Các Tông Đồ đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
5 Hồi ấy, ông Phi-líp-phê xuống một thành miền Sa-ma-ri và rao giảng Đức Ki-tô cho dân cư ở đó. 6 Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Phi-líp-phê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm. 7 Thật vậy, các thần ô uế vừa kêu lớn tiếng vừa xuất khỏi nhiều người trong số những kẻ bị chúng ám. Nhiều người tê bại và tàn tật được chữa lành. 8 Trong thành, người ta rất vui mừng.
14 Các Tông Đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe biết dân miền Sa-ma-ri đã đón nhận lời Thiên Chúa, thì cử ông Phê-rô và ông Gio-an đến với họ. 15 Khi đến nơi, hai ông cầu nguyện cho họ, để họ nhận được Thánh Thần. 16 Vì Thánh Thần chưa ngự xuống một ai trong nhóm họ : họ mới chỉ chịu phép rửa nhân danh Chúa Giê-su. 17 Bấy giờ hai ông đặt tay trên họ, và họ nhận được Thánh Thần.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 65,1-3a.4-5.6-7a.16 và 20 (Đ. c.1)
Đ. Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa.
Hoặc :
Đ. Ha-lê-lui-a.
1 Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa,
2 đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh !
3a Hãy thưa cùng Thiên Chúa :
“Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài ! Đ.
4 Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ,
và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.”
5 Đến mà xem công trình của Thiên Chúa : hành động của Người đối với phàm nhân
thật đáng kinh đáng sợ ! Đ.
6 Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông ;
việc Người làm đó khiến ta hoan hỷ.
7a Chúa uy dũng hiển trị muôn đời. Đ.
16 Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời,
đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.
20 Xin chúc tụng Thiên Chúa
đã chẳng bác lời thỉnh nguyện tôi dâng,
lại cũng không dứt nghĩa đoạn tình. Đ.
Bài đọc 2 : 1 Pr 3,15-18
Thân xác Đức Ki-tô đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
15 Anh em thân mến, Đức Ki-tô là Đấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. 16 Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống, 17 bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác.
18 Chính Đức Ki-tô đã chịu chết một lần vì tội lỗi –Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương– hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Ga 14,23
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy.” Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng Ga : 14,15-21
Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. 16 Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. 17 Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em. 18 Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. 19 Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. 20 Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. 21 Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Cv 8,5-8.14-17
Qua bài đọc 1 Chúa nhật tuần trước, chúng ta biết có một rắc rối trong cộng đoàn non trẻ tại Giê-ru-sa-lem và các Tông Đồ đã quyết định thành lập một tổ chức mới để phục vụ cộng đoàn : đó là nhóm bảy Phó tế để lo về vật chất trong khi các Tông Đồ chỉ chăm lo rao giảng lời Chúa.
Trong số những người Do-thái, một số người gốc Pa-lét-tin, cách riêng là Giê-ru-sa-lem, họ nói tiếng Do-thái trong hội đường và tiếng A-ram ngoài đường phố. Ta gọi họ là “người Do-thái”, trong khi những người khác gốc các nước trong đế quốc Rô-ma ; họ nói tiếng Hy-lạp và ta gọi họ là “những người theo văn hoá Hy-lạp”.
Để cử hành ngày sa-bát, sáng thứ Bảy, tất cả mọi người Do-thái, dù là Ki-tô hữu hay không, đều đi đến các hội đường nói tiếng của họ : bên này là người Do-thái, còn bên kia là những người theo văn hoá Hy-lạp. Nhưng để cử hành Phụng vụ Ki-tô giáo, những người Do-thái đã trở nên Ki-tô hữu tập trung tại các nhà riêng của họ, cả người Do-thái và những người theo văn hoá Hy-lạp.
