Nước Trời Đã Đến Gần – Dưới Ánh Sáng Lời Chúa (Bài 161)
Nước Trời Đã Đến Gần – Dưới Ánh Sáng Lời Chúa (Bài 161)
Tin Mừng:
12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
18 Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19 Người bảo các ông : “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” 20 Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.
21 Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. 23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.
Dẫn nhập
Bài Tin Mừng Mát-thêu được công bố trong Chúa Nhật III Thường Niên năm A, thuật lại thời khắc khởi đầu sứ vụ công khai của Đức Giê-su. Người đã rời Na-da-rét đến Ca-phác-na-um, thuộc Ga-li-lê, “miền đất của dân ngoại” (x. Mt 4,12-16), và chính tại đây, Người bắt đầu công bố sứ điệp nền tảng của Tin Mừng bằng lời kêu gọi ngắn gọn nhưng đầy uy lực : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần !” (Mt 4,17).
Có thể nói, lời công bố này không chỉ đánh dấu khởi điểm sứ vụ rao giảng của Đức Giê-su, mà còn tóm kết toàn bộ nội dung Tin Mừng mà Người loan báo. Thật vậy, từ những lời giảng dạy, các dụ ngôn, cho đến các phép lạ và cả đời sống của Người, tất cả đều quy hướng về một thực tại trung tâm : Nước Trời. Nước Trời vừa là trọng tâm sứ điệp của Đức Giê-su, vừa là chìa khóa để hiểu trọn vẹn con người, sứ mạng và công trình cứu độ của Người.
Vì thế, việc tìm hiểu Nước Trời mà Đức Giê-su loan báo là gì, Nước Trời đã “đến gần” theo nghĩa nào, và lời kêu gọi sám hối gắn liền với Nước Trời mang ý nghĩa gì, là việc quan trọng đối với đời sống đức tin của mỗi Ki-tô hữu. Qua đó, chúng ta được mời gọi đáp trả cách cụ thể và trung thành với Nước Trời của Đức Giê-su, vẫn đang tiếp tục hiện diện giữa trần gian.
1. Nước Trời có ý nghĩa gì ?
Danh từ βασιλεία tiếng Hy-lạp có nghĩa : triều đại, vương quyền hay vương quốc.
Danh từ này xuất phát từ động từ βασιλεύω nghĩa là cai trị, trị vì, thống trị (x. Mt 2,22 ; Lc 1,33 ; Rm 6,12). Trong Tân Ước, danh từ βασιλεία, tùy theo ngữ cảnh, được dịch là vương quốc (Mt 4,8 ; Mc 6,23 ; 13,8 ; Kh 16,10), hoặc vương quyền (x. Lc 19,12.15 ; Kh 17,12), hay triều đại (x. Mt 12,28). Đặc biệt, trong Tin Mừng, danh từ βασιλεία thường đi liền với chữ “Trời” (τῶν οὐρανῶν) hay “Thiên Chúa” (τοῦ θεοῦ), làm thành cụm từ “Nước Trời” (βασιλεία τῶν οὐρανῶν) hay “Nước Thiên Chúa” (βασιλεία τοῦ θεοῦ).
Cụm từ Nước Trời xuất hiện trước tiên nơi thánh Gio-an Tẩy Giả khi người rao giảng rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời (ἡ βασιλεία τῶν οὐρανῶν)đã đến gần” (Mt 3,2). Đó cũng là lời rao giảng của chính Đức Giê-su khi Người khởi đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng (x. Mt 4,17). Tin Mừng Mát-thêu hầu hết sử dụng cụm từ “Nước Trời” (32 lần) và chỉ có bốn lần dùng từ ‘Nước Thiên Chúa’ (x. Mt 12,28 ; 19,24 ; 21,31.43). Sở dĩ thánh Mát-thêu hạn chế tối đa dùng cụm từ “Nước Thiên Chúa” là để tránh gọi tên Thiên Chúa vì sự úy kính danh thánh của Thiên Chúa theo truyền thống Do-thái giáo. Vậy Nước Trời hay Nước Thiên Chúa cùng một ý nghĩa, và mỗi tác giả Tin Mừng đã lựa chọn sử dụng với lý do như vừa giải thích. Các Tin Mừng khác, các tác giả chỉ dùng cụm từ “Nước Thiên Chúa” mà thôi (x. Mc 14 lần ; Lc 32 lần ; Ga 2 lần).
