Khởi Điểm Sứ Vụ “Môn Đệ Thừa Sai” Của Người Tu Sĩ Hưu Trí Và Đau Bệnh

Định hướng mục vụ 2025 – 2026 của Hội đồng Giám Mục Việt Nam với Chủ đề “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai. Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5, 14), mời gọi biến gia đình và cộng đồng trở thành nơi khởi đầu sứ vụ.

Khi tra cứu cụm từ “Người môn đệ thừa sai” trên Google, sẽ hiện lên đầu tiên với sự diễn giải có vẻ hợp lý của “trí tuệ AI”: Người môn đệ thừa sai là Kitô hữu gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu để học sống theo Người, đồng thời được sai đi loan báo Tin Mừng bằng đời sống yêu thương và chứng tá. Căn tính này xóa ranh giới giữa học hỏi và rao giảng, biến mỗi kitô hữu thành nhân chứng sống động giữa đời.

Theo nghĩa này, khi nói đến “thừa sai” chúng ta sẽ nghĩ ngay đến việc phải ra đi hay được sai đi đến những nơi, những vùng đất cụ thể, nơi đó có những người cần đón nhận Tin Mừng để người thừa sai có cơ hội giảng thuyết và đem Chúa đến cho những người và những vùng đất đó. Vậy, nếu thế thì những người tu sĩ không còn khả năng đi truyền giáo vì tuổi tác hay đau bệnh…., họ không còn gọi là môn đệ thừa sai nữa chăng?

Cùng một mạch suy tư đó, trong bài viết này, con xin chia sẻ một khía cạnh nhỏ trong sứ vụ thừa sai cao cả này, khởi điểm của người “môn đệ thừa sai hưu trí và đau bệnh” đó là việc cầu nguyện, sống chứng tá âm thầm trong đời sống cộng đoàn hằng ngày.

“Một tu sĩ khi đến tuổi hưu hoặc một tu sĩ đang đau bệnh họ truyền giáo bằng cách nào? Họ trở thành “người môn đệ thừa sai” ra sao?” là câu hỏi hiện lên trong đầu con, khi con được sai đến cộng đoàn được gọi là “tiền hưu dưỡng” của nhà Dòng, nơi có đa số quý Dì cao niên đang hiện diện. Nhưng rồi câu hỏi đó dần có đáp án khi những ngày tháng được sống trong cộng đoàn đã cho con nhận ra rằng: Đời sống phục vụ của người nữ tu không dừng lại khi họ bước chân vào tuổi hưu dưỡng. Nhưng bằng nhiều cách thức khác nhau, người nữ tu ấy đang thi hành một sứ vụ quan trọng khác cho Hội dòng và Giáo hội bằng chính cuộc sống tuổi già của mình. sự trầm lắng trong lối sống, sự thánh thiện và nhân đức trong cách ứng xử và cả tâm tình tín thác là điều dễ nhận ra hơn nơi các ngài. Như tác giả sách Khôn ngoan viết: “Gốc rễ của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa, cành lá của khôn ngoan là cuộc đời trường thọ” (Kn 1,18), vậy một trong những sứ vụ của tu sĩ cao niên chẳng phải là sống có phẩm giá để thế hệ sau noi theo hay sao?

Có một điểm nhấn quan trọng của các tu sĩ khi bước vào tuổi cao niên đó là khi các hoạt động tông đồ phải tạm gác lại vì lý do tuổi tác, các ngài trở thành ngọn đèn chầu nhỏ bé nhưng luôn cháy sáng bên Thánh Thể Chúa. Đời sống cầu nguyện liên lỉ của các ngài là sức mạnh thiêng liêng cho mọi hoạt động của nhà dòng. Không có khái niệm “nghỉ hưu” theo nghĩa thông thường trong đời sống thánh hiến. Thay vào đó, các ngài chuyển sang hoạt động trong một sứ vụ mới. Sứ vụ kết hợp mật thiết với Chúa Kitô trong đời sống cầu nguyện, hy sinh để chuyển cầu và thông ban ơn Chúa cho mọi người.

Dấn thân trong đời sống thánh hiến không chỉ ở nơi các giáo xứ, các miền truyền giáo, các việc làm tông đồ nhưng còn là sự đón nhận những đau đớn từ bệnh tật. Đến cùng với tuổi già là sự xuất hiện của những căn bệnh. Đau đớn thể xác khi tuổi đà xế bóng không là vật cản trên con đường nên thánh của các tu sĩ cao niên. Bởi lẽ, họ chọn cách kết hợp với Đức Kitô trên thập giá để thánh hóa những đau bệnh của mình. Mỗi sự đau đớn đều là dịp hy sinh. Và cả khi nằm trên giường bệnh, cũng là lúc các tu sĩ được sống kết hợp với Đức Kitô cách thâm sâu nhất, cả về thể xác và tinh thần.

