Bài Giảng Đức Thánh Cha – Chúa Nhật 2 Thường Niên Năm A
Bài Giảng Đức Thánh Cha – Chúa Nhật 2 Thường Niên Năm A
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 2 Thường niên năm A.
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 2 Thường niên năm A (15/01/2023) – Biết rút lui đúng lúc
Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật tốt lành!
Tin mừng của phụng vụ hôm nay (x. Ga 1,29-34) tường thuật lời chứng của ông Gioan Tẩy Giả về Chúa Giêsu, sau khi ông làm phép rửa cho Người tại sông Giođan. Ông nói: “Đây là Đấng mà tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (cc. 29-30).
Lời tuyên bố này, lời chứng này cho thấy tinh thần phục vụ của Gioan. Ông đã được sai đi để dọn đường cho Đấng Mêsia và ông đã làm điều đó mà không nghĩ cho riêng mình. Về mặt con người, ông có thể nghĩ rằng ông sẽ nhận một “phần thưởng”, một vị trí nổi bật trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu. Gioan đã hoàn thành sứ vụ của mình, biết tránh sang một bên, ông rút lui khỏi khán đài để nhường chỗ cho Đức Giêsu, ông thấy Thần Khí ngự xuống trên Người (x. cc. 33-34), ông chỉ cho biết Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian và bây giờ ông khiêm tốn lắng nghe. Từ một ngôn sứ trở thành môn đệ. Ông giảng dạy dân chúng, thu nạp môn đệ và huấn luyện họ trong một thời gian dài. Tuy nhiên, ông không ràng buộc ai với chính ông. Và điều này tuy khó nhưng lại là dấu hiệu của nhà giáo dục đích thực: không trói người khác vào với riêng mình. Gioan làm điều này: ông để các môn đệ của mình theo chân Chúa Giêsu, không muốn có người phải theo mình, muốn đạt lấy uy tín và thành công, nhưng ông làm chứng và rồi lùi lại một bước, để nhiều người có được niềm vui gặp Chúa Giêsu. Chúng ta có thể nói : ông mở cửa rồi ra đi.
Với tinh thần phục vụ, với khả năng dọn chỗ cho Chúa Giêsu, Gioan Tẩy Giả dạy chúng ta một điều quan trọng: thoát khỏi những ràng buộc. Đúng vậy, bởi vì chúng ta dễ dàng bị ràng buộc vào vai trò và vị trí, với nhu cầu được tôn trọng, công nhận và khen thưởng. Và điều này, mặc dù tự nhiên, không phải là một điều tốt, bởi vì sự phục vụ bao hàm cả sự nhưng không, chăm sóc người khác mà không tìm lợi cho bản thân, không có mục đích thứ hai, không mong đợi được đền đáp. Cũng sẽ có ích cho chúng ta, giống như Gioan, khi trau dồi đức tính biết bước sang một bên đúng lúc, làm chứng rằng điểm quy chiếu cho cuộc đời là Chúa Giêsu. Học cách bước sang một bên, học cách rút lui: Tôi làm sứ mạng này, tôi tạo nên cuộc gặp gỡ này, tôi cũng phải biết bước sang một bên và nhường chỗ cho Chúa. Hãy học cách bước sang một bên, đừng lấy điều gì làm sự trao đổi cho mình.
Chúng ta hãy nghĩ xem điều này quan trọng thế nào đối với một linh mục, người được kêu gọi rao giảng và cử hành không phải vì tạo nên trung tâm sự chú ý hay vì lợi ích, nhưng để đồng hành với những người khác đến với Chúa Giêsu. Chúng ta cũng hãy nghĩ xem điều này quan trọng thế nào đối với các bậc cha mẹ, nuôi dưỡng con cái lớn lên với nhiều hy sinh, nhưng rồi để cho chúng tự do đi con đường riêng của chúng trong công việc, trong hôn nhân, trong cuộc sống. Điều tốt và đúng đắn là cha mẹ tiếp tục đảm bảo sự hiện diện của họ, nói với con cái họ rằng: “Bố mẹ sẽ không để con một mình”, nhưng với sự thận trọng, không xâm phạm. Sự tự do để phát triển. Và các lãnh vực khác cũng vậy, như tình bạn, đời sống vợ chồng, đời sống cộng đoàn. Giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc của cái tôi và biết cách bước sang một bên. Đó là điều rất quan trọng: đó là bước quyết định để phát triển trong tinh thần phục vụ, không tìm kiếm sự đền đáp.
