Các Hiệp Hội Tín Hữu

Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi họ là “những nhà thừa sai của tình yêu thương và sự dịu hiền của Thiên Chúa”. Các hội huynh đệ – những nhóm giáo dân Công giáo gắn kết với nhau bởi đức tin – đã tồn tại từ những ngày đầu của Giáo hội. Qua nhiều năm, các nhóm này, dưới sự hướng dẫn của Giáo hội, đã nỗ lực thúc đẩy các hành vi đạo đức và bác ái.

Theo Bách khoa toàn thư về Lòng sùng đạo và thực hành Công giáo, “hội huynh đệ” (confraternity) là tên gọi chung được sử dụng để mô tả các nhóm này, nhưng chúng bao gồm các hiệp đoàn, các hội đạo đức, các liên đoàn, các dòng ba, các tu hội đời và các nghiệp hội.

Những nhóm này có nguồn gốc từ Giáo hội sơ khai khi giáo dân cùng nhau chăm sóc người bệnh và chôn cất người chết. Vào thế kỷ 15 và 16, các hội huynh đệ ở Rôma đã hỗ trợ những người hành hương đến thăm thành phố.

Các hiệp hội tín hữu đang đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực tân Phúc Âm hóa của Giáo hội. Trong một bài luận có tựa đề “Các phong trào Giáo hội như những tác nhân của công cuộc tân Phúc Âm hóa”, Richard McCord thuộc Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ viết: “Các phong trào Giáo hội là một thuật ngữ chung cho nhiều nhóm và hiệp hội tình nguyện trong Giáo hội, chủ yếu trong thế kỷ 20.” McCord nói rằng các phong trào Giáo hội là sự tiến triển của các nhóm truyền thống như các hội huynh đệ vốn đã xuất hiện trong suốt lịch sử của Giáo hội và có thể hữu ích trong việc tân Phúc Âm hóa.

“Bởi vậy, tất cả giáo dân đều có nhiệm vụ cao cả là làm cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa ngày càng được triển khai đến tất cả mọi người ở mọi thời đại và mọi nơi. Vì thế, phải mở rộng đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội, tuỳ năng lực của họ và tuỳ nhu cầu của thời đại”

Công đồng Vatican II đã thổi luồng sinh khí mới vào các hiệp hội giáo dân, và Hiến chế “Lumen Gentium” do Giáo hoàng Phaolô VI ban hành năm 1964 đã tái khẳng định tầm quan trọng của hoạt động tông đồ giáo dân đối với sứ mạng của Giáo hội :

Tất cả những người giáo dân, được quy tụ trong đoàn Dân Thiên Chúa và làm nên Thân mình duy nhất có cùng một đầu là Đức Kitô, đều được kêu gọi nên như những chi thể sống động, để góp phần vào tiến trình tăng trưởng và thánh hóa liên lỷ của Giáo Hội với nguồn sức mạnh nhận được từ ơn phúc của Đấng Tạo hóa và ân sủng của Đấng Cứu chuộc.

Hoạt động tông đồ giáo dân là thông phần vào chính sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội. Qua bí tích Thánh tẩy và Thêm Sức, chính Chúa ủy thác việc tông đồ đó cho tất cả các tín hữu. Các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, thông ban và nuôi dưỡng đức ái đối với Thiên Chúa và con người, vốn là linh hồn của toàn thể hoạt động tông đồ. Tuy nhiên, giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và tác động trong những nơi chốn và môi trường mà chỉ nhờ họ, Giáo Hội mới có thể trở thành muối của trần gian. Do đó, với những ân huệ đã lãnh nhận, mỗi người giáo dân là chứng nhân đồng thời cũng là dụng cụ sống động cho sứ mệnh của Giáo Hội “tùy theo mức độ ân sủng đã được Đức Kitô ban cho” (Ep 4,7).

