Trong buổi tiếp kiến truyền thống dành cho các vị Đại sứ khoảng 420 người đại diện cho 184 nước, Đức Lêô XIV đã « chia sẻ một vài suy nghĩ về thời đại của chúng ta, một thời đại đang bị xáo trộn bởi bởi ngày càng nhiều căng thẳng và xung đột ». Ngài đã đề cập rộng rãi đến các cuộc xung đột và chiến tranh, các vấn đề liên quan đến tầm quan trọng của luật nhân đạo, đối thoại và ý nghĩa của ngôn từ, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và tự do ngôn luận; nhưng cũng đề cập đến những vấn đề liên quan đến việc bách hại Kitô hữu, tỷ lệ sinh và việc loại bỏ sự sống, điều kiện của tù nhân, nghiện ma túy, người di cư, giới trẻ và người già, trí tuệ nhân tạo, đồng thời cũng nhắc đến những khó khăn của các gia đình. Ngài cũng nêu lên những dấu hiệu hy vọng, trong đó có Việt Nam.

Dưới đây là toàn văn bài phát biểu của Đức Thánh Cha, ngày 9/1/2026 :
Thưa quý ngài Đại sứ,
Thưa quý thành viên ưu tú của Đoàn Ngoại giao,
Thưa quý Bà và quý Ông,
Trước hết, tôi xin được cảm ơn ngài Đại sứ George Poulides, Trưởng đoàn Ngoại giao, về những lời lẽ tốt đẹp và trân trọng mà ngài đã thay mặt toàn thể quý vị dành cho tôi, và tôi chào mừng quý vị đến với cuộc gặp gỡ được tổ chức để trao đổi lời chúc mừng nhân dịp đầu năm mới.
Đây là một sự kiện truyền thống trong đời sống của Đoàn Ngoại giao tại Tòa Thánh, nhưng là một sự mới mẻ đối với tôi, kể từ khi tôi được kêu gọi chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô cách đây vài tháng. Vì vậy, tôi rất vui mừng được chào đón quý vị sáng nay và biết ơn sự tham gia đông đảo của quý vị, được làm phong phú thêm trong năm nay bởi sự hiện diện của các Trưởng phái đoàn mới đến từ Kazakhstan, Burundi và Belarus. Tôi cảm ơn các chính quyền đã quyết định mở các Văn phòng đại diện ngoại giao cạnh Tòa Thánh ở Rôma, một dấu hiệu hữu hình của mối quan hệ song phương tốt đẹp và hiệu quả. Quý đại sứ thân mến, thông qua tất cả quý vị tôi muốn gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến đất nước của quý vị và chia sẻ một vài suy nghĩ về thời đại chúng ta, một thời đại đang bị xáo trộn bởi ngày càng nhiều căng thẳng và xung đột.
Năm vừa qua đã có rất nhiều sự kiện, bắt đầu từ những sự kiện ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của Giáo hội, khi Giáo hội trải qua một Năm Thánh trọng đại và chứng kiến sự trở về Nhà Cha của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, là Đức Giáo hoàng Phanxicô. Cả thế giới đã quy tụ quanh linh cữu của ngài vào ngày tang lễ, cảm nhận sự ra đi của một người cha đã dẫn dắt Dân Chúa với đức ái mục tử sâu xa.
Cách đây vài ngày, chúng ta đã đóng Cửa Thánh cuối cùng, cửa của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, mà chính Đức Giáo hoàng Phanxicô đã mở vào đêm Giáng sinh năm 2024. Trong suốt Năm Thánh, hàng triệu người hành hương đã đổ về Rôma để thực hiện cuộc hành hương Năm Thánh. Mỗi người đến mang theo những trải nghiệm, những vấn đề và niềm vui riêng, nhưng cũng cả những nỗi buồn và vết thương, để bước qua các Cửa Thánh, biểu tượng của chính Chúa Kitô, vị Thầy Thuốc trên trời của chúng ta, Đấng đã đến trong xác thịt, mang lấy thân phận con người của chúng ta để cho chúng ta được chia sẻ sự sống thiêng liêng của Người, như chúng ta đã chiêm ngắm trong mầu nhiệm Giáng Sinh vừa được cử hành. Tôi tin chắc rằng trong suốt hành trình này, nhiều người đã có thể làm sâu sắc thêm hoặc tái khám phá mối quan hệ của họ với Chúa Giêsu, nhờ đó tìm thấy sự an ủi và niềm hy vọng mới để đối mặt với những thách thức của cuộc sống.
Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến người dân Rôma, những người đã kiên nhẫn và hiếu khách đón tiếp rất nhiều khách hành hương và du khách từ khắp nơi trên thế giới đến với Thành phố vĩnh hằng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến Chính phủ Ý, Chính quyền Thủ đô và các cơ quan thực thi pháp luật đã làm việc tận tâm và chính xác để Rôma có thể đón tiếp tất cả du khách và để các sự kiện Năm Thánh, cũng như các sự kiện sau khi Đức Giáo hoàng Phanxicô qua đời, có thể diễn ra trong yên bình và an ninh.