Anh chị em hãy thử tự hỏi: chúng ta có khả năng nhường chỗ cho người khác không? Lắng nghe họ, để họ tự do, không ràng buộc họ với chúng ta bằng cách đòi hỏi sự công nhận? Thậm chí đôi khi để cho họ nói. Đừng nói rằng: “Bạn chẳng biết gì cả!”. Hãy để người khác nói, nhường chỗ cho người khác. Chúng ta đưa người khác đến với Chúa Giêsu hay đến với chính mình? Và một lần nữa, theo gương của Gioan: chúng ta có biết cách vui mừng khi mọi người đi theo con đường riêng của họ và đi theo tiếng gọi của họ, ngay cả khi điều này đôi khi có một chút tách rời khỏi chúng ta? Chúng ta có vui mừng trước thành công của họ, một cách chân thành và không ghen tị không? Điều này là để cho người khác lớn lên.
Xin Mẹ Maria là tôi tớ của Chúa, giúp chúng ta thoát khỏi những ràng buộc, để dọn chỗ cho Chúa và dọn chỗ cho người khác.
Chúa nhật thứ hai mùa Thường niên này tiếp nối lễ Hiển linh và lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Trang Tin mừng hôm nay (Ga 1,29-34) tiếp tục nói với chúng ta về sự tỏ lộ của Chúa Giêsu. Thật ra, sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Người đã được Chúa Thánh Thần thánh hiến và có tiếng từ trời phán: “Đây là con ta yêu dấu của Ta” (Mt 3, 16-17). Khác với các sách Tin mừng khác, Tin mừng Thánh Gioan không mô tả sự kiện này, nhưng lại cho chúng ta thấy chứng từ của Thánh Gioan Tẩy Giả. Chính ông là người đầu tiên làm chứng về Chúa Kitô. Chính Thiên Chúa đã gọi ông để ông chuẩn bị cho điều này.
Thánh Gioan Tẩy Giả không thể kìm nén được khát vọng mãnh liệt muốn làm chứng về Chúa Giêsu và tuyên bố: “Tôi đã thấy và đã làm chứng” (câu 34). Gioan đã thấy một điều gây sốc, đó là Con yêu dấu của Thiên Chúa liên đới với những người tội lỗi; và Chúa Thánh Thần đã cho ông hiểu được điều mới mẻ chưa từng có này, một sự đảo ngược thực sự. Thực tế, trong tất cả các tôn giáo, con người là người dâng hiến và hy sinh điều gì đó cho Thiên Chúa, nhưng trong trường hợp này, Thiên Chúa hiến dâng Con Ngài là Chúa Giêsu cho nhân loại, để cứu rỗi nhân loại. Gioan bày tỏ sự kinh ngạc và bày tỏ sự chấp nhận của mình đối với sự mới mẻ mà Chúa Giêsu mang đến, qua một biểu hiện đầy ý nghĩa mà chúng ta lặp lại mỗi lần trong Thánh lễ: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian!” (câu 29).
Lời chứng của Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta bắt đầu lại và lặp đi lặp lại trên hành trình đức tin của mình: Hãy luôn khởi đi từ Chúa Giêsu, Con Chiên đầy lòng thương xót mà Chúa Cha đã ban tặng cho chúng ta. Chúng ta hãy để mình ngạc nhiên một lần nữa trước chọn lựa đứng về phía chúng ta của Thiên Chúa. Ngài đứng về phía chúng ta để liên đới với chúng ta là những tội nhân, và để cứu tất cả thế giới khỏi sự dữ bằng cách mang lấy tất cả mọi trách nhiệm nơi mình.
Chúng ta hãy học từ Gioan Tẩy Giả là đừng cho rằng chúng ta đã biết Chúa Giêsu, rằng chúng ta đã biết mọi điều về Ngài (xem câu 31). Điều đó không đúng. Hãy dừng lại ở những trang Tin mừng, và cũng có thể chiêm ngưỡng một biểu tượng, một bức tranh về Chúa Kitô, khuôn mặt cực thánh của Người. Chúng ta hãy chiêm ngắm Người bằng đôi mắt và hơn thế nữa, bằng con tim. Hãy để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta và nói với chúng từ bên trong: “Chính Ngài đó! Chính Ngài là Con Thiên Chúa trở nên con chiên và hiến mình vì tình yêu. Chỉ một mình Người mang lấy, chịu đau khổ, chuộc lại tất cả tội của mỗi người chúng ta, tội của cả thế giới, và tội của chính tôi.” Ngài mang lấy tất cả nơi mình để giải thoát chúng ta, để chúng ta được tự do, không còn là nô lệ của sự dữ nữa. Đúng là chúng ta vẫn còn là những tội nhân khốn khổ, nhưng chúng ta không còn là nô lệ nữa. Không, chúng ta không còn là nô lệ, nhưng chúng ta là những người con, con cái của Thiên Chúa.