Người Do-thái quan niệm Trời là nơi Thiên Chúa ngự trị (x. Is 63,15 ; Tv 102,20) và chính Đức Giê-su cũng xác định điều này khi nói về Chúa Cha : “Cha anh em, Đấng ngự trên trời” hoặc “Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16.48 ; 6,9 ; 12,50 ; 18,19). Trời không chỉ là nơi Thiên Chúa ngự trị mà Trời còn là chính Thiên Chúa, như ông Giu-đa Ma-ca-bê trong cuộc kháng chiến chống quân Hy-lạp, đã kêu gọi dân chúng : “Chúng ta hãy kêu lên Trời, xin Người thương đến chúng ta”, và ông tin rằng Trời sẽ ban sức mạnh để chiến thắng quân thù (x. 1 Mcb 3,18-19 ; 2 Mcb 9,20). Trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, anh con trai hoang đàng đã xưng thú với người cha rằng : “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha”, thì cũng có nghĩa là đắc tội với Thiên Chúa (x. Lc 15,21). Như vậy, Trời ở đây không có nghĩa là Nước này thuộc về thiên giới, nhưng có nghĩa là Đấng đang ngự trên Trời (x. Mt 5,48 ; 6,9 ; 7,21), và đang trị vì cả thế giới cùng muôn loài muôn vật.
Vì trung thành với truyền thống Cựu Ước, thánh Mát-thêu muốn nhấn mạnh rằng Thiên Chúa là Vua trên các dân nước, thống trị chư dân trên toàn cõi đất (x. Tv 47,6-9 ; 93,1 ; Is 43,14-15 ; 44,6), và vương quyền luôn thuộc về một mình Thiên Chúa : “Bởi vì Chúa nắm quyền vương đế, Người thống trị chư dân” (Tv 22,29 ; x. Tv 103,19 ; 145,11-13). Vì thế, đây chính là sứ điệp then chốt trong lời rao giảng của Đức Giê-su khi Người loan báo rằng “Nước” này (hay “Triều đại” này) đã đến gần ; đồng thời chính Người thực hiện vương quyền ấy trong tư cách là Con Người : “Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và đến trên mây trời” (Mt 26,64 ; x. 28,18 ; Đn 7,13-14). Trong các sách Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca, có những chỗ Đức Giê-su công bố Nước Thiên Chúa như một thực tại thuộc về tương lai (x. Mc 14,25 ; Lc 11,2…), nhưng cũng có những chỗ Người khẳng định đó là một thực tại đang hiện diện trong sứ vụ và nơi chính bản thân Người (x. Lc 7,18-23 ; 10,23tt…).
2. Nước Trời và niềm hy vọng của dân Do-thái thời Đức Giê-su
Trong Cựu Ước, kiểu nói Nước Thiên Chúa diễn tả niềm tin của dân Do-thái rằng Thiên Chúa là Vua trên toàn cõi đất và thống trị mọi dân (x. Tv 47,6-9 ; 93,1 ; Is 43,14-15 ; 44,6). Nói cách khác, vương quyền của Thiên Chúa không chỉ giới hạn nơi dân riêng của Người, nhưng còn bao trùm mọi dân nước trên khắp địa cầu (x. Is 6,1-3 ; 43,15 ; đặc biệt các Tv 47 ; 93 ; 96-99).
Từ đó về sau, Do-thái giáo đã hình thành những cách nói mang tính trừu tượng như vương quyền, Nước Thiên Chúa hoặc Nước Trời – những kiểu nói tương đương – nhằm tránh việc trực tiếp phạm đến Danh Thánh của Thiên Chúa. Tuy nhiên, sau thời lưu đày, vương quyền của Thiên Chúa dường như không còn được thể hiện cách hữu hình trong lịch sử, khiến dân Do-thái nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng chính Thiên Chúa sẽ lại tỏ bày vương quyền của Người cách rạng rỡ tại Xi-on, và mở rộng quyền thống trị ấy trên toàn cõi địa cầu (x. Is 24,23 ; 52,7 ; Gr 3,17 ; 8,19 ; Ed 20,33 ; Mk 2,13 ; 4,7 ; Xp 3,15 ; Dcr 14,9…). Trong niềm hy vọng đó, dân Do-thái trông đợi thời điểm Thiên Chúa thiết lập vương quyền của Người.