Tòa Thánh và nước Ý không chỉ chia sẻ sự gần gũi về địa lý, nhưng trên hết là một lịch sử lâu đời về đức tin và văn hóa vốn gắn kết Giáo hội với Bán đảo tuyệt vời này và người dân của nó. Điều này càng được chứng minh thêm bởi mối quan hệ song phương tuyệt vời được ghi dấu trong năm nay bằng việc đưa vào hiệu lực các sửa đổi đối với Hiệp định về hỗ trợ thiêng liêng cho Lực lượng Vũ trang, vốn cho phép đồng hành thiêng liêng hiệu quả hơn cho nam nữ quân nhân phục vụ trong Lực lượng Vũ trang tại Ý cũng như trong nhiều nhiệm vụ ở nước ngoài, và bằng việc ký kết thỏa thuận xây dựng hệ thống nông nghiệp kết hợp năng lượng mặt trời tại Santa Maria di Galeria, vốn sẽ cung cấp điện từ nguồn năng lượng tái tạo cho Thành quốc Vatican, qua đó khẳng định cam kết chung của chúng ta đối với việc bảo vệ môi trường. Tôi cũng rất biết ơn những chuyến thăm của các quan chức cấp cao của Nhà nước vào đầu Triều đại giáo hoàng của tôi và sự hiếu khách tuyệt vời mà Tổng thống Cộng hòa dành cho tôi tại Cung điện Quirinal, người mà tôi muốn bày tỏ kỷ niệm chân thành và lòng biết ơn.
Trong năm vừa qua, đáp lại lời mời dành cho Đức Giáo hoàng Phanxicô, tôi đã có vinh dự đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Li Băng. Tôi biết ơn chính quyền của cả hai nước về lòng hiếu khách. Tại İznik, Thổ Nhĩ Kỳ, tôi đã có cơ hội cùng với Đức Thượng phụ Đại kết Constantinople và các đại diện của các niềm tin Kitô khác kỷ niệm 1700 năm Công đồng Nixê, công đồng đại kết đầu tiên. Đây là một dịp quan trọng để chúng tôi tái khẳng định cam kết dấn thân của mình trên con đường hướng tới sự hiệp nhất hữu hình trọn vẹn của tất cả các Kitô hữu. Tại Li Băng, tôi đã gặp gỡ những người dân, bất chấp khó khăn, vẫn tràn đầy đức tin và nhiệt huyết, và tôi cảm nhận được niềm hy vọng tỏa ra từ những người trẻ tuổi khao khát xây dựng một xã hội công bằng và gắn kết hơn bằng cách tăng cường sự giao thoa giữa các nền văn hóa và các niềm tin tôn giáo, điều làm cho xứ sở Thông Bá Hương trở nên độc đáo trên thế giới.
Quý Đại sứ thân mến,
Lấy cảm hứng từ những sự kiện bi thảm của cuộc cướp phá thành Rôma năm 410 sau Công nguyên, thánh Augustinô đã viết một trong những tác phẩm mạnh mẽ nhất trong sự nghiệp thần học, triết học và văn học của ngài: De Civitate Dei, Thành Quốc Thiên Chúa. Như Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI đã nhận xét, đó là “một tác phẩm đồ sộ và mang tính quyết định đối với sự phát triển của tư tưởng chính trị phương Tây và đối với thần học Kitô giáo về lịch sử.” [1] Nó được gợi hứng từ một “câu chuyện” – chúng ta có thể nói theo thuật ngữ đương đại – đang được lưu truyền: “Những người ngoại đạo, vẫn còn đông đảo vào thời điểm đó, và thậm chí nhiều Kitô hữu nghĩ rằng Thiên Chúa của tôn giáo mới và chính các tông đồ đã cho thấy rằng họ không có khả năng bảo vệ thành phố. Vào thời các vị thần ngoại đạo, Rôma là caput mundi, kinh đô vĩ đại, và không ai có thể tưởng tượng rằng nó sẽ rơi vào tay kẻ thù của mình. Giờ đây, với Thiên Chúa của các Kitô hữu, thành phố vĩ đại này dường như không còn an toàn nữa.” [2]
Thời đại của chúng ta chắc chắn rất xa so với những sự kiện đó. Đây không chỉ là vấn đề khoảng cách thời gian, mà còn là sự khác biệt về nhận thức văn hóa và sự phát triển của các phạm trù tư duy. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện rằng nhận thức văn hóa của chúng ta đã được truyền cảm hứng từ tác phẩm này, một tác phẩm mà, giống như tất cả các tác phẩm kinh điển, đang nói với con người của mọi thời đại.
Thánh Augustinô diễn giải các sự kiện và thực tại lịch sử theo mô hình hai thành quốc: Thành Quốc Thiên Chúa, là vĩnh cửu và được đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa (amor Dei), gắn liền với tình yêu thương tha nhân, đặc biệt là người nghèo; và thành quốc trần thế, là nơi cư ngụ tạm thời của con người cho đến khi chết. Ngày nay, nó bao gồm tất cả các thể chế xã hội và chính trị, từ gia đình đến quốc gia và các tổ chức quốc tế. Đối với thánh Augustinô, thành quốc này được thể hiện qua Đế chế Rôma. Thành quốc trần thế tập trung vào lòng ái kỷ kiêu ngạo (amor sui), vào khát vọng quyền lực và vinh quang thế gian dẫn đến sự hủy diệt. Tuy nhiên, đây không phải là cách đọc lịch sử nhằm đối lập thế giới bên kia với cuộc sống trần gian, Giáo hội với Nhà nước, cũng không phải là một phép biện chứng về vai trò của tôn giáo trong xã hội dân sự.
Theo quan điểm của thánh Augustinô, hai thành quốc cùng tồn tại cho đến tận cùng thời gian và sở hữu cả chiều kích ngoại tại lẫn nội tại, bởi vì hai thành quốc này được đo lường không chỉ bằng những thái độ bên ngoài mà chúng được xây dựng trong suốt lịch sử, mà còn bằng thái độ bên trong của mỗi con người đối với thực tại cuộc sống và các sự kiện lịch sử. Theo quan điểm này, mỗi chúng ta đều là nhân vật chính và do đó chịu trách nhiệm về lịch sử. Thánh Augustinô đặc biệt nhấn mạnh rằng các Kitô hữu được Chúa kêu gọi sống trong thành quốc trần thế với tấm lòng và trí óc hướng về Thành Quốc trên trời, quê hương đích thực của họ. Tuy nhiên, người Kitô hữu sống trong thành quốc trần thế không xa lạ với thế giới chính trị và tìm cách áp dụng đạo đức Kitô giáo, được soi dẫn bởi Thánh Kinh, vào chính quyền dân sự.