Xin Đức Mẹ Maria ban cho chúng ta sức mạnh để làm chứng về Con của Mẹ là Chúa Giêsu; để loan báo Người với niềm vui, với một đời sống không còn điều ác và một lời nói đầy đức tin kinh ngạc và biết ơn.
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 2 Thường niên năm A (15/01/2017) – Làm chứng cho Đức Kitô
Anh chị em thân mến!
Tin mừng trình bày cho chúng ta thời khắc Gioan làm chứng cho Chúa Giêsu. Ông thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,29–30). Đây là Đấng Mêsia. Gioan đã làm chứng và một số môn đệ của ông khi nghe lời chứng ấy đã đi theo Chúa Giêsu. Họ bước theo Chúa và vui mừng nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Ga 1,41). Họ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu. Nhưng tại sao họ gặp được Chúa Giêsu? Bởi vì có một chứng cứ; bởi vì có một người làm chứng cho Chúa Giêsu.
Điều đó cũng diễn ra trong cuộc sống của chúng ta. Có nhiều Kitô hữu tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, có nhiều linh mục tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, nhiều giám mục cũng vậy… Nhưng phải chăng tất cả đều làm chứng cho Chúa Giêsu? Hay việc là Kitô hữu cũng chỉ là một lối sống như bao lối sống khác, giống như là người hâm mộ một đội bóng? “Vâng, tôi là Kitô hữu…” Hay chỉ là một triết lý sống: “Tôi sống theo các điều răn này, tôi là Kitô hữu, tôi phải giữ các điều này…” Trước hết, điều đầu tiên mà Kitô hữu phải làm là làm chứng cho Chúa Giêsu. Đó chính là điều các tông đồ đã làm: các tông đồ làm chứng cho Chúa Giêsu, và nhờ đó Kitô giáo được lan truyền khắp thế giới. Làm chứng và tử đạo đều giống nhau. Có người làm chứng bằng những cách nhỏ bé, và có người đạt tới mức cao cả bằng cách hiến dâng mạng sống như các tông đồ. Tuy nhiên, các tông đồ không tham gia một khoá học nào để trở thành chứng nhân cho Chúa Giêsu, họ không nghiên cứu, không học đại học. Họ cảm nhận Thánh Thần ở trong lòng và bước theo sự thúc đẩy của Thánh Thần, họ trung thành với điều ấy. Nhưng họ là những con người tội lỗi! Nhóm Mười hai đều là tội nhân. “Không đâu, thưa Cha, chỉ có Giuđa thôi!” — Không, tội nghiệp Giuđa… Chúng ta không biết điều gì đã xảy ra sau cái chết của ông, bởi vì vào giây phút ấy vẫn còn có lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhưng tất cả đều là những con người tội lỗi, không trừ ai. Họ ghen tị với nhau, tranh giành chỗ nhất chỗ nhì: “Không, tôi phải đứng trước, còn anh đứng sau”, thậm chí hai người trong số họ còn nhờ mẹ đến xin Chúa Giêsu cho họ được ngồi chỗ nhất… Họ như thế đó, với đủ thứ tội lỗi. Họ cũng là những kẻ phản bội, bởi vì khi Chúa Giêsu bị bắt, tất cả đều chạy trốn, đầy sợ hãi; họ ẩn nấp vì quá khiếp đảm. Và Phêrô, ông biết mình có trách nhiệm, cảm thấy cần phải đến gần hơn một chút để xem điều gì đang xảy ra, và khi đầy tớ của vị thượng tế nói: “Cả ông nữa, ông cũng…”, thì ông đáp: “Không, không, không!” Ông đã chối Chúa Giêsu, ông đã phản bội Chúa Giêsu. Phêrô! Vị Giáo hoàng đầu tiên. Ông phản bội Chúa Giêsu. Đó là những chứng nhân đây sao ! Vâng, họ là chứng nhân của ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến, vì mọi người đã hoán cải nhờ ơn cứu độ ấy, họ đã để cho mình được cứu độ. Thật đẹp biết bao khi bên bờ biển hồ, Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ [mẻ cá lạ lùng], và Phêrô thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Làm chứng không có nghĩa là phải trở thành thánh nhân, nhưng là trở thành một người nam hay người nữ nghèo hèn và dám nói: “Vâng, tôi là kẻ tội lỗi, nhưng Đức Giêsu là Chúa, và tôi làm chứng cho Người, tôi cố gắng làm điều thiện mỗi ngày, sửa đổi đời sống mình, bước đi trên con đường công chính.”
