Chúa Nhật V Mùa Chay, Năm A (22.03.2026) – Hãy Ra Khỏi Mồ (Ga 11,1-45)

Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.” (Ga 11,43-44)
Bài đọc 1: Ed 37,12-14

Ta sẽ đặt Thần Khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh.

Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en.

12 Đức Chúa là Thiên Chúa phán như sau : “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Ít-ra-en. 13 Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, khi Ta mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt, hỡi dân Ta. 14 Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa.”

Đáp ca: Tv 129,1-2.3-4.5-6a.6b-8 (Đ. x. c.7bc)

Đ.Chúa luôn luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

1Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy Chúa,2muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.
Dám xin Ngài lắng tai để ý
nghe lời con tha thiết nguyện cầu.

Đ.Chúa luôn luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

3Ôi lạy Chúa, nếu như Ngài chấp tội,
nào có ai đứng vững được chăng ?4Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ
để chúng con biết kính sợ Ngài.

Đ.Chúa luôn luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

5Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi,
cậy trông ở lời Người.6aHồn tôi trông chờ Chúa,
hơn lính canh mong đợi hừng đông.

Đ.Chúa luôn luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

6bHơn lính canh mong đợi hừng đông,7trông cậy Chúa đi, Ít-ra-en hỡi,
bởi Chúa luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.8Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en
cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn.

Đ.Chúa luôn luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.

Bài đọc 2: Rm 8,8-11

Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, ngự trong anh em.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

8 Thưa anh em, những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa. 9 Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô. 10 Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em, thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm, Thần Khí cũng ban cho anh em được sống, vì anh em đã được trở nên công chính. 11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

Tung hô Tin Mừng: Ga 11,25a.26

Chúa nói : Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống ; ai tin vào Thầy sẽ không phải chết bao giờ.

Tin Mừng: Ga 11,1-45 

Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a. 2 Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. 3 Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.” 4 Nghe vậy, Đức Giê-su bảo : “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh.”

5 Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta, cùng hai người em là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.

6 Tuy nhiên, sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở. 7 Rồi sau đó, Người nói với các môn đệ : “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê !” 8 Các môn đệ nói : “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao ?” 9 Đức Giê-su trả lời : “Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao ? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng mặt trời. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình !”

11 Nói những lời này xong, Người bảo họ : “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.” 12 Các môn đệ nói với Người : “Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.” 13 Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. 14 Bấy giờ Người mới nói rõ : “La-da-rô đã chết. 15 Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy.” 16 Ông Tô-ma, gọi là Đi-đy-mô, nói với các bạn đồng môn : “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy !”

17 Khi đến nơi, Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số. 19 Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a, vì em các cô mới qua đời. 20 Vừa được tin Đức Giê-su đến, cô Mác-ta liền ra đón Người. Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà. 21 Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 Nhưng bây giờ con biết : Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.” 23 Đức Giê-su nói : “Em chị sẽ sống lại !” 24 Cô Mác-ta thưa : “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” 25 Đức Giê-su liền phán : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. 26 Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không ?” 27 Cô Mác-ta đáp : “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

28 Nói xong, cô đi gọi em là Ma-ri-a, và nói nhỏ : “Thầy đến rồi, Thầy gọi em đấy !” 29 Nghe vậy, cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su. 30 Lúc đó, Người chưa vào làng, nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người. 31 Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn, thấy cô vội vã đứng dậy đi ra, liền đi theo, tưởng rằng cô ra mộ khóc em.

32 Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói : “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.” 33 Thấy cô khóc, và những người Do-thái đi với cô cũng khóc, Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến. 34 Người hỏi : “Các người để xác anh ấy ở đâu ?” Họ trả lời : “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” 35 Đức Giê-su liền khóc. 36 Người Do-thái mới nói : “Kìa xem ! Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy !” 37 Có vài người trong nhóm họ nói : “Ông ta đã mở mắt cho người mù, lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư ?” 38 Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng. Người đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. 39 Đức Giê-su nói : “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói : “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày.” 40 Đức Giê-su bảo : “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao ?” 41 Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giê-su ngước mắt lên và nói : “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. 42 Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con.” 43 Nói xong, Người kêu lớn tiếng : “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ !” 44 Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo : “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi.”