Tác phẩm Thành Quốc Thiên Chúa không đưa ra một chương trình chính trị nào, nhưng nó cung cấp những suy ngẫm quý giá về các vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và chính trị, chẳng hạn như việc tìm kiếm một sự chung sống công bằng và hòa bình hơn giữa các dân tộc. Thánh Augustinô cũng cảnh báo về những nguy hiểm nghiêm trọng đối với đời sống chính trị phát sinh từ những sự xuyên tạc lịch sử, chủ nghĩa dân tộc thái quá và sự bóp méo lý tưởng về người chính khách.
Mặc dù bối cảnh chúng ta đang sống ngày nay khác với bối cảnh của thế kỷ thứ V, nhưng một số điểm tương tự vẫn rất thời sự. Cũng như thời điểm đó, chúng ta đang sống trong một thời kỳ của những cuộc di cư sâu rộng; cũng như thời điểm đó, chúng ta đang sống trong một gian đoạn tái tổ chức sâu sắc các cân bằng địa chính trị và các mô hình văn hóa; cũng như thời điểm đó, theo cách diễn đạt nổi tiếng của Giáo hoàng Phanxicô, chúng ta không đang ở trong một thời đại của những thay đổi, mà là trong một sự thay đổi thời đại [3].
Ngày nay, sự yếu kém của chủ nghĩa đa phương trên bình diện quốc tế đặc biệt đáng lo ngại. Một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bởi một nền ngoại giao bằng vũ lực, dù là của các cá nhân hay các nhóm đồng minh. Chiến tranh đã trở lại thịnh hành, và một sự hăng hái hiếu chiến đang lan rộng. Nguyên tắc được thiết lập sau Thế Chiến II, cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của các quốc gia khác, đã bị phá vỡ. Hòa bình không còn được tìm kiếm như một món quà và một điều tốt đẹp đáng mong muốn tự thân, “trong việc theo đuổi một trật tự do Thiên Chúa muốn, vốn hàm ý một nền công lý hoàn hảo hơn giữa con người,”[4] mà được tìm kiếm bằng vũ lực, như một điều kiện để khẳng định sự thống trị của chính mình. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến Nhà nước pháp quyền, vốn là nền tảng của mọi sự chung sống hòa bình dân sự.
Hơn nữa, như thánh Augustinô đã lưu ý, “không ai không muốn hòa bình. Ngay cả những người muốn chiến tranh cũng không muốn gì hơn là chiến thắng; do đó, họ mong muốn đạt được một nền hòa bình vinh quang thông qua chiến tranh. Quả thế, chiến thắng không gì khác hơn là sự khuất phục của những kẻ chống cự, và khi điều này xảy ra, hòa bình sẽ hiện hữu. […] Ngay cả những người muốn nền hòa bình mà họ đang sống bị phá vỡ cũng không ghét hòa bình, nhưng mong muốn nó được chuyển giao cho quyền lực tự do của họ. Do đó, họ không muốn không có hòa bình, mà chỉ muốn có nền hòa bình mà họ muốn.” [5]
Chính thái độ đó đã dẫn nhân loại đến thảm kịch Thế Chiến II, mà đống tro tàn của nó đã khai sinh ra Liên Hợp Quốc, tổ chức vừa được kỷ niệm 80 năm thành lập. Nhờ quyết tâm của 51 quốc gia, nó được mong muốn đóng vai trò là trụ cột trung tâm của hợp tác đa phương để ngăn chặn các thảm họa toàn cầu trong tương lai, duy trì hòa bình, bảo vệ các quyền con người cơ bản và thúc đẩy phát triển bền vững.
Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế, mà việc tôn trọng nó không thể phụ thuộc vào hoàn cảnh hay lợi ích quân sự và chiến lược. Luật nhân đạo, ngoài việc đảm bảo mức độ nhân đạo tối thiểu trước những tai họa của chiến tranh, còn là một cam kết mà các quốc gia đã thực hiện. Luật này phải luôn được ưu tiên hơn những ý muốn tùy tiện của các bên tham chiến để giảm thiểu những tác động tàn phá của chiến tranh, kể cả từ góc độ tái thiết. Không thể bỏ qua thực tế rằng việc phá hủy các bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà cửa và những nơi thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày cấu thành một sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa Thánh tái khẳng định mạnh mẽ sự lên án của mình đối với bất kỳ hình thức hàm ý dân sự nào vào các hoạt động quân sự và mong muốn rằng Cộng đồng quốc tế sẽ ghi nhớ rằng việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm của nhân phẩm và sự thánh thiêng của sự sống luôn được ưu tiên hơn bất kỳ lợi ích quốc gia nào.
Trong bối cảnh này, Liên Hợp Quốc đã đóng vai trò trung gian hòa giải trong các xung đột, khuyến khích phát triển và giúp các quốc gia bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản. Trong một thế giới đang đối mặt với những thách thức phức tạp như căng thẳng địa chính trị, bất bình đẳng và khủng hoảng khí hậu, tổ chức này cần đóng vai trò nền tảng trong việc thúc đẩy đối thoại và viện trợ nhân đạo, từ đó góp phần xây dựng một tương lai công bằng hơn. Do đó, cần phải nỗ lực để đảm bảo rằng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ánh hiện trạng của thế giới mà còn tập trung và hiệu quả hơn trong việc theo đuổi các chính sách hướng tới sự hiệp nhất của gia đình các dân tộc, thay vì các ý thức hệ.