Chính trong khung cảnh các buổi cử hành Phụng vụ Ki-tô giáo, cuộc cãi cọ đầu tiên đã nổ ra giữa hai nhóm Ki-tô hữu, về vấn đề trợ giúp các bà goá : các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những người Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. Như tôi đã nói lúc nãy, để giải quyết vấn đề trục trặc trong cộng đoàn, các Tông Đồ đã thành lập nhóm Phó tế, gồm bảy người do dân bình chọn, trong số đó có hai ông Tê-pha-nô và Phi-líp-phê. Cả hai ông đều là người Do-thái, trở nên Ki-tô hữu ít lâu trước đó, theo văn hoá Hy-lạp, hăng say, nhiệt thành, có ảnh hưởng lớn trong cộng đoàn. Các ông cố gắng đem trở lại cùng Chúa Ki-tô những người Do-thái thường đến các hội đường nói tiếng Hy-lạp ; chính tại đó lại xảy ra một cuộc cãi cọ nữa, nhưng không phải là cuộc cãi cọ giữa những người Ki-tô hữu có nguồn gốc khác nhau ; nhưng đó là cuộc bách hại đầu tiên : những người Do-thái từ chối, không tin vào Đức Giê-su, tấn công những người anh em Do-thái của mình đã trở nên Ki-tô hữu. Phó tế Tê-pha-nô phải trả giá bằng mạng sống của mình. Ngài bị những người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp tố cáo với các nhà cầm quyền ở Giê-ru-sa-lem. Vì thế, ngài bị bắt và bị ném đá đến chết.
Cuộc tử đạo của thánh Tê-pha-nô không làm dịu đi cơn giận dữ của những kẻ đối lập ; trái lại họ nhắm các Ki-tô hữu khác thuộc nhóm của thánh Tê-pha-nô ; tuy nhiên cuộc bách hại này không nhắm đến các Tông Đồ Đức Giê-su đã chọn, các ông Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê và những người khác thuộc nhóm Do-thái bản xứ, cuộc bách hại chỉ nhắm đến những người theo văn hoá Hy-lạp. Do đó các Tông Đồ được bình an và vẫn ở tại Giê-ru-sa-lem để rao giảng về Đức Giê-su cho mọi người. Trái lại, do thận trọng, nhóm các Ki-tô hữu theo văn hoá Hy-lạp chạy tản mác khắp nơi, đi đến đâu họ cũng rao giảng về Đức Giê-su Na-da-rét.
Vì thế, ta có thể nói, nhờ cuộc bách hại này mà Tin Mừng vượt ra khỏi Giê-ru-sa-lem và lan toả đến các thành phố khác của miền Giu-đê và Sa-ma-ri. Sau này, người ta nhớ lại lời nói của Chúa Giê-su vào ngày lễ Thăng Thiên : “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Chúng ta thấy rõ sự nghịch lý trong sự việc đang xảy ra : cuộc bách hại và sự phân tán cộng đoàn tín hữu Giê-ru-sa-lem lại khiến Tin Mừng được rao giảng ở nhiều nơi khác.
Trước hết, tại Sa-ma-ri : Ta nhớ lại Đức Giê-su đã hoán cải người phụ nữ Sa-ma-ri và những người đồng hương của chị tại Si-khem (Ga 4), nhưng hình như Đức Giê-su không trở lại miền đó. Công cuộc rao giảng Tin Mừng ở Sa-ma-ri đạt được kết quả tốt đẹp được xem như là hoa trái đầu mùa của cuộc bách hại nhờ cái chết của thánh Tê-pha-nô.
Điều khiến chúng ta ngạc nhiên là khi đến Sa-ma-ri, thay vì ẩn náu, ông Phi-líp-phê lại công khai rao giảng Đức Ki-tô Phục Sinh, sứ vụ trước kia ông không đảm trách, vì trước đó cùng với các phó tế khác, ông lo về vật chất cho cộng đoàn, cách riêng cho các bà goá, để các Tông Đồ chỉ lo cầu nguyện và phục vụ lời của Thiên Chúa. Đồng thời ông cũng giữ liên hệ với những người đã sai ông đi ; vì cộng đoàn Giê-ru-sa-lem đã cử hai ông Phê-rô và Gio-an đến Sa-ma-ri để chứng kiến việc ông Phi-líp-phê đã làm tại đây.
