
Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi.
Bài trích sách Xuất hành.
4b Khi ấy, ông Mô-sê thức dậy và lên núi Xi-nai theo lệnh của Đức Chúa, tay mang hai bia đá.
5 Đức Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. 6 Đức Chúa đi qua trước mặt ông và xướng : “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” 8 Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9 và thưa : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”
Đ.Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
52Lạy Chúa, chúc tụng Ngài
là Thiên Chúa tổ tiên chúng con,
chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển.
Đ.Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
53Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang,54chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng.
Đ.Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
55Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá
mà thấu nhìn vực thẳm,56chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh.
Đ.Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.
Ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, tình thương của Chúa Cha, và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
11 Thưa anh em, anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em.
12 Anh em hãy hôn chào nhau cách thánh thiện. Mọi người thuộc dân thánh ở đây gửi lời chào anh em.
13 Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. A-men.
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa đã có, hiện có và đang đến,
xin tôn vinh chúc tụng muôn đời. Ha-lê-lui-a.
Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên
ĐẤNG QUYỀN NĂNG VÀ YÊU THƯƠNG
Trí tuệ của chúng ta không thể hiểu hết về Thiên Chúa. Bởi lẽ Thiên Chúa không ở cùng một phạm trù với chúng ta. Chúng ta là những con người hữu hạn, Thiên Chúa là Đấng quyền năng vô biên; Chúng ta chỉ quan sát và thấy được những gì là hữu hình; Thiên Chúa là Đấng thông hiểu mọi sự. Những gì khoa Giáo lý trình bày về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, chỉ là những loại suy của lý trí, để tìm cách diễn tả dựa vào Mạc khải và nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.
Thiên Chúa chúng ta tôn thờ vừa là Đấng duy nhất, vừa có Ba Ngôi vị; nói cách đơn giản, Ngài vừa là Một, vừa là Ba. Đó là ý nghĩa của chữ Trinity, hay tiếng La-tinh là TRINITAS. Chữ này chỉ có nghĩa là ba – một. Thiên Chúa có ba ngôi, và ba ngôi và cùng một bản thể. Ba ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Dựa vào Kinh Thánh, nhất là lời Chúa Giê-su trong Phúc Âm, các nhà thần học ngay từ những thế kỷ đầu đã suy tư và tình bày về mầu nhiệm Ba Ngôi. Trước những bè lạc giáo, điển hình là giáo phái Aritus, Giáo Hội đã định tín cách chính thức về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi qua hai Công đồng quan trọng nhất của thế kỷ IV. Đó là Công đồng Nicea I (năm 325) và Công đồng Constantinopolis I (năm 381). Hai công đồng này cùng nhau hình thành nên Kinh Tin Kính Nicêa–Constantinopolis, bản tuyên xưng đức tin về Ba Ngôi mà Giáo Hội dùng cho đến hôm nay.
*Công đồng Nicêa I tuyên tín rằng:
-Chúa Con “đồng bản thể” (homoousios) với Chúa Cha
-Chúa Con là Thiên Chúa thật, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời
-Người được sinh ra mà không phải được tạo thành
* Công đồng Constantinopolis I khẳng định:
-Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa thật
-Ngài bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra
-Ngài được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con
Khi tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, chúng ta tôn vinh quyền năng tối cao của Thiên Chúa. Ngài khác biệt với loài người, vì Ngài là Tạo Hóa và con người chỉ là tạo cật do Thiên Chúa dựng nên. Trong lịch sử cứu độ, nhiều lần Thiên Chúa đã tỏ uy quyền của Ngài, qua đó Ngài khẳng định với dân tộc Ít-ra-en là không có vị thần hay chúa nào khác ngang hàng với Ngài. Bài đọc I diễn tả sự cao cả của Thiên Chúa và sự thấp hèn của con người. Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho ông Môi-sen. Ông Môi-sen thờ lạy và cầu xin Ngài tha thứ những lỗi lầm của dân Ít-ra-en, đồng thời xin Ngài đồng hành với dân này, mặc dù họ cứng đầu cứng cổ.
