Chúa Nhật 15 Thường Niên Năm A – Man-na Cho Người Lữ Hành

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 55,10-11

Đáp ca : Tv 64,10.11-12.13-14 (Đ. Lc 8,8)

Bài đọc 2 : Rm 8,18-23

Tin Mừng: Mt 13,1-23

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 55,10-11

Đáp ca : Tv 64

Bài đọc 2 : Rm 8,18-23

Bài Tin Mừng : Mt 13,1-23 : Dụ ngôn người gieo giống

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Gieo Lời Chúa với lòng can đảm và hào phóng

2. Người gieo giống kỳ lạ, vừa là người gieo, vừa là người bị gieo

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 55,10-11

Mưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

10 Đây lời Đức Chúa phán :

“Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,

chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,

11 thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,

chưa thực hiện ý muốn của Ta,

chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.”

Đó là lời Chúa.

Đáp ca : Tv 64,10.11-12.13-14 (Đ. Lc 8,8)

Đ. Hạt gieo vào đất mỡ mầu,
sinh hoa kết quả dồi dào gấp trăm.

10 Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc,
cho ngập tràn phú túc giàu sang,
suối trời trữ nước mênh mang,
dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Đ.

11 Tưới từng luống, san từng mô đất,
khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm,
12 bốn mùa Chúa đổ hồng ân,
Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi. Đ.

13 Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ,
cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh,
14 chiên cừu phủ trắng đồng xanh,
lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào,
câu hò tiếng hát trổi cao. Đ.

Bài đọc 2 : Rm 8,18-23

Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

18 Thưa anh em, tôi nghĩ rằng : Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. 19 Muôn loài thụ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người. 20 Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy 21 là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. 22 Thật vậy, chúng ta biết rằng : cho đến bây giờ, muôn loài thụ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. 23 Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng : chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

Hạt giống là lời Thiên Chúa, người gieo giống là Đức Ki-tô. Ai tuân giữ lời Người, sẽ muôn đời tồn tại. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng: Mt 13,1-23

Người gieo giống đi ra gieo giống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. 2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. 3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.

Người nói : “Người gieo giống đi ra gieo giống. 4 Trong khi người ấy gieo, có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. 8 Có những hạt lại rơi trên đất tốt, nên sinh hoa kết quả : hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. 9 Ai có tai thì nghe.”

10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng : “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ ?” 11 Người đáp : “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. 12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa ; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi. 13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu. 14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng : Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy ; 15 vì lòng dân này đã ra chai đá : chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.

16 “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. 17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.

18 “Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. 19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy : đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. 20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận ; 21 nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nông nổi nhất thời : khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. 22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt Lời, khiến Lời không sinh hoa kết quả. 23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.”

Đó là lời Chúa.

Hoặc : Bài đọc ngắn Mt 13,1-9

Người gieo giống đi ra gieo giống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. 2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. 3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.

Người nói : “Người gieo giống đi ra gieo giống. 4 Trong khi người ấy gieo, có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ không có nhiều đất ; nó mọc ngay, vì đất không sâu ; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. 8 Có những hạt lại rơi trên đất tốt, nên sinh hoa kết quả : hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. 9 Ai có tai thì nghe.”

Đó là lời Chúa.

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 55,10-11

1. Trong một xứ sở tràn ngập ánh mặt trời, hết sức oi bức ở vùng sa mạc hoặc bán sa mạc, mọi người mọi vật, kể cả cây cối đều cảm thấy mát mẻ sau cơn mưa đầu tiên, và những hình ảnh ngôn sứ I-sai-a nói đến trong bài đọc chúng ta vừa nghe thật là sống động (có sức thuyết phục cao) : “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời, không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn.” Ở đây, ngôn sứ áp dụng hình ảnh này cho Lời của Thiên Chúa. Tính hiệu quả của lời Chúa là một chủ đề quan trọng trong Cựu Ước, cách riêng trong sách I-sai-a đệ nhị cũng được gọi là sách An Ủi dân Ít-ra-en (Is 40–55) mà bài đọc 1 hôm nay là phần kết thúc. Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa ngỏ lời và lời của Người luôn hữu hiệu : “Thiên Chúa phán : ‘Phải có ánh sáng.’ Liền có ánh sáng” (St 1,3) “Ngươi thấy đúng, vì Ta đang canh thức để thi hành lời Ta” (Gr 1,12). Từ “đa-va” trong tiếng Híp-ri vừa có nghĩa là lời nói vừa có nghĩa là biến cố. Vua Sa-lô-môn đã chúc lành cho dân Ít-ra-en bằng những lời sau đây : “Chúc tụng Đức Chúa, Đấng đã ban cho Ít-ra-en dân Người được nghỉ ngơi, đúng y như Người đã phán, không sai một lời nào trong tất cả những lời tốt lành Người đã dùng ông Mô-sê, tôi tớ Người, mà phán” (1 V 8,56).