Vì thế, đối với người Do-thái thời Đức Giê-su, Nước Trời hay Nước Thiên Chúa chính là cốt lõi của niềm hy vọng, bởi chỉ khi “Nước” ấy đến, họ mới có thể có được một xã hội công bình và một nền hòa bình đích thật cho dân chúng. Theo quan niệm Cựu Ước, sự công bình của nhà vua không hệ tại trước tiên trong các phán quyết vô tư theo nghĩa pháp lý, nhưng ở việc trợ giúp và che chở những người nghèo hèn, bị áp bức và cùng khổ (x. Tv 72,1-2.12-14).
Nước Trời đến sẽ đem lại sự giải thoát khỏi những cơ cấu bất công, và thiết lập sự công chính của Thiên Chúa trong thế giới này. Đó chính là niềm hy vọng cứu độ của Ít-ra-en. Trong bối cảnh ấy, người ta ý thức rằng cần có một khởi điểm hoàn toàn mới để thế giới này có thể được cứu. Yếu tố mới mẻ đó không thể phát xuất từ những gì đang hiện hữu, nhưng chỉ có thể đến từ Thiên Chúa và do chính Thiên Chúa ban tặng. Đó là niềm trông đợi cứu độ vào Nước Thiên Chúa, vì “Nước” ấy đem lại sự giải thoát khỏi các thế lực sự dữ, và thiết lập sự hòa giải giữa những thực tại đang chống đối nhau trong thế giới này.
3. Nước Trời mang tính cánh chung
Dân Do-thái ý thức rằng Thiên Chúa của họ không chỉ là Vua của mình mà còn là Vua của mọi dân tộc. Họ tin rằng từ bốn phương trời, mọi dân tộc sẽ quy tụ quanh Thiên Chúa của Áp-ra-ham (x. Tv 47,6-9). Vì thế, Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa) không phải là một vùng đất hay một vương quốc theo nghĩa trần thế, nhưng là “chủ quyền của Thiên Chúa” trên khắp hoàn vũ và trên toàn bộ lịch sử nhân loại.
Do đó, khi nào Thiên Chúa thiết lập trọn vẹn vương quyền ấy trên mọi dân tộc, thì dân Do-thái sẽ có hòa bình và an cư đích thực. Tuy nhiên, theo dòng lịch sử, dân Do-thái đã phải trải qua những kinh nghiệm đau thương, đầy căng thẳng giữa niềm hy vọng và thực tế. Họ bị các dân tộc hùng mạnh hơn đô hộ, bị bắt đi lưu đày và rơi vào cảnh nô lệ. Hệ quả là niềm hy vọng của họ dần dần được quy chiếu về “ngày cánh chung”, nghĩa là Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa) sẽ xuất hiện trong tương lai, vào thời sau hết, như một thế giới mới, một thực tại siêu việt, không thuộc trần thế này. Điều đó được thể hiện rõ nơi các ngôn sứ, cách riêng nơi ngôn sứ Đa-ni-en. Ngôn sứ đã thấy bốn đế quốc nối tiếp nhau, rồi bị lật đổ trong chốc lát, không do tay phàm nhân nào (x. Đn 2,31-45). Sau đó, Thiên Chúa sẽ cho trỗi dậy một vương quốc trường tồn, không bao giờ bị hủy diệt và cũng không bao giờ chuyển giao cho một dân tộc nào khác. Như vậy, nòng cốt của niềm hy vọng nơi dân Do-thái là xác tín rằng, cuối cùng, Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra như Vua của toàn thể vũ trụ.
Vì thế, khi Đức Giê-su đến rao giảng về Nước Trời, Người công bố : “Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17). Sứ điệp này đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong niềm hy vọng của Ít-ra-en : niềm hy vọng cánh chung không còn bị đẩy về một tương lai xa, nhưng đang được thực hiện ngay trong hiện tại. Lời kêu gọi “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17 ; x. Mc 1,15) cho thấy thời kỳ chờ đợi đã chấm dứt.