Là Đấng quyền năng tuyệt đối, Thiên Chúa của chúng ta cũng là Đấng yêu thương vô bờ. Lịch sử dân tộc Ít-ra-ren kể lại tình yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại, cách riêng đối với Ít-ra-en, là dân riêng Ngài đã chọn. Vì yêu thương nên Chúa đã tạo dựng con người. Ngài đặt con người ở địa vị cao sang, chỉ thua kém các thiên thần một chút. Ngài khoan dung tha thứ cho con người khi họ trót lỗi phạm và khi họ sám hối ăn năn từ bỏ tội lỗi. Minh chứng lớn nhất của tình yêu Thiên Chúa là việc Ngài sai Con Một đến trần gian để cứu chuộc con người. Đức Giê-su đã khẳng định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Bài Phúc Âm). “Tình yêu” là bản chất của Thiên Chúa. Hôm nay, Thiên Chúa vẫn đang thể hiện tình yêu đối với con người, qua Thánh Thần và qua Giáo Hội. Chúa Thánh Thần tiếp nối công việc của Chúa Giê-su, để dẫn đưa con người đến với Chúa Cha. Giáo Hội là thân thể huyền nhiệm của Chúa Giê-su, là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ”, là con thuyền chở nhân loại tới bến bờ hạnh phúc. Con thuyền ấy có cờ hiệu là thập giá Chúa Giê-su. Cùng với ơn Chúa Thánh Thần, Giáo Hội có sứ mạng loan báo và làm chứng cho Đức Giê-su, đồng thời làm cho vương quốc tình yêu mà Chúa Giê-su đã khai mở được trải dài đến mọi miền trên thế giới.
Thiên Chúa là tình yêu. Vậy nên những ai tôn thờ Thiên Chúa cũng phải thực hành tình yêu đối với nhau. “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”. “Người ta cứ dấu này nhận ra anh em là môn đệ của Thầy, là anh em yêu thương nhau”. Những lời giáo huấn của Chúa Giê-su cho thấy yêu thương là đặc điểm của Ki-tô hữu. Khi yêu thương đồng loại, chúng ta xưng mình là môn đệ của Chúa Giê-su. Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Cô-rin-tô hãy sống tình yêu thương huynh đệ, vì Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an. Tình bác ái sẽ đem lại bình an trong cộng đoàn tín hữu. Lời chúc của vị Tông đồ diễn tả mối tương quan của tín hữu với Chúa Ba Ngôi: Chúng ta được Chúa Cha yêu thương; được Chúa Giê-su Ki-tô ban ân sủng; và được Chúa Thánh Thần nối kết trong tình hiệp thông. Như vậy, mỗi chúng ta đều là một tác phẩm của Chúa Ba Ngôi Thiên Chúa. Cuộc sống của chúng ta phải hướng tới Chúa Ba Ngôi. Mọi việc chúng ta làm phải góp phần làm sáng danh Chúa Ba Ngôi, như chúng ta đọc thường xuyên khi làm Dấu Thánh giá: “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần”.
Xin Thiên Chúa, Đấng quyền năng và yêu thương, luôn bao bọc chúng ta trong tình yêu viên mãn của Ngài. Amen.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh
CHÚA BA NGÔI
Tín điều Một Chúa Ba Ngôi ngày xưa được gọi: Tín điều Nhất Thể Tam Vị, là một chân lý quan trọng và khó hiểu trong Kitô giáo, thật ra mầu nhiệm Thiên Chúa Độc Nhất thì trong Cựu Ước dân Thiên Chúa đã tin từ lâu rồi, dân tộc Do thái là dân theo tôn giáo độc thần, tức chỉ tôn thờ Một Thiên Chúa mà thôi, còn các dân khác theo đa thần giáo. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là tín điều mới mẽ, dựa trên mặc khải Kinh thánh và được Giáo Hội định tín.
Kinh thánh nói gì về tín điều này. Tìm trong Kinh thánh về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, chúng ta gặp thấy sự thinh lặng. Không đoạn Kinh thánh nào nói rõ về tín điều Một Chúa Ba Ngôi cả. Trong Cựu Ước có thuật trình ám chỉ đến Chúa Ba Ngôi qua câu chuyện ông Áp-ra-ham đón tiếp ba thần sứ của Thiên Chúa : “Đức Chúa hiện ra với ông Áp-ra-ham tại cụm sồi Mam-rê, khi ông đang ngồi ở cửa lều, vào lúc nóng nực nhất trong ngày. Ông ngước mắt lên thì thấy có ba người đứng gần ông … ông sụp xuống lạy…” (St 18, 1-2).
Được gợi ý từ trình thuật nầy họa sĩ An-dré Rou-blev người Nga, ở thế kỷ 16 đã sáng tác bức tranh thánh tượng (i-cô-ne) nổi tiếng diễn tả buổi tiếp đón các thần sứ dưới hình dạng ba nhân vật ngồi bàn ăn, còn ông Áp-ra-ham đứng hầu bàn. Bức thánh tượng được truyền thống công giáo nhìn nhận là lời tiên báo về Chúa Ba Ngôi. Điều đáng suy niệm là trong bức thánh tượng này nhà họa sĩ có vẽ một chiếc ghế đẩu trống, không ai ngồi cả. Phải chăng ngụ ý của nhà hoạ sĩ muốn nói chiếc ghế đó là chỗ dành cho bất cứ ai muốn đi vào đối thoại và tham dự đời sống của Thiên Chúa.