Chúng ta đã biết cư dân Giê-su-ra-lem khinh dể những người Sa-ma-ri và xem họ là những người lạc giáo, và từ nhiều thế kỷ qua, giữa người Giu-đê và Sa-ma-ri đều không có những mối liên hệ thân thiện. Nhưng ông Phi-líp-phê không hề bận tâm về tình trạng này : ông, một người Do-thái xa xứ, đã giúp cho Tin Mừng vượt ra khỏi hội đường Do-thái, và thánh Lu-ca nhấn mạnh đến niềm vui của người Sa-ma-ri khi đón nhận Tin Mừng cứu độ. Thánh Lu-ca kể lại việc rao giảng của ông Phi-líp-phê, ông rao giảng về Đức Ki-tô, nghĩa là ông công bố Đức Giê-su đã phục sinh, và Người chính là Đấng Mê-si-a mà mọi người trông đợi. Trong toàn bộ Tân Ước, ta thấy rằng việc làm chứng cho Đức Ki-tô Phục Sinh là trọng tâm lời rao giảng của các Tông Đồ. Chúng ta cũng vậy, thưa anh chị em.
2. Đáp ca : Tv 65
Thánh vịnh đáp ca là những câu trích của thánh vịnh 65. Nhưng toàn bộ hành trình dài đằng đẵng của người tín hữu được nhắc đến ở đây, tập trung trong ba giai đoạn : Giai đoạn thứ nhất nhắc đến cuộc Xuất hành : “Chúa làm cho biển khơi hoá đất liền, và dân Người đi bộ qua sông” ; rồi đi vào Đất Hứa dưới sự dẫn dắt của ông Giô-suê, và dân Ít-ra-en qua sông mà vẫn khô chân vì Đức Chúa đã làm phép lạ cho dòng sông trở nên khô cạn để dân qua sông an toàn. Khi đọc kỹ các thánh vịnh, ta rất ngạc nhiên khi thấy thường hay nhắc tới biến cố Xuất hành là nền tảng cho niềm tin và niềm hy vọng của dân Ít-ra-en.
Giai đoạn thứ hai đề cập đến thời kỳ tác giả Thánh vịnh sáng tác bài ca của mình : Ông mời tất cả những người đồng hương của mình cầu nguyện, ca tụng và chia sẻ kinh nghiệm đức tin : “Tất cả những ai kính sợ Chúa Trời, đến mà nghe tôi kể việc Chúa đã làm để giúp tôi.”
Giai đoạn thứ ba đề cập đến tương lai : Toàn thể trái đất được mời gọi tung hô Chúa : “Cả trái đất, hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời, nào dâng lời ca tụng tôn vinh ! Hãy thưa cùng Thiên Chúa : ‘Khủng khiếp thay, sự nghiệp của Ngài.’”
Đây không phải là lần đầu tiên ta thấy lời cầu nguyện của Ít-ra-en hướng đến toàn thể trái đất, nghĩa là toàn thể nhân loại. Dần dần dân Ít-ra-en hiểu rằng họ có trách nhiệm đối với toàn thể thế giới, và trách nhiệm này chỉ hoàn thành khi tất cả mọi dân tộc cùng nắm tay nhau bước vào nhà Chúa trong niềm vui của Người. Chúng ta đặc biệt nhớ đến những lời sấm của ngôn sứ I-sai-a về việc tập họp tất cả các dân tộc tại Giê-ru-sa-lem, chẳng hạn : “Nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân.” Đàng khác, chúng ta nghe ở đây như là một lời báo trước ngày trọng đại này, tất cả các dân tộc đều tham gia đoàn hành hương tiến về Giê-ru-sa-lem : “Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh.”
Ta có thể nói thánh vịnh 65 chúng ta vừa nghe nhắc nhở dân Ít-ra-en nhớ đến quá khứ, giúp họ vững bước trong hiện tại và mạnh dạn tiến về tương lai. Trong quá khứ, Thiên Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập ; hiện tại, Người giải thoát khỏi mọi nỗi gian truân tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Người. Còn trong tương lai, toàn thể nhân loại sẽ được Thiên Chúa giải thoát vĩnh viễn khỏi tất cả mọi sự dữ đang trói chặt họ trong hận thù, sợ hãi, chiến tranh.