Do đó, mục đích của chủ nghĩa đa phương là tạo ra một nơi mà mọi người có thể gặp gỡ và trò chuyện, theo mô hình diễn đàn Rôma cổ đại hoặc quảng trường thời trung cổ. Tuy nhiên, để tham gia đối thoại, cần phải đồng thuận về các từ ngữ và các khái niệm mà chúng đại diện. Việc khám phá lại ý nghĩa của từ ngữ có lẽ là một trong những thách thức chính của thời đại chúng ta. Khi từ ngữ mất đi mối liên hệ với thực tại, và khi chính thực tại trở nên phụ thuộc vào ý kiến và cuối cùng là không thể hiểu được, người ta trở nên giống như hai người mà thánh Augustinô mô tả, buộc phải ở bên nhau mà không ai biết ngôn ngữ của người kia. Ngài nhận xét rằng “động vật câm, ngay cả khi chúng thuộc các loài khác nhau, vẫn hiểu nhau dễ dàng hơn con người, mặc dù cả hai đều là con người. Thật vậy, vì chỉ qua sự khác biệt về ngôn ngữ, họ không thể truyền đạt cho nhau suy nghĩ của mình, nên sự tương đồng lớn về bản tính là vô dụng trong việc thiết lập các mối quan hệ, đến mức một người thích ở với con chó của mình hơn là với người lạ.” [6]
Ngày nay, ý nghĩa của từ ngữ ngày càng trở nên mơ hồ, và các khái niệm mà chúng đại diện cũng ngày càng nước đôi. Ngôn ngữ không còn là phương tiện ưu tiên của bản tính con người để nhận thức và gặp gỡ, nhưng, trong sự mơ hồ về ngữ nghĩa, nó ngày càng trở thành một vũ khí để lừa dối, tấn công và xúc phạm đối thủ. Chúng ta cần ngôn từ để chúng lại bắt đầu diễn đạt những thực tại chắc chắn một cách rõ ràng. Chỉ bằng cách này, đối thoại chân chính, không còn hiểu lầm, mới có thể được nối lại. Điều này phải xảy ra trong gia đình và không gian công cộng, trong chính trị, trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, cũng như trong bối cảnh quan hệ quốc tế và chủ nghĩa đa phương, để chủ nghĩa đa phương có thể tìm thấy lại sức mạnh cần thiết để đóng vai trò gặp gỡ và trung gian hòa giải của nó, vốn không thể thiếu để ngăn ngừa các xung đột, và để không ai bị cám dỗ thống trị người khác bằng lôgic của vũ lực, dù là bằng lời nói, thể chất hay quân sự.
Cũng cần lưu ý rằng nghịch lý về sự suy yếu của ngôn từ này thường được viện dẫn nhân danh tự do ngôn luận. Nhưng khi xem xét kỹ hơn, điều ngược lại mới đúng: tự do ngôn luận và biểu đạt được đảm bảo chính bởi sự chắc chắn của ngôn ngữ và bởi thực tế rằng mỗi thuật ngữ đều dựa trên sự thật. Tuy nhiên, thật đau lòng khi nhận thấy rằng, đặc biệt là ở phương Tây, không gian cho tự do ngôn luận đích thực đang ngày càng thu hẹp, trong khi một ngôn ngữ mới, mang màu sắc Orwell, đang phát triển, mà trong mưu toan trở nên bao hàm hơn, cuối cùng lại loại trừ những người không phù hợp với những ý thức hệ đang thúc đẩy nó.
Thật không may, sự lệch hướng này dẫn đến những lệch hướng khác, cuối cùng hạn chế các quyền cơ bản của con người, bắt đầu từ quyền tự do lương tâm. Trong bối cảnh này, quyền phản đối lương tâm cho phép các cá nhân từ chối các nghĩa vụ pháp lý hoặc nghề nghiệp mâu thuẫn với các nguyên tắc luân lý, đạo đức hoặc tôn giáo bén rễ sâu trong phạm vi cá nhân của họ: cho dù đó là từ chối nghĩa vụ quân sự nhân danh bất bạo động hay từ chối các hành vi như phá thai hoặc an tử đối với bác sĩ và các chuyên gia y tế. Phản đối lương tâm không phải là nổi loạn, nhưng là một hành động trung thành với chính mình. Trong thời điểm đặc biệt này của lịch sử, tự do lương tâm dường như là đối tượng bị các Nhà nước ngày càng đặt lại vấn đề, kể cả những quốc gia tự nhận là được xây dựng trên nền tảng dân chủ và nhân quyền. Ngược lại, quyền tự do này thiết lập sự cân bằng giữa lợi ích tập thể và phẩm giá cá nhân, nhấn mạnh rằng một xã hội tự do thực sự không áp đặt sự đồng nhất, nhưng bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn chặn những lệch lạc độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú thêm cấu trúc xã hội.
Cũng thế, tự do tôn giáo có nguy cơ bị hạn chế, đang khi, như Đức Bênêđíctô XVI đã nhắc nhở chúng ta, nó là quyền con người hàng đầu vì nó thể hiện thực tại cơ bản nhất của con người. [7] Dữ liệu gần đây nhất cho thấy các vi phạm tự do tôn giáo đang gia tăng và 64% dân số thế giới phải chịu những vi phạm nghiêm trọng về quyền này.
Khi đòi hỏi tôn trọng đầy đủ tự do tôn giáo và tự do tín ngưỡng cho các Kitô hữu, Tòa Thánh cũng đòi hỏi điều đó đối với tất cả các cộng đồng tôn giáo khác. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày ban hành Tuyên ngôn Nostra Aetate, một trong những thành quả của Công đồng Vatican II kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 1965, tôi đã có cơ hội nhắc lại sự bác bỏ dứt khoát mọi hình thức bài Do Thái, mà thật đáng tiếc đang tiếp tục gieo rắc hận thù và cái chết, và tầm quan trọng của việc vun đắp đối thoại Do Thái-Kitô giáo, bằng cách đào sâu những cội nguồn Thánh Kinh chung.