Tôi chỉ muốn để lại cho anh chị em một sứ điệp. Tất cả chúng ta đều hiểu những gì mà tôi đã nói: chứng nhân cũng là tội nhân. Đọc Tin mừng, tôi thấy các tông đồ có thể nóng nảy muốn đốt cả ngôi làng vì không chịu đón tiếp họ… Họ có rất nhiều tội: phản bội, hèn nhát… Nhưng tôi không tìm thấy thứ tội này nơi các tông đồ: họ không buôn chuyện, họ không nói hành nói xấu người khác. Ở điểm này, họ đã sống tốt. Họ không “xé xác” người khác. Tôi nghĩ đến các cộng đoàn của chúng ta: bao nhiêu lần tội “lột da nhau”, nói xấu nhau, rồi cho mình hơn người khác và âm thầm nói xấu sau lưng! Trong Tin mừng, các tông đồ không làm điều đó. Họ đã làm những điều rất tệ: họ phản bội Chúa, nhưng không làm điều đó. Ngay cả trong một giáo xứ, trong một cộng đoàn nào đó… người này gian lận, người kia phạm tội khác… nhưng rồi họ xưng tội, họ hoán cải… Tất cả chúng ta đều là tội nhân. Nhưng một cộng đoàn đầy người buôn chuyện là một cộng đoàn không có khả năng làm chứng.
Tôi chỉ nói điều này thôi: Anh chị em có muốn một giáo xứ hoàn hảo không? Không nói xấu. Không nhé. Nếu anh chị em muốn góp ý gì với ai, hãy đến nói trực tiếp với người ấy, hoặc nói với cha xứ, đừng nói với nhau sau lưng. Đó là dấu chỉ cho thấy Thánh Thần đang ở trong giáo xứ. Những tội khác, chúng ta ai cũng có. Có cả một “bộ sưu tập” các tội: người này mắc tội này, người kia mắc tội khác, tất cả chúng ta đều là tội nhân. Nhưng giống như mối mọt, điều phá hủy một cộng đoàn chính là việc nói xấu sau lưng người khác.
Trong ngày tôi viếng thăm cộng đoàn này, tôi mong cộng đoàn hãy quyết tâm không nói xấu. Khi anh chị em có ý định nói xấu, hãy cắn lưỡi mình, lưỡi sẽ sưng lên, nhưng điều đó sẽ mang lại rất nhiều ích lợi, bởi vì trong Tin mừng, những chứng nhân của Chúa Giêsu – những người tội lỗi, thậm chí phản bội Chúa – lại không bao giờ nói xấu nhau. Điều đó thật là đẹp. Một giáo xứ không có nói xấu nhau là một giáo xứ hoàn hảo, là một giáo xứ của những người tội lỗi, vâng, nhưng họ là những chứng nhân. Đó chính là lời chứng mà các Kitô hữu đầu tiên đã để lại: “Hãy xem họ yêu thương nhau biết bao!” Ít nhất, hãy yêu thương nhau ở điểm này. Xin Chúa ban cho anh chị em ơn ấy, ân sủng ấy: không bao giờ, không bao giờ nói xấu nhau. Xin cảm ơn anh chị em.
Ở trung tâm bài Tin mừng (Ga 1,29-34) có lời của Thánh Gioan Tẩy Giả: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội trần gian” (c. 29). Một lời nói được đi kèm bởi cái nhìn và cử chỉ của bàn tay chỉ Ngài, Đức Giêsu.