45 Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người.

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————

 

Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

 

 

Trong bất cứ nền văn hóa nào, cái chết luôn là một kinh nghiệm đau thương nhất của kiếp người. Cái chết chia lìa người thân, chấm dứt mọi kế hoạch và dự tính cho tương lai. Người đã chết nhanh chóng rơi vào quên lãng, ngay cả đối với những người thân của mình. Ở mọi thời đại, các nền văn hóa và tín ngưỡng đều tìm kiếm câu trả lời cho ý nghĩa cuộc đời cũng như tương lai con người sau khi đã chết.

Vào thế kỷ thứ Sáu trước Công nguyên, khi dân Do Thái đang bị phát lưu đi đày ở Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã gửi đến cho họ một thông điệp hy vọng: Thiên Chúa sẽ mở nấm huyệt mộ cho dân và đem họ về đất Ít-ra-en, tức là về quê cha đất tổ. Trong bối cảnh cụ thể của thời lưu đầy, hành động “mở huyệt” của Thiên Chúa có nghĩa là Ngài giải phóng họ khỏi cảnh lưu đày tha hương. Những người Do Thái khi nghe lời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chắc chắn liên tưởng tới cuộc giải phóng vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện để đưa dân tộc họ ra khỏi Ai-cập, sau hơn bốn trăm năm sống cảnh nô dịch tại xứ người. Đó cũng sẽ là thời mà Thiên Chúa khôi phục truyền thống huy hoàng đã mất do cuộc lưu đày.

Sự can thiệp của Thiên Chúa không chỉ là giải phóng dân Do Thái khỏi cảnh lưu đày, mà còn đổi mới tâm hồn của họ. Hãy nghe ngôn sứ nói: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh… bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa”.  Nhờ quyền năng của Thiên Chúa, người Do Thái được về lại cố hương, đồng thời cũng được canh tân để mang một tâm hồn mới, dồi dào ân sủng và niềm vui của Thần Khí. Một dân tộc đã thực sự hồi sinh!

Thiên Chúa, Đấng đã giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập, và đã dẫn dân lưu đày từ Ba-by-lon về lại quê hương. Vị Thiên Chúa ấy đã thực hiện những điều vĩ đại qua Đức Giê-su. Phép lạ làm cho ông La-da-rô đã chết bốn ngày sống lại đã chứng minh quyền năng của Thiên Chúa. Nơi Đức Giê-su, những gì các ngôn sứ loan báo trong Cựu ước đã trở thành hiện thực. Người không chỉ mở huyệt mộ cho một cá nhân là ông La-da-rô, nhưng cho cả nhân loại đang nằm dưới ách của bóng tối tội lỗi và của sự chết. Hơn nữa, ông La-da-rô được Chúa Giê-su cho sống lại, rồi sau này cũng phải chết. Nhân loại đang đi trong tối tăm của nấm mồ được Chúa Giê-su cứu rỗi sẽ không phải chết, như lời Chúa nói: “Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào tôi, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào tôi, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26). Những ai tin vào Người, sẽ được hưởng sự sống vĩnh cửu. Dù sự chết vẫn hiện hữu, dù thân xác vẫn mục nát trong nấm mồ, nhưng những ai tin vào Chúa sẽ được sống lại trong ngày phán xét, và họ sẽ được hưởng sự sống đời đời.