Trong Tân Ước nhiều đoạn nói đến Chúa Ba Ngôi nhưng không dùng số đếm toán học: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. A-men” (x. Bài Đọc 2. 2Cr 13, 11-13) . Trong Thư thứ nhất, Thánh Gio-an có nói đến số ba: “Cả ba đều làm chứng: nước, Thánh Thần và máu” (1Ga 5,8). Lời mặc khải về Thiên Chúa được thánh Gio-an khẳng định: “Thiên Chúa đã ban Con Một cho thế gian để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết” (x. Bài Tin Mừng Ga 3, 16-18). Như thế Kinh thánh có khẳng định sự hiện diện của Cha, Con và Thánh Thần.
Ba Ngôi cũng không phải là danh xưng của Thiên Chúa, nhưng là tên của một tín điều được Giáo Hội tuyên xưng. Chúng ta không biết gì về sinh hoạt của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể nói về Thiên Chúa căn cứ vào những gì Đức Giê-su mặc khải qua lời Người nói và việc Người làm. Đức Giê-su chính là hoạt động bên ngoài của Thiên Chúa. Căn cứ vào hoạt động của Người thi ân cho dân chúng mà chúng ta biết về Chúa Ba Ngôi. Hoạt động đó gồm có mọi lời Người giảng dạy và mọi phép lạ Người làm, bản thân của Đức Giê-su là trọn vẹn mặc khải về Chúa Ba Ngôi,
Trong ý nghĩa giản lược chúng ta có thể hiểu về chức năng của từng ngôi vị: Chúa Cha sáng tạo và vận hành vũ trụ ; Chúa Con xuống thế cứu chuộc nhân loại bằng cái chết và sự phục sinh của mình; Chúa Thánh Thần thánh hoá và hướng dẫn Giáo Hội. Chức năng chính yếu của Cha là sinh ra Con; Con được Cha sinh ra; và Thánh Thần xuất hiện cách nhiệm lạ từ tình yêu của Cha và Con, chứ không phải Cha và Con sinh ra Thánh Thần. Ba Ngôi hiện hữu cùng một trật, có cùng một bản thể, có quyền năng ngang nhau, điều làm cho Ba Ngôi khác biệt nhau chính là mối tương quan giữa ngôi nầy với các ngôi khác, Cha sinh ra Con, chứ không nói ngược lại Con sinh ra Cha … Mọi hoạt động của Thiên Chúa Ba Ngôi là do năng lực của Chúa Thánh Thần từ sáng tạo cho đến cứu chuộc.
Thánh Thần là tình yêu liên lỉ giữa Cha và Con, như vậy cho thấy Thiên Chúa là tình yêu năng động, một tình yêu không đơn độc khép kín trong tháp ngà, do đó sinh hoạt của Thiên Chúa chỉ là tình yêu tạo dựng và cứu độ. Truyền thống Giáo Hội Đông phương diễn tả Chúa Thánh Thần là nụ hôn của Cha trao cho Con, khi Cha yêu Con và hôn Con thì Thánh Thần xuất hiện. Thánh Thần xuất hiện một cách nhiệm lạ từ Cha và Con, thần học công giáo gọi Chúa Thánh Thần nhiệm xuất từ Cha và Con.
Lạy Chúa Ba Ngôi, con tin thật tình yêu của Chúa Cha đã được thực hiện trong vũ trụ qua các công trình sáng tạo, con tin Chúa Con cứu độ trần gian bằng cuộc khổ nạn và phục sinh, con tin Chúa Thánh Thần là sức sống thánh hoá Giáo Hội. A-men
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku
______________________
Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” (Ga 3:16).
Quý ông bà và anh chị em thân mến,
Đoạn Lời Chúa trong Tin Mừng Gioan chúng ta sẽ cầu nguyện trong ngày Lễ Chúa Ba Ngôi tuy thật ngắn gọn, xúc tích… nhưng lại gửi tới một thông điệp và chân lý rõ ràng, đó là niềm tin vào Chúa Ba Ngôi và sự sống vĩnh cửu của niềm tin ấy.