Chúng ta hãy tưởng tượng ra quang cảnh này. Chúng ta đang đứng trên bờ sông Giođan. Thánh Gioan đang làm phép rửa, có biết bao nhiêu người đàn ông đàn bà thuộc đủ mọi lứa tuổi đến sông để nhận phép rửa từ tay người, mà theo nhiều người nhắc nhớ ngôn sứ Êlia, vị đại ngôn sứ 9 thế kỷ trước đó đã thanh tẩy dân Israel khỏi việc tôn thờ ngẫu tượng và dẫn đưa họ trở về với niềm tin thật nơi Thiên Chúa của giao ước, Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Igiaac và Giacóp.
Gioan rao giảng rằng Nước Trời đã gần, rằng Đấng Messia đang tự tỏ hiện và cần chuẩn bị, hoán cải và sống công chính; và ông bắt đầu ban phép rửa trên sông Giordan để cho dân chúng một phương thế sám hối cụ thể (x. Mt 3,1-6) Những người này đến để sám hối tội lỗi của họ, để đền tội, để bắt đầu trở lại cuộc sống. Ông biết, Gioan biết rằng Đấng Messia, Đấng được thánh hiến của Chúa đã đến gần, và dấu chỉ để nhận biết Người sẽ là Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người; thật ra Người sẽ đem đến phép rửa thật, phép rửa trong Thánh Thần (x. Ga 1,33).
Và đây, lúc ấy đến: Đức Giêsu trình diện trên bờ sông, giữa dân chúng, giữa những người tội lỗi – như tất cả chúng ta – Đó là cử chỉ công khai đầu tiên của Ngài, điều đầu tiên Ngài làm khi rời nhà ở Nadarét năm 30 tuổi: Ngài đi xuống Giuđêa tới sông Giordan và để cho Gioan làm phép rửa. Chúng ta biết điều gì xảy ra – chúng ta đã cử hành Chúa Nhật vừa qua – Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu trong hình bồ câu và tiếng Thiên Chúa Cha công bố Người là Con yêu dấu (x. Mt 3,16-17). Đó là dấu chỉ Gioan chờ đợi. Chính Ngài! Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế. Gioan bối rối vì Ngài đã tự biểu lộ một cách không thể nghĩ được: giữa các tội nhân, được rửa như họ, còn hơn thế nữa đuợc rửa vì họ. Nhưng Thần Khí soi sáng cho Gioan và khiến cho ông hiểu rằng như thế được hoàn thành công lý của Thiên Chúa, dấu chỉ ơn cứu độ thành toàn như vậy: Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Vua Israel, không phải với quyền năng của thế gian này, nhưng như là Chiên Con Thiên Chúa, Đấng mang trên mình và cất tội của trần gian.
Và như thế Gioan chỉ Người cho dân chúng và các môn đệ của ông. Vì Gioan có một vòng tròn nhiều môn đệ, đã chọn ông như vị hướng dẫn tinh thần. và chính vài người trong số họ sẽ trở thành các môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu. Chúng ta biết rõ tên của họ: Simon sẽ được gọi là Phêrô, Anrê em ông, Giacôbê và em ông là Gioan. Tất cả đều là dân chài; tất cả đều là người Galilê, như Đức Giêsu.
Anh chị em thân mến, tại sao chúng ta lại dừng lâu trên cảnh này? Bởi vì nó mang tính quyết định! Nó không phải là một giai thoại. Nó là một sự kiện lịch sử mang tính quyết định! Cảnh này mang tính quyết định đối với đức tin của chúng ta; nó mang tính quyết định đối với cả sứ mệnh của Giáo hội nữa. Trong mọi thời đại, Giáo hội được mời gọi làm điều mà Gioan Tảy Giả đã làm, chỉ Chúa Giêsu cho dân chúng và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Người là Đấng Cứu Độ duy nhất! Ngài là Chúa, khiêm tốn, giữa các tội nhân, nhưng đó là Người, là Người: không phải một người khác, quyền thế đang đến: không, không, đó là Người!
Và đó là các lời mà chúng tôi linh mục lập lại hằng ngày trong Thánh lễ, khi chúng tôi giới thiệu với dân chúng bánh và rượu đã trở thành Mình và Máu Chúa Kitô. Cử chỉ phụng vụ này diễn tả toàn sứ mệnh của Giáo hội, không loan báo chính mình. Khốn, thật khốn khi Giáo hội loan báo chính mình; thì Giáo hội mất đi địa bàn, không biết mình đi đâu. Giáo hội loan báo Chúa Kitô; không đem chính mình, nhưng đem Chúa Kitô. Vì chính Ngài và chỉ có Ngài cứu rỗi dân Ngài khỏi tội lỗi, giải thoát dân và hướng dẫn dân tới đất của sự tự do đích thật.