Ngoài việc tông đồ vốn liên quan đến tất cả các Kitô hữu, người giáo dân cũng có thể được mời gọi góp phần trực tiếp hơn vào hoạt động tông đồ của hàng giáo phẩm bằng nhiều cách, giống như những giáo dân nam nữ đã từng lao nhọc trong Chúa Kitô để giúp đỡ tông đồ Phaolô rao giảng Tin Mừng (x. Pl 4,3; Rm 16,3tt.). Ngoài ra, họ cũng có thể được hàng giáo phẩm bổ nhiệm vào một số công tác trong đời sống thiêng liêng của Giáo Hội.

Bởi vậy, tất cả giáo dân đều có nhiệm vụ cao cả là làm cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa ngày càng được triển khai đến tất cả mọi người ở mọi thời đại và mọi nơi. Vì thế, phải mở rộng đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo Hội, tuỳ năng lực của họ và tuỳ nhu cầu của thời đại”.  (số 33)

Vai trò của giáo dân được làm rõ hơn nữa trong một văn kiện khác của Công đồng Vatican II, Sắc lệnh “Apostolicam Actuositatem” về hoạt động tông đồ giáo dân, trong đó nêu rõ: “Giáo dân có quyền và bổn phận làm tông đồ do việc kết hợp với Chúa Kitô là Đầu. Khi đã được tháp nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô nhờ bí tích Thánh Tẩy, được nên mạnh mẽ nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần qua bí tích Thêm Sức, họ được chính Chúa giao phó trách vụ tông đồ.” (số 3).

Sắc lệnh nói đến sự cộng tác của giáo dân với hàng giáo sĩ trong tác vụ rao giảng Lời Chúa và trao ban các bí tích: “Công việc này được thực hiện chủ yếu do thừa tác vụ rao giảng lời Chúa và trao ban các bí tích, được giao phó đặc biệt cho hàng giáo sĩ, trong tác vụ đó, cả giáo dân cũng giữ một vai trò rất quan trọng để trở thành “những người cộng tác trong việc truyền bá chân lý” (3 Ga 8). Đây là lãnh vực đặc biệt trong đó hoạt động tông đồ giáo dân và tác vụ mục tử bổ túc cho nhau.”(số 6). Nhưng đặc biệt qua đời sống chứng tá bằng lời nói và việc làm: “Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ để Phúc âm hoá và thánh hóa mọi người. Chính chứng tá của đời sống Kitô hữu và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo mọi người đến với đức tin và gặp gỡ Thiên Chúa; thật vậy, chính Chúa đã bảo: “Sự sáng các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16). Tuy nhiên việc tông đồ không chỉ giới hạn trong việc làm chứng bằng đời sống; người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói hoặc cho những người chưa tin để đưa họ đến với đức tin, hoặc cho các tín hữu để giáo huấn, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sắng hơn; thật vậy, “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2 Cr 5,14), và trong lòng mọi người phải luôn vang vọng lời Thánh Tông Đồ: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).” (số 6)

Các nhóm tín hữu này được quy định trong các Điều 298-326 của Bộ Giáo luật năm 1983 và về mặt kỹ thuật được gọi là “các hiệp hội tín hữu”.

Trong Giáo Hội có những hiệp hội khác với các tu hội thánh hiến và các tu đoàn tông đồ, trong đó, các Kitô hữu, hoặc giáo sĩ hoặc giáo dân, hoặc cả giáo sĩ lẫn giáo dân cùng chung sức hoạt động nhằm phát triển một đời sống hoàn thiện hơn, hoặc cổ vũ việc phụng tự công hay học thuyết Kitô Giáo, hoặc thực hiện các việc tông đồ khác, như truyền bá Phúc Âm, thi hành các việc đạo đức hoặc bác ái, và đem tinh thần Kitô Giáo vào lĩnh vực trần thế.” (Gl, điều 298 §1).

Giáo luật định nghĩa hai loại hiệp hội – tư và công. Các hiệp hội tư tồn tại dựa trên thỏa thuận giữa các thành viên. Cơ quan giáo hội địa phương có thể công nhận hoặc không công nhận hiệp hội tư đó. Để được chính thức công nhận là hiệp hội tư của các tín hữu, hiệp hội đó phải đệ trình điều lệ của mình để cơ quan Giáo hội có thẩm quyền xem xét. (x. Gl, điều 299). “Các hiệp hội Kitô hữu do nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội thành lập được gọi là hiệp hội công” (Gl, điều 301, §3). Theo Giáo luật, cơ quan có thẩm quyền của Giáo hội đối với các hiệp hội quốc tế là Tòa Thánh, còn đối với các nhóm quốc gia là Hội đồng Giám mục địa phương.