Những lời đối đáp giữa Chúa Giê-su và bà Mác-ta, không đơn thuần chỉ là cuộc đối đáp giữa hai cá nhân, mà là cuộc đối đáp giữa Ki-tô giáo và các nền văn hóa ở mọi thời đại. Quả vậy, theo quan niệm thông thường, thì một người chết đã được chôn bốn ngày rồi, thì xác bắt đầu phân hủy và rất nặng mùi, không nên mở huyệt ra. Tuy vậy, đối với quyền năng của Thiên Chúa, La-da-rô vẫn có thể sống lại. Tin vào Chúa là tin một điều không thể lại trở thành có thể. Hai mươi thế kỷ đã qua, trong bất kỳ nền văn hóa nào, Giáo Hội Ki-tô luôn khẳng định: Đức Giê-su đã sống lại từ cõi chết, và những ai tin vào Chúa, Người sẽ cho sống lại để hưởng hạnh phúc trường sinh.

Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, nhân tính của Chúa Giê-su được diễn tả cách rõ nét. Người đã rơi lệ trước cái chết của một người bạn. Người xót xa trước nỗi khổ của tang quyến. Chúng ta có thể thấy sự cảm thương của Chúa Giê-su ở những nơi khác trong Phúc âm: khi chứng kiến đám tang của người thanh niên, là con duy nhất của một người đàn bà góa (x. Lc 7,11-17); khi thấy nỗi đau của cha mẹ có đứa con gái vừa chết (Mt 9,18-26); và trước đám đông đi theo Người ba ngày trong hoang địa mà không có gì ăn (x. Mt 14,13-21). Đức Giê-su là Đấng Thiên sai. Người diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa trong lời giáo huấn, qua các phép lạ và trong mọi hành vi cử chỉ thường ngày. Đó là hình ảnh một Thiên Chúa cảm thông với nỗi đau của con người, và ra tay cứu giúp họ.

Giữa cuộc sống còn nhiều bon chen lận đận, chúng ta đôi khi bị giam hãm trong những “ngôi mộ” là tính ích kỷ, những đam mê, những hận thù nhỏ nhen toan tính… Mùa Chay mời gọi chúng ta bước ra khỏi nấm mồ, nhờ quyền năng của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô quảng diễn: con người chúng ta luôn bị xác thịt chi phối. Để làm đẹp lòng Chúa, chúng ta phải biết làm chủ những ước muốn của chúng ta, và điều khiển chúng theo cách phù hợp với ý Chúa. Thánh nhân cũng nói đến cái chết thiêng liêng, tức là phạm tội. Khi phạm tội, là chúng ta chết về phần linh hồn; khi hòa giải với Chúa (qua thiện chí sám hối và Bí tích Hòa Giải), chúng ta được sống lại với Đức Giê-su, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.

“Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa… ” (Đáp ca). Lời Thánh vịnh nói lên thân phận bi thảm của con người. Lời ấy cũng diễn tả niềm hy vọng vào lòng từ bi của Chúa. Chính Người sẽ giải thoát chúng ta và sẽ mở huyệt mộ cho chúng ta.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)

—————————

 

Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

 

LADARÔ SỐNG LẠI

 

Việc khai tâm Kitô giáo thường vận dụng các bài Tin mừng về người phụ nữ Samari, người mù từ bẩm sinh và nhất là việc phục sinh Ladarô. Trong tất cả ba bài Tin Mừng mùa Chay năm A đều có những điểm chung: Đức Giêsu luôn đi bước trước trong đối thoại với con người, từ chủ đề vật lý như nước uống, mù loà, chết chóc, Người dùng chúng như bàn đạp để nói về những thực tại cao siêu hơn như Nước Hằng Sống, Ánh Sáng thế gian và sự Sống Lại.  Đức Giêsu như một M.C, người hướng dẫn chương trình, đưa con người khám phá chân lý tôn giáo. 

Phục sinh Ladarô là điểm nhấn quan trọng trong Tin mừng Gioan, vì sau biến cố xảy ra cho Ladarô, Hội đường Do thái quyết định kết án tử hình Đức Giêsu.  Các bài Tin mừng nầy mang tính sư phạm, hướng dẫn đi vào niềm tin Kitô giáo.  Tức là đi vào lịch sử ơn cứu độ, vào chiến thắng sự chết, thực hiện lời hứa của Thiên Chúa.  Con người luôn mong muốn nước giải khát, luôn muốn được sáng mắt và nhất là được sống lại.  Tất cả hội tụ lại nơi Đức Giêsu là Đấng cứu thế.