Trong cùng bối cảnh kỷ niệm đó, việc gặp gỡ các đại diện của các tôn giáo khác đã cho phép tôi làm mới lại sự đánh giá cao của mình về những tiến bộ đạt được trong vài thập kỷ qua trên con đường đối thoại liên tôn, bởi vì trong mọi cuộc tìm kiếm tôn giáo chân thành đều có “sự phản chiếu về Mầu nhiệm thần linh độc nhất bao trùm toàn bộ công trình tạo dựng.” [8] Theo nghĩa này, tôi kêu gọi cộng đồng các quốc gia đảm bảo tự do tôn giáo và tín ngưỡng đầy đủ cho tất cả công dân của họ.
Tuy nhiên, không thể phớt lờ rằng việc bách hại người Kitô hữu vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín đồ trên toàn thế giới, những người phải chịu đựng mức độ phân biệt đối xử, bạo lực và áp bức cao hoặc cực đoan vì đức tin của họ. Hiện tượng này ảnh hưởng đến khoảng một trên bảy người Kitô hữu trên toàn cầu và đã trở nên tồi tệ hơn vào năm 2025 do các cuộc xung đột đang diễn ra, do các chế độ độc tài và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Tất cả những điều này thật bất hạnh cho thấy rằng, trong nhiều bối cảnh, tự do tôn giáo được coi là một “đặc quyền” hoặc sự nhượng bộ hơn là một quyền cơ bản của con người.
Ở đây, tôi xin đặc biệt nghĩ đến các nạn nhân của bạo lực tôn giáo ở Bangladesh, khu vực Sahel và Nigeria, cũng như các nạn nhân của vụ tấn công khủng bố nghiêm trọng hồi tháng Sáu năm ngoái nhằm vào giáo xứ Saint-Élie ở Damas, mà không quên các nạn nhân của bạo lực thánh chiến ở Cabo Delgado, Mozambique.
Tuy nhiên, không được quên một hình thức phân biệt đối xử tôn giáo tinh vi đối với người Kitô hữu, vốn đang lan rộng ở những quốc gia nơi họ chiếm đa số, như ở châu Âu hoặc châu Mỹ, nơi đôi khi họ thấy khả năng rao giảng chân lý Tin Mừng bị hạn chế vì lý do chính trị hoặc ý thức hệ, đặc biệt là khi họ bảo vệ phẩm giá của những người yếu thế nhất, các trẻ em chưa sinh, người tỵ nạn và người di cư, hoặc khi họ thăng tiến gia đình.
Trong các mối quan hệ và hoạt động quốc tế, Tòa Thánh luôn kiên định lập trường bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người. Chẳng hạn, không thể phủ nhận rằng mỗi người di cư đều là một nhân vị và, với tư cách đó, sở hữu những quyền bất khả xâm phạm cần được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh. Không phải tất cả người di cư đều đi lại theo ý muốn, nhưng nhiều người buộc phải chạy trốn do bạo lực, đàn áp, xung đột, và thậm chí cả ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, như đã thấy ở nhiều khu vực của châu Phi và châu Á. Trong năm kỷ niệm 75 năm thành lập Tổ chức Di cư Quốc tế, tôi xin nhắc lại mong ước của Tòa Thánh rằng các biện pháp mà các quốc gia thực hiện chống lại nhập cư bất hợp pháp và buôn người sẽ không trở thành cái cớ để vi phạm phẩm giá của người di cư và người tỵ nạn.
Những cân nhắc tương tự cũng có giá trị cho các tù nhân, vốn không bao giờ có thể bị giảm thiểu xuống mức độ tội ác mà họ đã gây ra. Nhân dịp này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của mình tới các Chính phủ đã đáp lại tích cực lời kêu gọi của người tiền nhiệm đáng kính của tôi về các cử chỉ khoan hồng trong Năm Thánh, bày tỏ mong muốn rằng tinh thần của Năm Thánh sẽ truyền cảm hứng lâu dài và có cấu trúc cho việc quản lý công lý, để các bản án tương xứng với tội ác đã gây ra, các điều kiện nhân phẩm được đảm bảo cho tù nhân, và trên hết, mọi nỗ lực được thực hiện để bãi bỏ án tử hình, một biện pháp phá hủy mọi hy vọng về sự tha thứ và đổi mới. [9] Chúng ta cũng không thể quên nỗi đau khổ của nhiều tù nhân chính trị ở nhiều Nhà nước.
Hơn nữa, từ quan điểm Kitô giáo, con người được tạo ra theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, Đấng “khi vì yêu thương đã kêu gọi họ hiện hữu, cũng đồng thời kêu gọi họ yêu thương”. [10] Ơn gọi này được thể hiện một cách đặc biệt và độc đáo trong gia đình. Chính trong bối cảnh này mà người ta học cách yêu thương và phát triển khả năng phục vụ sự sống, do đó góp phần vào sự phát triển của xã hội và sứ mạng của Giáo hội.
Bất chấp tính chất trung tâm của nó, thể chế gia đình ngày nay đang đối mặt với hai thách thức quan trọng. Một mặt, người ta đang chứng kiến một xu hướng đáng lo ngại trong hệ thống quốc tế là bỏ bê và đánh giá thấp vai trò xã hội cơ bản của gia đình, dẫn đến việc gia đình ngày càng bị gạt ra ngoài lề về mặt thể chế. Mặt khác, chúng ta không thể phớt lờ thực tại ngày càng gia tăng và đau lòng về những gia đình yếu đuối, tan vỡ và đau khổ, bị ảnh hưởng bởi những khó khăn nội bộ và các hiện tượng đáng lo ngại, bao gồm cả bạo lực gia đình.