Xin Trinh nữ Maria là Mẹ của Chiên Thiên Chúa, giúp chúng ta tin nơi Chúa và theo Người.
Đoạn Tin mừng này thật đẹp. Gioan đang làm phép rửa; và Chúa Giêsu, Đấng đã chịu phép rửa trước đó vài ngày, đang tiến về phía ông và đứng trước mặt ông. Lúc này, Gioan cảm nhận được quyền năng Thánh Thần từ bên trong thúc đẩy nên đã làm chứng cho Chúa Giêsu. Nhìn Người, và nhìn đám đông chung quanh Người, ông nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian.” Và ông làm chứng cho Chúa Giêsu: chính Đức Giêsu là Đấng đã đến để cứu độ chúng ta, chính Người là Đấng sẽ ban cho chúng ta sức mạnh của niềm hy vọng.
Chúa Giêsu được gọi là Chiên Thiên Chúa: Người là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian. Có người sẽ nghĩ rằng: Làm sao một con chiên bé nhỏ và yếu đuối như thế lại có thể xóa bỏ biết bao tội lỗi và sự dữ? Bằng tình yêu. Bằng sự hiền lành của Người. Chúa Giêsu mãi mãi là Chiên Thiên Chúa: hiền lành, nhân hậu, tràn đầy yêu thương, gần gũi với những người bé nhỏ, gần gũi với người nghèo. Người ở giữa dân chúng, chữa lành mọi người, giảng dạy, cầu nguyện. Chúa Giêsu thật yếu đuối, giống như một con chiên. Tuy nhiên, Người lại có sức mạnh để gánh lấy tội lỗi của chúng ta, tất cả mọi tội lỗi. “Nhưng thưa Cha, Cha không biết cuộc đời con đâu: Con có tội…, con không thể nào gánh nổi, phải chở bằng cả xe tải!” Nhiều lúc xét mình, chúng ta thấy có những tội thực sự nặng nề! Nhưng Chúa đã gánh lấy tội của chúng ta. Vì thế, Người đã đến để tha thứ, để kiến tạo hòa bình cho thế giới, nhưng trước tiên là trong tâm hồn. Có lẽ mỗi người chúng ta đều cảm thấy tâm hồn mình bất an, chúng ta cảm nghiệm đêm tối của tâm hồn, chúng ta cảm thấy buồn vì một lỗi lầm nào đó… Chúa đã đến để xóa bỏ tất cả những điều ấy, Người ban bình an cho chúng ta, Người tha thứ tất cả. “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian”: Người hoàn toàn xóa bỏ tận căn mọi tội lỗi! Đó chính là ơn cứu độ mà Chúa Giêsu thực hiện bằng tình yêu và sự hiền lành của Người. Khi nghe Gioan Tẩy Giả làm chứng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ, lòng tín thác của chúng ta vào Chúa Giêsu phải vững mạnh hơn. Nhiều khi chúng ta tin tưởng một bác sĩ: Điều đó tốt, vì bác sĩ chữa trị cho chúng ta, chúng ta tin tưởng một con người, anh chị em của chúng ta có thể giúp đỡ chúng ta. Giữa chúng ta có được sự tín nhiệm lẫn nhau như thế là điều tốt. Nhưng chúng ta lại quên tín thác vào Chúa: Đây mới là chìa khóa thành công trong đời. Hãy tín thác vào Chúa, chúng ta hãy tín thác vào Chúa! “Lạy Chúa, xin nhìn vào đời con: con đang ở trong bóng tối, con đang phải chiến đấu, con có tội này…” – tất cả những gì chúng ta có – “Xin Chúa nhìn xem: Con tín thác nơi Chúa!” Và đó là một thách đố mà chúng ta phải đón nhận: tín thác nơi Chúa, và Người không bao giờ làm chúng ta thất vọng. Không bao giờ, không bao giờ!
Hỡi các bạn trẻ, các bạn đang bước vào đời, hãy lắng nghe thật kỹ: Chúa Giêsu không bao giờ làm chúng ta thất vọng. Không bao giờ. Thánh Gioan đã làm chứng như thế: Chúa Giêsu, Đấng nhân hậu, Đấng hiền lành, cuối cùng sẽ chết như một con chiên bị sát tế, không kêu than. Người đã đến để cứu độ chúng ta, để xóa bỏ tội lỗi. Tội của tôi, của các bạn, và của toàn thế giới: tất cả, tất cả mọi tội lỗi.