Lời hứa giải phóng khỏi ách nô lệ Babylon được tiên tri Êdêkien loan báo vào thời lưu đày (587- 538) : “Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa.  Này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi ra khỏi huyệt, hỡi dân Ta.  Ta sẽ đặt Thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh” (Bài Đọc 1. Ed 37,12-14).  Lời hứa chắc nịch nầy được thực hiện vào năm 539 với chiếu chỉ hồi hương của Cyrus, vua Ba Tư, chấm dứt 50 năm đời nô lệ, khai mào một thời kỳ giải phóng, tái lập nước Ítraen. 

Chính tiên tri Êdêkien loan báo lời hứa này cho dân Do thái khi họ còn ngồi trên bờ sông Babylon than khóc số phận hẩm hiu của mình, chính vị tiên tri nầy đem lại cho họ niềm hy vọng giải phóng.  Không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Việc Chúa làm vượt quá thực tế trước mắt, thực tế có khi gây ngã lòng theo nhãn quan trần thế, đó cũng là tâm tình của thánh Phaolô trong Thư Rôma, ngài nói chính Thần khí giải thoát chúng ta khỏi đam mê xác thịt và làm cho sống: “Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại cũng sẽ dùng Thần khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Bài Đọc 2. Rm 8,8-11). 

Chính Thần khí nầy đã phục sinh Ladarô dù đã chết chôn  bốn ngày.  Phục sinh Ladarô là lời khẳng định chính Người là sự sống lại. Kẻ ban cho tha nhân sự sống dĩ nhiên phải có sự sống nơi mình.  Ý thức mình đang đi vào cuộc tử nạn, Đức Giêsu động viên và củng cố niềm tin nơi các môn đệ khi Người đi lên Giêrusalem để hoàn tất sứ mạng cứu độ bằng cái chết của Người.  Người làm cho Ladarô bước ra khỏi mồ, chứng tỏ Người có quyền trên sự chết, đồng thời khẳng định Người là chúa sự sống và là sự sống lại.  Diễn từ sự sống lại được Đức Giêsu viết bằng chính việc Người phục sinh Ladarô, điều nầy dễ hiểu vì không ai cho cái mình không có, làm cho Ladarô sống lại khẳng định Người có nơi mình sự sống lại.

Điều đau thương và khó hiểu là khi Người phục sinh cho một người đã chết được sống lại thì cái chết lại rơi xuống đầu Người.  Cái chết như là chấm câu cho cuộc sống trần thế của Người, nó làm nên thân phận con người, bởi vì nếu Người không chết thì Người chưa thật sự là con người như mọi người khác.  Sau biến cố gây chấn động nầy người Do thái quyết định giết chết Đức Giêsu cùng với Ladarô, nghĩa là họ không tài nào chối cãi được sự thật sờ sờ trước mắt đầy lý chứng thuyết phục khẳng định Đấng ban sự Sống đang ở giữa họ, họ đã chọn điều tốt nhất là “giết người diệt khẩu” như người ta thường làm khi đứng trước một chân lý không thể che dấu được. 

Phục sinh Ladarô tiên báo sự sống lại của chính Đức Giêsu, và tiên báo tương lai phục sinh của chúng ta, những kẻ tin vào Đức Giêsu.  Những yếu tố giống nhau xảy ra trước nấm mồ của Ladarô và trước nấm mồ của Đức Giêsu vào sáng ngày thứ nhất phục sinh, đó là nước mắt của bà Maria, ngôi mộ đá lạnh lẽo, các băng liệm vô tri, khăn che mặt được cuốn gọn lại, tất cả bổng chốc làm Gioan nhớ lại quá khứ và ông tin rằng Thầy đã sống lại, vì ông đã một lần kinh nghiệm qua chứng kiến việc Ladarô sống lại! 