Theo “Chỉ nam các Hiệp hội Tín hữu Quốc tế” do Hội Giáo hoàng về Giáo dân xuất bản, số lượng các hiệp hội giáo dân đã tăng lên kể từ Công đồng Vatican II. Sự phát triển của chúng, cũng như trong quá khứ, có liên quan trực tiếp đến một nhu cầu cụ thể của Giáo hội. Chỉ nam nói rằng các hiệp hội này, dù là các phong trào mới trong Giáo hội hay các hội huynh đệ và hiệp hội truyền thống hơn, đều tiếp tục mang lại cho Giáo hội “một sức sống vốn là món quà của Thiên Chúa”.

Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II coi các hiệp hội này là “một trong những thành quả quan trọng nhất của mùa xuân mới của Giáo Hội”. Ngay từ thuở ban đầu của Giáo Hội, các nhóm nhỏ Kitô hữu giáo dân đã quy tụ lại để chia sẻ một linh đạo hoặc sứ mạng cụ thể. Các nhóm này được gọi bằng nhiều tên khác nhau qua các thế kỷ, nhưng Công đồng Vatican II đã trao cho họ một nhiệm vụ mới.

Thánh Gioan Phaolô II giải thích trong Tông huấn Christifideles Laici của ngài về cách các nhóm Kitô hữu cùng chí hướng này đã được “tái sinh” trong những năm gần đây.

Trong thời hiện đại, các nhóm giáo dân như thế đã nhận được một sự khích lệ đặc biệt, dẫn đến sự ra đời và lan rộng của nhiều hình thức nhóm khác nhau: các hiệp hội, các nhóm, các cộng đồng, các phong trào. Chúng ta có thể nói về một kỷ nguyên mới của những nỗ lực tập thể của các tín hữu giáo dân. Thực tế, “bên cạnh việc hình thành các hiệp hội truyền thống, và đôi khi xuất phát từ chính nguồn gốc của chúng, các phong trào và các hiệp đoàn mới đã xuất hiện, với đặc điểm và mục đích cụ thể, cho thấy sự phong phú và đa dạng của các nguồn lực mà Chúa Thánh Thần nuôi dưỡng trong cộng đồng Giáo hội là rất lớn lao, và khả năng sáng kiến cũng như lòng quảng đại của giáo dân chúng ta là rất lớn lao.”” 

Trong khuôn khổ cử hành Năm Đức Tin, trong bài giảng ngày 5/5/2013, nhân Ngày các Hội huynh đệ và Lòng đạo đức bình dân, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói: “Trải qua nhiều thế kỷ, các hội huynh đệ đã là cái nôi của sự thánh thiện cho vô số người đã sống tương quan mật thiết với Chúa trong sự đơn sơ hoàn toàn. Hãy kiên quyết tiến bước trên con đường nên thánh; đừng bằng lòng với một đời sống Kitô giáo tầm thường, nhưng hãy để sự gắn bó của anh chị em trở thành động lực, trước hết là cho chính anh chị em, hướng đến một tình yêu lớn lao hơn dành cho Chúa Giêsu Kitô”. Đức Thánh Cha cũng gọi họ là “những nhà thừa sai của tình yêu thương và sự dịu hiền của Thiên Chúa”.

Mỗi nhóm đều sở hữu “đặc sủng” riêng thúc đẩy họ tập trung vào một khía cạnh cụ thể của đức tin Kitô giáo. Ví dụ, nhóm đó có thể tập trung vào việc phục vụ người nghèo, hỗ trợ sự đào tạo thiêng liêng cho các cá nhân, hoặc loan báo Tin Mừng.

Tý Linh

(tổng hợp các nguồn)

Nguồn: xuanbichvietnam.net