Giờ đây, tôi mời anh chị em hãy thực hiện điều này: chúng ta nhắm mắt lại, hình dung cảnh tượng trên bờ sông, Thánh Gioan đang làm phép rửa và Chúa Giêsu đang tiến đến. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng của Gioan: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian.” Rồi, trong thinh lặng, chúng ta hãy nhìn Chúa Giêsu, mỗi người hãy nói với Chúa Giêsu điều gì đó từ đáy lòng mình. Trong thinh lặng. (Thinh lặng)
Xin Chúa Giêsu, Đấng hiền lành, Đấng nhân hậu – Đấng là Chiên Thiên Chúa – Đấng đã đến để xóa bỏ tội lỗi, đồng hành với chúng ta trên hành trình cuộc đời. Amen.
Trong Chúa nhật thứ 2 mùa Thường niên hôm nay, đoạn Tin mừng giới thiệu cho chúng ta cảnh tượng gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Gioan Baotixita, tại sông Giođan. Thánh sử Gioan, người đã kể lại cho chúng ta câu chuyện này là chứng nhân tận mắt. Trước khi trở thành môn đệ của Đức Giêsu, thánh nhân là môn đệ của Gioan Baotixita, cùng với anh mình là Giacobe, với Simon và Anre, tất cả đều là người Galilea, là ngư phủ. Gioan Baotixita thấy Đức Giêsu tiến tới giữa đám đông thì nhận biết Người là sứ giả của Thiên Chúa, nên đã nói về Người rằng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian!” (Ga 1,29)
Động từ được dịch ở đây là “xóa bỏ” theo nghĩa đen có nghĩa là “nâng lên”, “gánh lấy”. Chúa Đức Giêsu đến trong trần gian này với một sứ mạng đặc biệt: giải phóng con người khỏi sự kềm kẹp của tội lỗi. Bằng cách nào? Bằng tình yêu thương. Không có cách nào khác để chiến thắng sự dữ và tội lỗi ngoại trừ tình yêu thúc đẩy người ta đến chỗ trao ban sự sống mình cho người khác. Trong lời chứng của Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu có những dấu tích của Người Tôi Tớ Chúa, “người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53,4), và chết trên cây thập giá. Người đích thực là con chiên vượt qua, bị nhận chìm trong dòng sông tội lỗi của chúng ta để thanh tẩy chúng ta.
Gioan Baotixita nhìn thấy trước mặt mình một người đàn ông xếp hàng với những tội nhân để xin chịu phép rửa dù người ấy không cần, một người mà Thiên Chúa đã sai đến thế gian như một con chiên hiến tế. Trong Tân ước, thuật ngữ “con chiên” được sử dụng nhiều lần và luôn ám chỉ đến Đức Giêsu. Hình ảnh con chiên này có thể khiến chúng ta ngạc nhiên; quả vậy, một con vật không phải là biểu tượng cho sức mạnh và sự cường tráng lại mang trên vai mình những gánh nặng nề. Một lượng lớn sự xấu bị xóa bỏ và bị mang đi bởi một loài yếu đuối và mỏng manh, biểu tượng của sự vâng phục, hiền lành và tình yêu bất lực, cùng với sự hiến tế chính mình Ngài. Con chiên không thống trị nhưng rất hiền lành, không gây hấn nhưng yêu hòa bình, không nhe nanh vuốt trước bất cứ đối tượng nào tấn công nó, nhưng luôn chịu đựng và phục tùng. Và Đức Giêsu cũng vậy! Ngài giống như một con chiên.
Là người môn đệ của Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa có nghĩa là gì đối với Giáo hội, đối với chúng ta ngày hôm nay? Có nghĩa là lấy hiền từ đối lại cái ác, lấy tình yêu thay thế sức mạnh, lấy khiêm nhường bù lại kiêu hãnh, lấy phục vụ đối lại cao danh. Là những người môn đệ của Con Chiên có nghĩa là không sống như một “thành trì bị vây hãm”, nhưng như một thành phố đặt trên núi cao, mở ra, đón nhận và liên đới. Nó có nghĩa là không được có thái độ đóng lại, nhưng mang Tin mừng đến cho tất cả, làm chứng bằng cuộc sống của chúng ta rằng bước theo Đức Giêsu giúp chúng ta tự do hơn và hoan lạc hơn.