Đức Giêsu là sự sống lại không phải là chuyện cổ tích thuộc quá khứ, nhưng là của ngày hôm nay, Người có thể làm cho những kẻ “chết” ra khỏi tội lỗi của mình, ra khỏi hoàn cảnh tù ngục, họ có thể đổi đời, được cởi trói xiềng xích dục vọng.  Đó cũng là sứ điệp mà mùa Chay Thánh muốn loan báo: hãy sám hối và tin vào Đấng Phục Sinh.

Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa là chủ sự sống, xin tha cho con những lần bỏ Chúa để sụp lạy các thần tượng khác.  Bất chấp tất cả tang thương gặp phải, con mạnh dạn nói như cô Mácta: “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa”. Amen

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

______________________

 

Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

 

“Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11:4).

Quý ông bà và anh chị em thân mến,

Đoạn Lời Chúa “Ga 11:1-45” chúng ta sẽ cầu nguyện nói về việc Chúa Giêsu làm cho anh Ladarô chết bốn ngày sống lại. Có thể nói đây là phép lạ phi thường nhất trong toàn bộ những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện công khai. Chiêm ngắm câu chuyện này, quý vị nhận được thông điệp gì của Chúa?

Sau khi cầu nguyện với đoạn Lời Chúa hôm nay, tôi thấy có một số điểm nổi bật tác động tâm hồn tôi, đặc biệt là sứ vụ tôi đang thực hiện trong cuộc sống hằng ngày. Vì thế, tôi mạn phép được chia sẻ với quý vị những tâm tình này. Tôi hy vọng điều tôi sắp chia sẻ sẽ góp thêm chất liệu cầu nguyện cho quý vị trong giờ cầu nguyện sắp tới.

Tôi nhận thấy toàn bộ câu chuyện Chúa làm phép lạ cho anh Ladarô sống lại nêu bật lên ba nhân đức đối thần của người Kitô hữu, đó là ba nhân đức: Tin – Cậy – Mến, cũng như lời tuyên xưng đức tin của Mátta, đại diện cho tất cả các Kitô hữu thể hiện lòng tin tuyệt đối vào Thiên Chúa Ba Ngôi, và cũng là lời tuyên xưng đức tin của chúng ta trong mỗi Thánh Lễ.

Về đức tin, chúng ta hãy nghe lời tâm sự của Thầy Giêsu với các học trò: “Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó” (Ga 11:15). Lời tuyên tín của Mát-ta, chị Ladarô: “Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11:27). Lời Đức Giêsu khẳng định với chị Mátta về sự sống lại của anh Ladarô: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang Thiên Chúa sao?” (Ga 11:41). Lời cầu nguyện cùng Chúa Cha của Chúa Giêsu: “Phần con, con biết Cha hằng nhận lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con” (Ga 11:42). Kết quả là đã có nhiều người tin vào Chúa Giêsu (Ga 11:45).

Về đức cậy, chúng ta có thể để ý các câu nói của chị em Mátta và Maria. Tất cả những lời lẽ thốt ra từ miệng của hai chị em này đều diễn tả một niềm trông cậy tuyệt đối vào Chúa Giêsu, chẳng hạn như “Nếu có Thầy ở đây, em con sẽ không chết” (Ga 11:21.32). Lòng trông cậy của chị em này xuất phát từ lòng tin vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa Cha, và cả niềm tin vào sự sống lại trong ngày sau hết (x. Ga 11:24-27).