Ơn gọi yêu thương và sự sống, vốn được thể hiện nổi bật trong sự kết hợp đơn hôn và bất khả phân ly giữa người nữ và người nam, đặt ra một mệnh lệnh đạo đức cơ bản: làm cho các gia đình có khả năng chào đón và chăm sóc trọn vẹn sự sống sơ sinh. Điều này càng trở nên ưu tiên hơn bao giờ hết, đặc biệt là ở những quốc gia đang trải qua sự suy giảm mạnh mẽ về tỷ lệ sinh. Quả thật, sự sống là một món quà vô giá, được phát triển trong khuôn khổ một dự án tương quan dựa trên sự tương hỗ và phục vụ.
Chính dưới ánh sáng của tầm nhìn sâu xa này về sự sống như một món quà cần được bảo vệ và về gia đình như người gìn giữ có trách nhiệm của nó mà các hành vi phủ nhận hoặc công cụ hóa nguồn gốc sự sống và sự phát triển của nó phải bị bác bỏ hoàn toàn. Trong số những hành vi này, có việc phá thai, vốn làm gián đoạn một sự sống sơ sinh và từ chối đón nhận món quà sự sống. Về vấn đề này, Tòa Thánh bày tỏ sự quan ngại sâu sắc đối với các dự án nhằm tài trợ cho việc di chuyển xuyên biên giới nhằm tiếp cận cái gọi là “quyền phá thai an toàn”, và cho rằng thật đáng tiếc khi các nguồn lực công cộng lại được dành cho việc loại bỏ sự sống, thay vì được đầu tư vào việc hỗ trợ các bà mẹ và gia đình. Mục tiêu hàng đầu vẫn phải là bảo vệ mọi thai nhi và hỗ trợ hiệu quả và cụ thể cho mọi phụ nữ để họ có thể đón nhận sự sống.
Tương tự, việc mang thai hộ, biến quá trình mang thai thành một dịch vụ có thể thương lượng, vi phạm phẩm giá của cả đứa trẻ, bị giảm thiểu thành một “sản phẩm”, và người mẹ, bằng cách biến cơ thể và quá trình sinh sản của bà thành công cụ, đồng thời làm thay đổi dự án tương quan gia đình nguyên thủy.
Những cân nhắc tương tự cũng có thể được mở rộng đến các bệnh nhân, người già và những người neo đơn, đôi khi phải vật lộn để tìm lý do để tiếp tục sống. Xã hội dân sự và các Nhà nước cũng có trách nhiệm đáp ứng một cách cụ thể đối với những hoàn cảnh dễ bị tổn thương, bằng cách đưa ra các giải pháp cho nỗi đau khổ của con người, chẳng hạn như chăm sóc giảm nhẹ, và bằng cách thúc đẩy các chính sách liên đới thực sự, thay vì khuyến khích những hình thức trắc ẩn ảo tưởng như an tử.
Một suy nghĩ tương tự cũng có thể được đưa ra đối với nhiều người trẻ đang phải đối mặt với vô số thách thức, trong số đó có nghiện ma túy. Cần có sự nỗ lực phối hợp từ tất cả mọi người để xóa bỏ tệ nạn này của nhân loại và nạn buôn bán ma túy đang nuôi dưỡng nó, nhằm ngăn chặn hàng triệu người trẻ trên toàn thế giới trở thành nạn nhân của việc sử dụng ma túy. Song song với nỗ lực này, cần có các chính sách cai nghiện thích đáng và đầu tư nhiều hơn vào việc thăng tiến con người, giáo dục và tạo việc làm.
Dưới ánh sáng của những thách thức này, cần phải tái khẳng định mạnh mẽ rằng bảo vệ quyền sống là nền tảng không thể thiếu của mọi quyền con người khác. Một xã hội chỉ lành mạnh và tiến bộ khi bảo vệ tính chất thánh thiêng của sự sống con người và tích cực nỗ lực thúc đẩy nó.
Những cân nhắc mà tôi đã trình bày làm cho nghĩ rằng, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang chứng kiến một sự “chập mạch” thực sự của nhân quyền. Quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tôn giáo, và thậm chí cả quyền sống đang bị hạn chế nhân danh những cái gọi là quyền mới, dẫn đến toàn bộ hệ thống nhân quyền đang mất đi sức mạnh, nhường chỗ cho bạo lực và áp bức. Điều này xảy ra khi mỗi quyền trở nên tự quy chiếu và, trên hết, khi nó mất đi mối liên hệ với thực tại của sự việc, với bản chất của nó và với sự thật.
Thưa quý Ông Bà Đại sứ,
Nếu thánh Augustinô nhấn mạnh sự cùng tồn tại của Thành Quốc thiên đường và thành quốc trần thế cho đến tận cùng thời gian, thì thời đại của chúng ta dường như có xu hướng phủ nhận “quyền công dân” đối với Thành Quốc Thiên Chúa. Dường như chỉ có thành quốc trần thế tồn tại, bị khép kín hoàn toàn trong biên giới của nó. Việc tìm kiếm chỉ những điều tốt đẹp nội tại làm suy yếu “sự yên bình của trật tự” [11] này mà, đối với thánh Augustinô, cấu thành chính bản chất của hòa bình, vốn liên quan đến xã hội và các quốc gia cũng như linh hồn con người, và là điều thiết yếu đối với mọi sự chung sống dân sự. Trong sự vắng mặt của một nền tảng siêu việt và khách quan, chỉ có lòng ái kỷ chiếm ưu thế, thậm chí đến mức thờ ơ với Thiên Chúa, Đấng cai trị thành quốc trần thế. [12] Tuy nhiên, như thánh Augustinô lưu ý, “đó là sự ngu ngốc của thói kiêu ngạo ở những người tuyên bố tìm thấy điều tốt đẹp tối cao ở trần gian này và nguyên tắc hạnh phúc của họ trong chính bản thân họ.” [13]
Thói kiêu ngạo che khuất chính thực tại và sự đồng cảm với người khác. Không phải ngẫu nhiên mà gốc rễ của mọi xung đột đều bắt nguồn từ thói kiêu ngạo. Như tôi đã có dịp nhắc lại trong Sứ điệp cho Ngày Thế giới Hòa bình, “khi đó người ta mất hết tính hiện thực, nhượng bộ trước một hình ảnh phiến diện và méo mó về thế giới, dưới dấu hiệu của bóng tối và nỗi sợ hãi,”[14] do đó mở đường cho lôgic đối đầu, khúc dạo đầu của mọi cuộc chiến tranh.
