận Người là Chúa, dâng vàng để nhận Người là vua, và dâng mộc dược để loan báo Người sẽ chết.  Vàng tượng trưng uy quyền bậc quân vương, nhũ hương nói lên chức vụ thượng tế, và mộc dược báo trước ngày Chúa chịu mai táng trong mồ.  Những cách thức tôn thờ đó ngày nay chúng ta gọi là hội nhập văn hoá, có cùng một tâm tình thờ lạy nhưng được diễn tả nhiều phương thức khác nhau theo mỗi phong tục tập quán. 

Thứ đến, Ba Vua là dân ngoại, đến với Đức Giê-su bằng con đường chiêm tinh và tôn giáo của họ, làm cho chúng ta phải trân trọng ánh sáng chân lý trong các tôn giáo bạn.  Tuy nhiên phải xác tín rằng mặc khải trọn vẹn chỉ có nơi Đức Giê-su Ki-tô, Người là chân lý trọn vẹn mà Thiên Chúa mặc khải cho nhân loại.  Tất cả mặc khải Cựu ước và Tân ước, các lời sấm của các tiên tri được thể hiện nơi Đức Ki-tô, là Ngôi Lời của Thiên Chúa.

Suy luận theo tư tưởng của Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XVI, có bao nhiêu con người là có bấy nhiêu con đường dẫn đến Thiên Chúa, tuy nhiên con đường của Thiên Chúa thì rộng rãi và bao quát mọi con đường của con người, cho nên mọi con đường nhân loại đều nằm trong con đường của Thiên Chúa (Đức Bênêđictô 16).  Và thật phù hợp với lời sấm của I-sa-i-a: “ Trên ngươi Ðức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.  Chư dân sẽ đi về ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.… Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi” (Bài đọc 1.  Is 60,1-6); và như lời Thư Ê-phê-xô: “Trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ” (Bài đọc 2. Ep 3,2-3a.5-6). 

Hiển linh, Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, trong đó có chúng ta nữa.  Tuy nhiên phải hiểu rằng, hiển linh không phải chỉ một lần, mà tất cả lời Đức Giê-su nói và việc Đức Giê-su làm đều bộc lộ thần tính của Thiên Chúa vì mọi sinh hoạt của Đức Giê-su chính là sự bộc lộ hoạt động của Thiên Chúa ra bên ngoài.  Giáo hội cô đọng biến cố hiển linh qua sự kiện Ngôi sao lạ chỉ đường cho ba Chiêm tinh gia, qua phép lạ nước hóa thành rượu ngon tại tiệc cưới Cana, qua việc hiển dung trên núi cho ba môn đệ.  Những biến cố nầy là tiêu biểu cho lễ Hiển Linh.

Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng, con xin tạ ơn Chúa vì đã mặc khải mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người, Người thật sự là Thiên Chúa không thiên vị, xin cho Tin Mừng lan truyền đến  anh chị em chưa nhận biết Thiên Chúa.

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

_______________________

 

Suy niệm 4: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

 

 

(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)

 

WGPKT(02/01/2026) KONTUM