Mặc dù đọc toàn bộ bản văn Tin Mừng Ga 3:16-18 chúng ta không ấy nhắc tới Chúa Thánh Thần dù chỉ một câu chữ, nhưng nếu liên kết với lời chứng của Thánh Phaolô, chúng ta sẽ nhận ra hình ảnh của Chúa Thánh Thần trong lời trò chuyện của Đức Giêsu với ông Nicôđêmô. Chẳng hạn như khi Thánh Phaolô gửi lời chúc bình an đến các tín hữu ở Côrintô thì ngài nhắc tới sự thông hiệp của Chúa Thánh Thần trong ơn sủng của Chúa Giêsu và tình yêu của Chúa Cha (x. 2Cr 13:13); hoặc Thánh Phaolô xác tín rằng lời tuyên xưng “Đức Giêsu Kitô là Chúa” của chúng ta là nhờ bởi Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 12:3); Thánh Phaolô cũng làm chứng rằng “ai sống theo Thánh Thần Thiên Chúa, thì là con cái Thiên Chúa” (Rm 8:14), thâm chí ngài tuyên bố rằng các nhân đức đối thần (Tin-Cậy-Mến) nơi người tín hữu là do ơn sủng của Chúa Thánh Thần (x. Rm 5:1-5), v.v.. Vì thế, khi Chúa Giêsu nói “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời ” (Ga 3:16) là bao hàm sự hiện hữu của Chúa Thánh Thần, vì con người chỉ có thể tin vào Thiên Chúa khi được Chúa Thánh Thần ban ơn, dẫn dắt, thúc đẩy…
Chúa Ba Ngôi thường được diễn ta qua các hình ảnh sống động. Sở dĩ phải dùng hình ảnh để diễn tả phần nào về Chúa Ba Ngôi vì Ngài là một mầu nhiệm, và để giúp làm nhẹ nhàng hơn cho một giáo lý trừu tượng về Ngài. Mầu nhiệm thì không dễ hiểu, khó nắm bắt, lý trí chỉ hiểu phần nào thôi, còn lại phải lấy đức tin bù lại và cảm nghiệm bề trong. Chẳng hạn như, Nước là hình ảnh sống động về Chúa Ba Ngôi ở ba thể: rắn, lỏng, khí (hơi). Mặt Trời hoặc ngọn lửa đang cháy bừng gồm có: tự thân mặt trời (hoặc ngọn lửa) là Chúa Cha, các tia sáng là Chúa Con (“Ta là ánh sáng thế gian…” (Ga 8:12)), và hơi ấm của mặt trời là Chúa Thánh Thần. Hình tam giác đều hoặc bếp kiềng ba chân, có ba cạnh bằng nhau hoặc ba chân giống nhau, thiếu một cạnh thì không thể là hình tam giác, thiếu một chân không còn là kiềng nữa và sẽ đổ ngã. Thánh Inhã Loyola thấy thị kiến về Chúa Ba Ngôi qua biểu tượng ba phím đàn: ba phím đàn tạo thành hợp âm chuẩn và hài hòa. Trong bức tranh nổi tiếng của danh họa Andrei Rublev vẽ về ba vị khách là ba thiên thần được Thiên Chúa sai đến gặp tổ phụ Ápraham (x. St 18:1-15), đã được nhiều người nhìn nhận như hình ảnh biểu tượng về Chúa Ba Ngôi khi các Ngài ngồi chung quanh chiếc bàn thể hiện sự bình đẳng, tôn trọng, yêu thương và hiệp nhất nên Một.
Trong ngày mừng lễ Chúa Ba Ngôi hôm nay, khi chúng ta cầu nguyện, hãy ý thức để ý tới sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa cách đặc biệt. Đâu là dấu chỉ giúp chúng ta nhận biết sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong các giờ cầu nguyện của chúng ta? Chẳng hạn như: động cơ nào giúp chúng ta tìm đến Chúa qua việc cầu nguyện? Nói cách khác, có phải Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta đi cầu nguyện? Chúng ta cầu nguyện thế nào? Có phải Chúa Thánh Thần giúp chúng ta cầu nguyện và được tiếp cận Thiên Chúa (x. Rm 8:26-27)? Chất liệu chúng ta cầu nguyện là gì? Nếu là một sự kiện, một biến cố vừa xảy đến trong cuộc sống chúng ta thì có phải là do ý Chúa Cha muốn như thế, có phải để chúng ta được kết hiệp với Chúa Kitô cách thân mật hơn dù là những khổ đau ngập tràn, có phải là sự tác động của Chúa Thánh Thần để chúng ta biết sử dụng những sự kiện và biến cố ấy để tìm kiếm ý Chúa? Nếu chúng ta cầu nguyện với Lời Chúa, thì có phải Chúa Giêsu chính là những Lời chúng ta dùng cầu nguyện, và Chúa Cha là Đấng chúng ta được cảm nếm bề trong và chạm tới Người khi chiêm ngắm những Lời ấy? Và còn rất nhiều dấu chỉ khác nữa chúng ta sẽ nhận thấy trong giờ cầu nguyện riêng sắp tới. Hy vọng quý vị sẽ có được những kinh nghiệm mới mẻ về Chúa Ba Ngôi và sự hiện diện của Người trong các hoạt động của đời sống đức tin hằng ngày của quý vị.
Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!