Tuổi già không chỉ là phúc lành Thiên Chúa ban riêng cho các tu sĩ của Ngài, nhưng là cho tất cả chúng ta. Đời sống phục vụ nơi người tu sĩ sẽ chỉ thực sự kết thúc vào ngày họ trở về nhà Cha trên trời. Nguyện ước đời sống của các tu sĩ cao niên sẽ mãi là ngọn hải đăng chiếu sáng tình yêu Chúa, để chính tình yêu ấy lại một lần nữa được thắp lên và tỏa lan nơi những người được đón nhận.

Còn sứ vụ “thừa sai” các tu sĩ trẻ đang đau bệnh thì sao? Họ làm gì khi họ không còn hoặc tạm thời không đủ sức để dấn thân đến những vùng ngoại biên trực tiếp thực thi sứ vụ mà Hội Dòng đã ủy thác cho họ trong ngày họ tuyên khấn? Họ ở lì trên giường bệnh và hằng ngày “đau đáu với số phận hẩm hiu của mình” chăng? Thưa không, họ vẫn có thể truyền giáo thông qua việc hiệp thông sự đau khổ với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, biến giường bệnh thành bàn thờ và nơi cầu nguyện. Họ lan tỏa tình yêu Chúa bằng sự phó thác, bình an, chấp nhận nghịch cảnh, và trở thành nguồn an ủi cho những người bệnh khác, minh chứng cho sức mạnh thiêng liêng vượt trên thể xác.

Cụ thể, các tu sĩ trẻ đau bệnh truyền giáo bằng cách họ dâng lời cầu nguyện và sự đau đớn: Họ biến bệnh tật thành lời kinh, cầu nguyện cho Giáo hội, cho những người chưa biết Chúa và những người đang gặp khó khăn; Tiếp đến, họ sống phó thác và bình an: Sự bình thản, niềm vui và nụ cười trong lúc đau đớn bệnh tật trở thành chứng từ mạnh mẽ về đức tin, giúp người khác nhìn thấy tình yêu và sức mạnh của Thiên Chúa; Và mỗi khi được lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân, họ ý thức Bí tích này không chỉ chữa lành tâm hồn mà còn giúp họ kết hợp chặt chẽ hơn với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, mang lại ơn ích thiêng liêng cho chính mình và cộng đồng. Và có thể họ sẽ trở thành chứng nhân tại bệnh viện: Nhờ trải nghiệm nỗi đau, họ dễ cảm thông, lắng nghe và nâng đỡ tâm linh cho các bệnh nhân khác, giúp họ tìm thấy ý nghĩa trong sự đau khổ. Con cũng từng biết, có nhiều tu sĩ còn dành thời gian đau bệnh để viết sách, chia sẻ trực tuyến: Dù nằm một chỗ, họ vẫn có thể lan tỏa niềm tin qua các bài viết, nhật ký tâm linh, hoặc qua mạng xã hội, truyền cảm hứng về một cuộc sống hy vọng. Thật vậy, việc chấp nhận bệnh tật một cách cao thượng là một hình thức sứ vụ đặc biệt, chứng minh rằng sự truyền giáo không chỉ đến từ hành động bên ngoài mà còn từ nội tâm sâu sắc.

Hội Đồng Giám mục Việt Nam, công bố trong thư chung 2025 nhấn mạnh: “sứ mạng loan báo Tin Mừng là trách nhiệm hàng đầu và cũng là thách đố lớn nhất của Hội Thánh…Sẽ thật sai lầm nếu nghĩ rằng công việc loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của một số người chuyên trách, còn các tín hữu khác chỉ là những người thụ hưởng…”.

Các Giám mục cũng giải thích rằng “tín hữu tham gia vào sứ mạng này bằng những việc tốt lành trong đời sống cá nhân, gia đình cũng như trong xã hội. Các ngài nhấn mạnh rằng các Kitô hữu phải nên thánh, bởi vì những dấu chỉ thánh thiện giúp cho lời rao giảng của họ có tác động đến người nghe. Điều cần thiết là Kitô hữu phải kín múc ánh sáng và sức sống từ Lời Chúa và Thánh Thể, để có thể lan tỏa ánh sáng cho người khác. Các Ngài còn nhấn mạnh đến những việc làm cụ thể như cầu nguyện, học hỏi và sống chứng tá ngay trong môi trường sống của mình”.

Vì thế, dù đang trong độ tuổi nào, đang sống trong hoàn cảnh nào, trong môi trường nào, nếu sống đúng căn tính của người kitô hữu, mỗi người chúng ta đều trở thành “Một người môn đệ thừa sai” đích thực của Chúa Kitô và Hội Thánh của Người.

 

Nt. Lucia Nguyễn Châu

(Trích NS Catarina số 52, 2026)

Nguồn: daminhthanhtam.com