Về đức mến, toàn bộ câu chuyện này đều chứa đựng nhiều nước mắt. Hầu như các nhân vật trong câu chuyện đều khóc. Chị em Mátta và Maria khóc. Chúa Giêsu khóc. Những người đến chia buồn với tang quyến cũng khóc. Điểm đặc biệt trong đoạn Lời Chúa hôm nay là Chúa Giêsu đã khóc. Trong toàn bộ Sách Tin Mừng, chúng ta để ý Chúa Giêsu chỉ khóc hai lần: một lần trong biến cố anh Ladarô lìa thế, một lần khóc thương thành Giêrusalem khi Chúa đang vác thập giá lên Núi Sọ. Những giọt nước mắt của Chúa xuất phát từ con tim thổn thức của Người khi chứng kiến cảnh khổ đau tang thương của nhân loại. Khi người ta thổn thức nhiều quá, lời nói không thể thốt lên, và thay vào đó là những giọt nước mắt tự động tuôn trào trên khóe mắt. Hành động cứu giúp người khác xuất phát từ lòng thương cảm có giá trị Tin Mừng cao cả vô biên, bằng chứng là qua việc Chúa Giêsu làm cho anh Ladarô sống lại, nhiều người đã tin vào Người.

Trên đường loan báo Tin Mừng, tôi kinh nghiệm điều này rất rõ. Có nhiều người và nhiều làng chưa biết Chúa, và sau khi tiếp nhận lòng thương cảm của người khác, họ đã sẵn sàng đi theo Chúa. Tôi hỏi tại sao họ lại theo Chúa? Họ trả lời rằng họ nhận ra Đạo Công Giáo biết quan tâm và yêu thương họ, lắng nghe và thấu cảm với nỗi khổ của họ. Họ chưa thấy ai tốt với họ như thế! Đây là bước khởi đầu của tình bạn giữa người Công giáo với người mới biết Chúa, giai đoạn đầu của niềm tin Kitô giáo nơi những người tân tòng. Có thể niềm tin của họ chưa tinh ròng, còn phụ thuộc nhiều vào các giá trị vật chất và cảm tính. Những “thầy dạy” trong Đạo Công Giáo có bổn phận giúp họ đào sâu đức tin và trưởng thành hơn trong đức cậy và học nơi Chúa đức mến thuần khiết. Nhờ đó, họ cũng trở thành những người Kitô hữu trưởng thành và hạnh phúc trong ơn gọi làm con cái Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta làm cho những người bé mọn nhất là để thể hiện tinh thần ngợi khen, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa nơi sự hiện hữu của mình. Chúng ta làm việc tốt lành cho người khác không phải để tìm kiếm vinh dự cho bản thân, nhưng là để Danh Chúa được nhiều người biết đến. Có như thế, những công việc chúng ta làm mới có giá trị Tin Mừng đích thực: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11:4).

Sau cùng, đích đến của từng người chúng ta là được sống lại, sống và không bao giờ chết nữa, cũng chẳng phải “đầu thai” để lại sống một kiếp khác. “Em chị sẽ sống lại” (Ga 11:23), và Lazaro đã sống lại thật. Sự “sống lại” của Lazaro trên thế gian này là sự sống lại tạm bợ, sống rồi lại chết. Còn sự sống lại trong ngày sau hết của những ai tin vào Chúa Giêsu là sự sống lại đời đời, sự sống của các thiên thần và các thánh. Tuy nhiên, trong Mùa Chay Thánh này, “sự sống lại tạm bợ” của Lazaro như mời gọi chúng ta hãy siêng năng tìm kiếm Chúa để được làm mới lại chính mình, để chế ngự và chiến thắng một thói hư tật xấu nào đó, giúp chúng ta cảm nếm sâu trong tâm hồn rằng mỗi Mùa Phục Sinh chúng ta lại được “sống lại thật về phần linh hồn”, được cảm nhận một niềm vui thiêng liêng của ơn giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi một căn bệnh trầm kha của linh hồn, khỏi sự mặc cảm tội lỗi in hằn sâu trong tâm khảm suốt nhiều năm tháng qua, v.v..

Với những chia sẻ trên, quý vị được đánh động điều gì nhất? Đoạn Lời Chúa hôm nay khơi dậy trong tâm thức quý vị về điều gì? Quý vị có cùng một cảm thức như Chúa Giêsu khi chứng kiến cảnh khổ đau và tang thương của người khác không? Quý vị sẽ làm gì cho họ để đem lại giá trị loan báo Tin Mừng cao quý nhất?

Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!

(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)

 

WGPKT(20/03/2026) KONTUM