Chúng ta thấy điều này trong nhiều bối cảnh, bắt đầu từ cuộc chiến đang diễn ra ở Ucraina, với gánh nặng đau khổ đè nặng lên dân thường. Trước tình hình bi thảm này, Tòa Thánh tái khẳng định một cách kiên quyết nhu cầu cấp thiết về một lệnh ngừng bắn ngay lập tức và một cuộc đối thoại được thúc đẩy bởi sự tìm kiếm chân thành các con đường dẫn đến hòa bình. Tôi khẩn thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế không chùn bước trong nỗ lực tìm kiếm các giải pháp công bằng và lâu dài để bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và khôi phục hy vọng cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời tái khẳng định sự sẵn sàng của Tòa Thánh trong việc hỗ trợ bất kỳ sáng kiến nào thúc đẩy hòa bình và hòa hợp.
Cũng thế, chúng ta cũng ghi nhận điều này ở Đất Thánh, nơi mà bất chấp thỏa thuận ngừng bắn được công bố vào tháng Mười, dân thường vẫn tiếp tục phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng, làm trầm trọng thêm những đau khổ vốn đã phải gánh chịu. Tòa Thánh đặc biệt quan tâm đến bất kỳ sáng kiến ngoại giao nào nhằm đảm bảo cho người Palestine ở Dải Gaza một tương lai hòa bình và công lý lâu dài trên chính mảnh đất của họ, cũng như cho toàn thể người dân Palestine và toàn thể người dân Israel. Đặc biệt, giải pháp hai Nhà nước vẫn là triển vọng thể chế đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cả hai dân tộc, trong khi chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng bạo lực ở Bờ Tây nhằm vào dân thường Palestine, những người có quyền được sống trong hòa bình trên chính mảnh đất của mình.
Tình hình căng thẳng gia tăng ở vùng biển Caribe và dọc bờ biển Thái Bình Dương của Mỹ cũng là một nguyên nhân đáng lo ngại. Tôi muốn nhắc lại lời kêu gọi khẩn thiết của mình về các giải pháp chính trị hòa bình cho hoàn cảnh hiện tại, ưu tư cho công ích của người dân, chứ không phải bảo vệ lợi ích đảng phái.
Điều này đặc biệt có giá trị đối với Venezuela, xét đến những diễn biến gần đây. Về vấn đề này, tôi nhắc lại lời kêu gọi tôn trọng ý chí của người dân Venezuela và cam kết bảo vệ nhân quyền và quyền công dân của mỗi người và xây dựng một tương lai ổn định và hài hòa. Họ có thể tìm thấy nguồn cảm hứng từ tấm gương của hai người con của họ, những người mà tôi đã có vinh dự tuyên thánh vào tháng Mười năm ngoái, José Gregorio Hernández và Sơ Carmen Rendiles, để xây dựng một xã hội dựa trên công lý, sự thật, tự do và bác ái, và nhờ đó vượt qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã đeo bám đất nước từ nhiều năm qua.
Nhiều cuộc khủng hoảng khác đang diễn ra trên toàn cầu. Trước hết, tôi muốn đề cập đến tình hình bi thảm ở Haiti, nơi đang diễn ra đủ loại bạo lực, từ buôn người đến cưỡng bức lưu vong và bắt cóc. Về vấn đề này, tôi bày tỏ hy vọng rằng, với sự hỗ trợ cần thiết và cụ thể từ cộng đồng quốc tế, đất nước này sẽ có thể nhanh chóng thực hiện các bước cần thiết để khôi phục trật tự dân chủ, chấm dứt bạo lực và đạt được hòa giải và hòa bình.
Chúng ta cũng không thể quên hoàn cảnh đang hoành hành khu vực Hồ Lớn châu Phi từ nhiều thập kỷ, một khu vực bị nhấn chìm trong bạo lực đã cướp đi sinh mạng của nhiều người. Tôi khuyến khích các bên liên quan tìm kiếm một giải pháp dứt khoát, công bằng và lâu dài để chấm dứt cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu. Tương tự, tôi nghĩ đến tình hình ở Sudan, nơi đã biến thành một chiến trường rộng lớn, và sự bất ổn chính trị đang diễn ra ở Nam Sudan, đất nước trẻ nhất của gia đình các quốc gia, ra đời sau cuộc trưng cầu dân ý mười lăm năm trước.
Chúng ta cũng không thể thinh lặng trước sự gia tăng các dấu hiệu căng thẳng ở Đông Á, đồng thời bày tỏ mong muốn rằng tất cả các bên liên quan sẽ áp dụng cách tiếp cận hòa bình và dựa trên đối thoại đối với các vấn đề gây tranh cãi, vốn là nguồn gốc của các xung đột tiềm tàng.