Động từ “đã đến gần” dịch bởi động từ Hy-lạp ἤγγικεν, ở thì hoàn thành (perfect) của động từ ἐγγίζω, diễn tả một thực tại đã bắt đầu và đang tiếp diễn. Thời đại mà bao thế hệ mong đợi nay đã hiện diện. Các môn đệ được chúc phúc vì là những chứng nhân của thời đại ấy : “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy…” (Lc 10,23-24). Điều này được Đức Giê-su long trọng xác nhận trong bài giảng tại Na-da-rét. Sau khi đọc sách ngôn sứ I-sai-a, Người tuyên bố : “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe” (Lc 4,21). Những lời các ngôn sứ loan báo nay trở thành hiện thực như lời Đức Giê-su nói với các môn đệ thánh Gio-an Tẩy Giả : “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe : Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,5).
Tất cả đang xảy ra ngay bây giờ, trong chính lời nói và hành động của Đức Giê-su. Chính vì thế Người kết luận : “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,6). Có thể đã có những người vấp ngã vì Đức Giê-su : một vị ráp-bi vô danh, bình thường, với một nhóm môn đệ phần lớn là dân chài, ít học, lại được bao quanh bởi một đám đông nghèo hèn kể cả những kẻ bị coi là tội lỗi như thu thuế và gái điếm. Phải chăng đó lại chính là thời đại mới, là Nước Trời – Nước Thiên Chúa sao ?! Thậm chí, ngay cả những người bà con của Đức Giê-su cũng cho rằng Người bị “mất trí” khi rao giảng và thực hiện Nước Trời (x. Mc 3,21). Trong hoàn cảnh ấy, Đức Giê-su đã dùng các dụ ngôn để nói về Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa). Cụ thể, Nước Thiên Chúa được ví như hạt cải : đó là hạt giống nhỏ bé nhất trong mọi thứ hạt giống, nhưng từ hạt giống ấy lại mọc lên một cây lớn (x. Mc 4,30-32). Hoặc Nước Trời cũng giống như một nhúm men có khả năng làm dậy cả ba đấu bột (x. Mt 13,33).
Như vậy, các dụ ngôn này phải chăng muốn nhấn mạnh đến chiều kích cánh chung của thực tại Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa) ? Lời rao giảng về Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa) cần được hiểu cách triệt để theo hướng cánh chung : đó là lời loan báo về thời điểm tận cùng đang cận kề, về sự xuất hiện của thế giới mới của Thiên Chúa, tức là vương quyền của Người (x. dụ ngôn người gieo giống : Mc 4,3-9 ; dụ ngôn hạt cải : Mc 4,30-32 ; dụ ngôn nắm men : Mt 13,33 ; Lc 13,20-21). Và chính trong ý nghĩa này, Nước ấy vừa đã đến, nhưng vẫn chưa đến cách trọn vẹn. Cho nên phải chờ đến thời đại cánh chung thì Nước Trời (hay Nước Thiên Chúa) mới được hoàn tất, khi trời mới và đất mới xuất hiện.
Kết luận
“Nước Trời đã đến gần” chính là sứ điệp trung tâm mà Đức Giê-su mang đến cho nhân loại. Nước Trời được biểu hiện nơi chính Đức Giê-su : Người không chỉ rao giảng về Nước Trời, mà chính Người là Nước Trời đã đến như khi trả lời cho những người Pha-ri-sêu : “Triều đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,21).
Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giê-su dạy các môn đệ cầu xin cho “Nước Cha trị đến” hay “Triều đại Cha mau đến” (Mt 6,10). Thánh Síp-ri-a-nô giải thích lời cầu xin này rằng : “Chính Đức Ki-tô là triều đại của Thiên Chúa. Ngày ngày chúng ta cầu mong cho triều đại ấy mau đến ; chúng ta ước muốn cho triều đại ấy sớm trở thành hiện thực. Quả vậy, nếu chính Người là sự phục sinh, vì trong Người chúng ta được sống lại, thì cũng có thể hiểu rằng chính Người là Nước Thiên Chúa” (Thánh Sýp-ri-a-nô, Khảo luận về Kinh Lạy Cha).