3. Bài đọc 2 : 1 Pr 3,15-18
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ trong bài đọc 2 hôm nay phần nào cho ta thấy những gian nan, thử thách mà các Ki-tô hữu ở vùng Tiểu Á đang gặp phải và thánh Phê-rô đang tìm cách nâng đỡ họ ; những Ki-tô hữu ở vùng này đang bị vu khống đủ mọi điều xấu xa, đang chịu đựng những lời nhục mạ ; họ bị lôi ra trước toà án, bị khiển trách vì nếp sống mới, họ bị bách hại tại địa phương họ đang sinh sống, do những người đồng đạo Do-thái trước kia, hoặc do những đồng hương ngoại giáo của họ. Thánh Phê-rô tiếp tục khuyến khích họ. Khởi đầu ngài lấy từ bản văn của ngôn sứ I-sai-a : “Các ngươi đừng sợ hãi các kẻ thù. Chính Đức Chúa các đạo binh là Đấng các ngươi phải nhìn nhận là Thánh. Chính Người là Đấng các ngươi phải sợ, chính Người là Đấng các ngươi phải kinh hãi” (Is 8,12-13). Ngôn sứ I-sai-a ngỏ lời với Giê-ru-sa-lem đang bị đe doạ, và vua A-khát đang do dự và bối rối. Ước mong những người đang bị đe doạ đừng sợ hãi kẻ thù, nhưng chỉ lo làm đẹp lòng Chúa mà thôi.
* Sẵn sàng giải thích
Sau khi đưa ra những lời khuyến khích chung, thánh Phê-rô nói rõ hơn : “Anh em hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” Thánh Phê-rô ám chỉ đến việc phải ra trình diện trước toà án dân sự hay toà án tôn giáo, và động viên các Ki-tô hữu đang bị vu khống hãy can đảm bảo vệ đức tin và niềm hy vọng của mình cho những ai không có niềm tin.
Đây là lần đầu tiên một lời khuyên như thế được đưa ra, cho ta thấy những khó khăn các Ki-tô hữu gặp phải lúc bấy giờ. Sau này, trong những cuộc bách hại khốc liệt ở nhiều vùng trong đế quốc Rô-ma, dưới đời hoàng đế Đô-mi-ti-ô (81-96), lời khuyến khích như thế sẽ mang đậm màu sắc bi thảm. Ta trở lại với ý tưởng chủ đạo xuyên suốt bức thư này : “Phúc thay những ai bị bách hại vì sự công chính. Nhưng khốn thay cho những ai chịu đau khổ vì làm điều ác.” Rồi thánh Phê-rô lấy lại một lần nữa gương Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng vô tội bị những kẻ có tội đánh đập, nhưng sự chiến thắng Thần Chết của Người tạo nên niềm hy vọng cho chúng ta. Thánh Phê-rô, người đứng đầu Giáo Hội khích lệ các cộng đoàn Ki-tô hữu Tiểu Á đang bị đối xử bất công : kiên trì sống tinh thần Ki-tô giáo, kiên nhẫn trong thử thách gian truân, để nhờ đó mới có thể chia sẻ vinh quang với Đức Ki-tô.
4. Bài Tin Mừng : Ga 14,15-21
Chúng ta đang ở chiều thứ Năm Tuần Thánh, sau khi Chúa Giê-ru rửa chân cho các môn đệ, Người nói chuyện lâu giờ với các môn đệ lần cuối cùng. Người nói về Chúa Cha và mối liên hệ gắn kết Người là Con với Cha của mình ; Người nói về mối liên hệ từ nay về sau gắn kết các Tông Đồ với Chúa Cha và với Người, một mối liên hệ không ai hay không gì có thể phá huỷ được. “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em … Ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến.”
Và rồi, vào lúc sắp lìa xa các môn đệ, Chúa Giê-su loan báo một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với các môn đệ, đó là Thần Khí sự thật. Với tư cách là những người Do-thái chân chính, các Tông Đồ đều biết lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en : “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi. Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ed 36,26-27), và một lời sấm khác của ngôn sứ Ê-dê-ki-en : “Ta sẽ không còn ẩn mặt đi, vì Ta sẽ đổ tràn Thần Khí của Ta xuống nhà Ít-ra-en” (Ed 39,29). Còn với ngôn sứ Giô-en, lời hứa ban Thần Khí mang tính phổ quát, chứ không dành cho các ngôn sứ, các vua, cũng không dành cho dân Chúa chọn nữa : “Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm” (Ge 3,1). Vì thế, khi Chúa Giê-su nói với các Tông Đồ : “Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.” Người loan báo ngày trọng đại của Giao ước vĩnh viễn đã tới.