Tôi đặc biệt quan tâm đến cuộc khủng hoảng nhân đạo và an ninh nghiêm trọng ở Myanmar, trầm trọng hơn do trận động đất tàn khốc hồi tháng Ba năm ngoái. Thêm một lần nữa, tôi mạnh mẽ kêu gọi chọn lựa con đường hòa bình và đối thoại toàn diện một cách can đảm, đảm bảo mọi người được tiếp cận công bằng và nhanh chóng với viện trợ nhân đạo. Để được xác thực, các tiến trình dân chủ phải đi kèm với ý chí chính trị nhằm theo đuổi công ích, tăng cường sự gắn kết xã hội và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi nhân vị.
Trong nhiều kịch bản này, như thánh Augustinô nhấn mạnh, chúng ta nhận thấy rằng ý tưởng trọng tâm luôn là : hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua vũ lực và dưới tác động của sự răn đe. Tuy nhiên, chiến tranh chỉ hài lòng với việc tàn phá, trong khi hòa bình đòi hỏi nỗ lực xây dựng liên tục và kiên nhẫn cùng sự tỉnh thức liên lỉ. Nỗ lực này chất vấn tất cả mọi người, bắt đầu từ các quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân. Tôi đặc biệt quan tâm đến tầm quan trọng của việc thực thi Hiệp ước New START, sẽ hết hạn vào tháng Hai tới. Mối nguy hiểm là chúng ta có thể bị cuốn vào cuộc chạy đua sản xuất vũ khí ngày càng tinh vi hơn, đặc biệt là thông qua trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo là một công cụ đòi hỏi sự quản lý thích đáng và có đạo đức, cũng như các khuôn khổ chuẩn mực tập trung vào việc bảo vệ tự do và trách nhiệm của con người.
Quý Đại sứ thân mến,
Bất chấp bức tranh kịch tính trước mắt, hòa bình vẫn là một điều thiện hảo khó khăn, nhưng khả thi. Như thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta, hòa bình “là mục đích của điều thiện hảo của chúng ta,”[15] vì nó chính là mục đích cuối cùng của Thành Quốc Thiên Chúa, mà chúng ta khao khát, ngay cả một cách vô thức, và chúng ta có thể thưởng nếm nó trước trong thành quốc trần thế. Trong cuộc hành trình của chúng ta trên trái đất này, nó đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm: sự khiêm nhường của chân lý và lòng can đảm của sự tha thứ. Trong đời sống Kitô giáo, những điều này được thể hiện qua Lễ Giáng Sinh, nơi Chân Lý, Ngôi Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa, trở thành xác thịt khiêm nhường, và qua Lễ Phục Sinh, nơi Đấng Công Chính bị kết án tha thứ cho những kẻ bách hại Người, ban cho họ sự sống của Người với tư cách là Đấng Phục Sinh.
Nhìn kỹ hơn, ngày nay cũng không thiếu những dấu hiệu của niềm hy vọng dũng cảm, và chúng cần được liên tục nâng đỡ. Ví dụ, tôi đang nghĩ đến Hiệp định Dayton, cách đây 30 năm đã chấm dứt cuộc chiến tranh đẫm máu ở Bosnia và Herzegovina và, bất chấp những khó khăn và căng thẳng, đã mở đường cho một tương lai thịnh vượng và hài hòa hơn. Tôi cũng nghĩ đến Tuyên bố chung về hòa bình giữa Armenia và Azerbaijan, được ký kết vào tháng Tám năm ngoái, mà chúng ta hy vọng sẽ mở đường cho một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Nam Caucasus bằng cách giải quyết các vấn đề còn lại theo cách thỏa mãn cả hai bên. Tương tự, tôi nghĩ đến cam kết dấn thân mà chính quyền Việt Nam đã thể hiện trong những năm gần đây nhằm cải thiện quan hệ với Tòa Thánh và các điều kiện trong đó Giáo hội hoạt động trong nước. Tất cả những điều này đều là những hạt giống hòa bình cần phải được vun trồng.
Tháng Mười sắp tới sẽ đánh dấu kỷ niệm 800 năm ngày mất của thánh Phanxicô Assisi, con người của hòa bình và đối thoại, được công nhận cách phổ quát ngay cả bởi những người không thuộc Giáo hội Công giáo. Cuộc đời ngài rạng ngời bởi vì được thúc đẩy bởi lòng can đảm tìm kiếm sự thật và nhận thức rằng một thế giới hòa bình được xây dựng từ một trái tim khiêm nhường, hướng về Thành Quốc thiên đường. Tôi chúc mỗi người chúng ta có một trái tim khiêm nhường và là người kiến tạo hòa bình, cũng như tất cả cư dân của các đất nước chúng ta vào đầu năm mới này.
Cảm ơn quý vị.
Tý Linh chuyển ngữ
(Từ : vatican.va)
Nguồn: xuanbichvietnam.net
_______________________
[1] Bênêđíctô XVI, Bài Giáo lý (ngày 20/2/2008).
[3] X. Phanxicô, Diễn văn tại Đại hội quốc gia lần thứ V của Giáo hội Ý, Florence (10/11/2015).
[4] Thánh Phaolô VI, Thông điệp Populorum progressio (26/3/1967), 76 : AAS 59 (1967), 294-295.
[5] S. Augustin, De Civ. Dei, XIX, 12.1.
[6] S. Augustin, De Civ. Dei, XIX, 7.
[7] Bênêđíctô XVI, Diễn văn nhân dịp chúc mừng năm mới Đoàn ngoại giao, 9/1/2012.
[9] X. Phanxicô, Tông sắc Năm Thánh thường lệ năm 2025 « Spes non confundit » (9/5/2024), 10 : AAS 116 (2024), 654-655.
[10] Thánh Gioan-Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio (22/11/1981), 11 : AAS 74 (1982), 91.
[11] Cf. S. Augustin, De Civ. Dei, XIX, 13.
[14] Sứ điệp cho Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 59 (8/12/2025).
[15] S. Augustin, De Civ. Dei, XIX, 11.