Kiểu nói “ở lại” trong câu “Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” gợi lên cho các Tông Đồ toàn bộ sự chờ đợi lâu dài của dân được chọn : khát vọng của tất cả các tín hữu trong Giao ước mới, đó là Thiên Chúa hiện diện ở giữa dân Người ; đã có Lều Hội Ngộ trong thời Xuất hành, và rồi cũng có Ðền Thờ Giê-ru-sa-lem, nhưng họ trông chờ Giao ước mới của Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa hiện diện, không phải trong các ngôi nhà được xây dựng bằng gạch đá, nhưng trong tâm hồn của dân Người, nơi đó Người hiện diện cách thân mật trong con tim của mỗi tín hữu và Thiên Chúa đã hứa qua miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en chẳng hạn : “Ta sẽ lập với chúng một giao ước bình an, đó sẽ là giao ước vĩnh cửu đối với chúng. Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng ; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta” (Ed 37,26-27), hay như ngôn sứ Da-ca-ri-a : “Hỡi con gái Xi-on, hãy vui sướng reo hò, vì này Ta đang đến để ở lại giữa ngươi” (Dcr 2,14). Các Tông Đồ hiểu rõ niềm hy vọng này, các ông biết rằng giao ước vĩnh cửu được hứa trong Cựu Ước là dành cho toàn thể nhân loại, và suốt cuộc đời công khai của mình, Chúa Giê-su nói rằng Người rất mong toàn thể thế gian được ơn cứu độ.
Nhưng tại sao thế gian không thể đón nhận Thần Khí sự thật ? Thưa vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Chúa Giê-su nói tiếp : “Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.” Đó là một sứ mạng Chúa Giê-su giao cho các môn đệ thực hiện : vì thế gian không biết Thần Khí sự thật, nên trách nhiệm của các môn đệ là làm cho họ biết, đặc biệt là bằng chính đời sống yêu thương của mình.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, con yêu mến Chúa. Xin cho tất cả chúng con biết thể hiện lòng yêu mến Chúa cách cụ thể qua việc tuân giữ các điều răn của Chúa, nhất là điều răn bác ái yêu thương.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, ta đã tỏ lòng yêu mến Chúa bằng cách nào ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Một cuộc sống mới
(G. Bessière, trong “Thiên Chúa thật gần, năm A”, Desclée de Brouwer, 1992, tr. 64-65).
Rõ ràng, điều quan trọng ở đây là có được mối tương quan cá biệt với Đức Giê-su hay đúng hơn, được “yêu mến Người”. Các Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca mời gọi ta tiến vào Nước Trời. Tin Mừng Gio-an, xuất hiện trễ hơn, không đề cập đến Nước Trời ấy nữa mà tập trung vào Đức Giê-su và quy kết về Người.
Hình ảnh cây nho và cành nho biểu hiện rõ rệt về điều đó : mỗi môn đệ đều kết hợp trực tiếp với Đức Ki-tô. Người ta đã có thể nói về “tính đồng đẳng” của thánh Gio-an : theo Người, mọi người phải sống với Đức Giê-su bằng mối dây tình yêu, trong lòng cộng đoàn tín hữu, mỗi Ki-tô hữu trực tiếp trao đổi với Người.
Tình yêu này không hàm hồ. Nó không phải là một thúc đẩy cảm tính về một hình ảnh mơ hồ qua đó người ta có thể dự phóng những giấc mơ của mình. “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.” Đây là một tình yêu với những việc làm cụ thể, toàn bộ Tin Mừng là một bằng chứng về cuộc sống mới đã khởi đầu nơi Đức Giê-su : Phải tái sinh, phải mở mắt, phải uống nước vọt lên từ nguồn suối, phải ăn bánh hằng sống, phải để Đức Giê-su rửa chân và chúng ta phải làm đầy tớ cho nhau, một cuộc sống khác đã khai mở, cuộc sống của chính Thiên Chúa, đúc kết nơi Đức Giê-su.
Tin Mừng của thánh Gio-an diễn ra trong bầu khí căng thẳng. Sự cắt đứt với Do-thái giáo đã chín muồi, và sự đối đầu thật gay go. Tác giả Tin Mừng thứ tư hết sức cứng rắn với người Do-thái. Ngài nhấn mạnh đến thần tính của Đức Giê-su, Đấng từ trời xuống, từ nay, ngoài Người ra, không còn con đường nào khác, các môn đệ sẽ không ngừng đón nhận sự tự do của Người và cùng khám phá với Người cuộc sống yêu thương.
Nhưng làm sao có thể sống thân thương được với một người mà kỷ niệm đã xa mờ trong dĩ vãng ? Khi Tin Mừng thánh Gio-an được soạn thảo xong, thế hệ những chứng nhân bằng xương bằng thịt đã qua đời, chỉ còn lại những bản văn, những lời chứng, những mẩu chuyện và những lời nói uyên thâm cho phép ta không ngừng gặp gỡ Đấng Vĩnh Hằng. Song còn hơn thế nữa : còn có một Đấng luôn ở cạnh bên, như một trạng sư hay một Đấng Bảo Trợ, đó là Thần Khí sự thật.
Nhờ Người, công việc của Đức Giê-su sẽ luôn hiện thực trước những hoàn cảnh mới. Thánh Thần sẽ không lặp lại những lời nói cũ mòn, nhưng Người cách tân chúng theo dòng đời luôn luôn đổi mới.
Chính trong Người mà mối tương giao yêu thương với Đức Giê-su sẽ không ngừng nối kết những con người qua các thế kỷ. Nó hệt như một ngọn lửa luôn chiếu sáng và sưởi ấm cõi lòng.
2. Một Đấng Bảo Trợ khác
(H. Denis, trong “100 từ ngữ nói lên niềm tin”, Desclée de Brouwer, 1993, tr. 161-162).
Đấng Bảo Trợ là từ Hy-lạp, thoạt đầu, theo nghĩa luật pháp, tức là trạng sư, người trợ lý, người bảo vệ. Về sau, từ này được dùng theo nghĩa rộng để chỉ người an ủi và người can thiệp giúp. Có điều lạ là từ này được áp dụng cho Đức Giê-su (trong thư thứ nhất của thánh Gio-an 2,1) : “Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha : đó là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Công Chính”, còn hầu hết thì chỉ Chúa Thánh Thần. Vì thế, nếu gán cho Chúa Thánh Thần mọi phẩm tính trên, ta sẽ thấy, nếu chỉ có một mình, người ta sẽ khó sống trung thành với Đức Ki-tô tới mức nào.
Nhưng đây cũng chính là sứ điệp của Đức Giê-su : anh em sẽ không mồ côi một mình. Đức Ki-tô vô hình nhường chỗ cho Đấng Bảo Trợ các tín hữu, mang đến cho họ những kháng độc tố cần thiết cho cuộc sống công chính theo Tin Mừng giữa muôn vàn thử thách. Tốt đẹp biết bao khi tin rằng –từ khi Đức Giê-su ra đi trong ngày Người lên trời– tất cả những gì được Đức Ki-tô thực hiện trên trần gian này một cách hữu hình đều do những người nam và người nữ đã mạo hiểm với niềm tin dũng cảm, đôi khi phải trả giá bằng chính cái chết của mình.
Chính vì họ không đơn độc. Vị đạo diễn vĩ đại, hợp nhất toàn cả vũ trụ, hợp nhất Giáo Hội chính là Đấng Bảo Trợ vô hình, Người ân ban sức mạnh tràn trề cho những người yếu đuối nhất và lòng can đảm cho những kẻ nhát đảm nhất. Niềm ủi an của Chúa Thánh Thần sẽ như ngọn lửa lan truyền giữa các tín hữu từ đời này cho tới đời kia.