2. Tính hiệu quả của lời Chúa không chỉ là đặc điểm của niềm tin Ít-ra-en, mà ở Ai-cập và vùng Lưỡng Hà, người ta cũng tin rằng lời của Thần Linh sáng tạo nên thế giới. Tuy nhiên, điều đặc sắc của Ít-ra-en là “những lời tốt lành” như vua Sa-lô-môn đã nói : “Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa ngỏ lời” để tự mặc khải và để ban sự sống và hạnh phúc cho con cái Người. Thiên Chúa của chúng ta không giống như các vị thần chỉ biết câm miệng một cách đáng thất vọng và không hề làm được gì để giúp đỡ chúng ta : “có mắt có miệng, không nhìn không nói” (Tv 115,5) ; “giả như có ai kêu (vị Thần giả hiệu), nó chẳng đáp lời, cũng chẳng cứu ai khỏi cơn khốn quẫn” (Is 46,7). “Thiên Chúa không phải là phàm nhân mà gian ngoa được, cũng chẳng là con người mà phải hối hận. Phải chăng Người nói mà không làm ? Hay Người phán mà không thực hiện ?” (Ds 23,19), “cỏ héo, hoa tàn, nhưng lời của Thiên Chúa chúng ta đời đời bền vững” (Is 40,8). Sự tin tưởng vào lòng trung tín của Thiên Chúa và lời của Người chính là niềm hy vọng của dân Ít-ra-en : “Không phải vì anh em công chính hay vì lòng anh em ngay thẳng mà anh em sắp được vào chiếm hữu đất của chúng … Đức Chúa làm như vậy là để giữ vững lời Người đã thề với cha ông anh em là ông Áp-ra-ham, ông I-xa-ác và ông Gia-cóp” (Đnl 9,5).

3. Từ đó chúng ta thấy chủ đề “lắng nghe” trong toàn bộ Kinh Thánh quan trọng như thế nào : Nếu Thiên Chúa ngỏ lời là để đem lại hạnh phúc cho chúng ta, việc của chúng ta là phải lắng nghe lời Người vì Người tôn trọng tự do của chúng ta : “Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống” (Is 55,3a). Lời của Chúa thì hữu hiệu, đó là ý nghĩa của bài đọc 1 hôm nay, nhưng với một điều kiện không thể thiếu là phải có thửa đất màu mỡ thì lời đó mới đem lại hiệu quả cho người nghe được (bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay : Mt 13,1-23).

Nếu đọc kỹ những câu phía trước bài đọc 1 hôm nay, chúng ta mới nhận thấy tính độc đáo của lời Thiên Chúa, là lời tha thứ và hoà giải : “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa, và Người sẽ xót thương, về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ. Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi” (Is 55,6-8). Sứ mạng được bàn đến ở đây (“thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả”) là sứ mạng công bố sự tha thứ nhưng không của Thiên Chúa, và như thế là công bố sự hoà giải của nhân loại với Thiên Chúa là “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Do đó, Người đã sai Ngôi Lời đến thế gian : “Đây là Con Ta yêu quý, hãy vâng nghe Lời Người.”

Đến lượt mình, các môn đệ được sai đi như là những sứ giả của sự hoà giải : “Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta được hoà giải với Người, và trao cho chúng tôi chức vụ hoà giải” (2 Cr 5,18). Thư Híp-ri cũng nói như thế : “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật” (Hr 1,1-3). Ngôi Lời không trở về cùng Cha mà không thành công, mà chưa hoàn thành sứ mạng hoà giải của Người, nhưng trong thực tế, Người đã hoàn thành xuất sắc sứ mạng hoà giải nhân loại với Thiên Chúa qua cái chết trên thập giá, đã phục sinh và lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.

Đáp ca : Tv 64

Thánh vịnh 64 là một lời tạ ơn long trọng mà dân Ít-ra-en dâng lên Thiên Chúa, vì Người là Đấng luôn lắng nghe dân cầu khẩn và tha thứ mọi lỗi lầm cho họ. Những câu trích thánh vịnh 64 hôm nay là phần cuối của thánh vịnh này, nói đến mùa xuân, sự sống. Đây là một lời chúc tụng Thiên Chúa, Đấng làm nên mùa xuân. Bên Đông Phương, nước là sự sống. Mùa xuân Do-thái là dấu chỉ đặc biệt của niềm vui. Cánh đồng múa hát, những luống cày, đồi núi, cỏ xanh, bông hoa, suối nước, đàn vật … tất cả đều reo vui. Con người ngày nay, ngay cả những người đang sống trong các thành phố bê tông hoá, cũng không thể vô cảm trước loại hình ngôn ngữ này : các quảng trường thành phố chúng ta không giống nhau, các cửa kính, các siêu thị trang hoàng muôn hoa, các kệ hàng trong các cửa tiệm thực phẩm chất đầy những rau quả tươi, và cứ mỗi tuần vào mùa xuân chứng kiến người ta hối hả tuôn về miền quê, mang theo bầu khí lễ hội. Bài ca tụng sự sống này chỉ ở mức độ thiên nhiên. Tại sao chúng ta, những kẻ tin, lại không gặp Thiên Chúa ? Ta có thể phá huỷ thiên nhiên, nhưng ta không làm điều đó. Sinh thái học dạy ta phải biết tôn trọng những cân bằng trong thiên nhiên. Chẳng lẽ không có một Đấng Thượng Trí nào đó ở sau thiên nhiên sao ? Vậy tại sao ta không cầu nguyện với đôi mắt mở to trước một đồng cỏ hoặc trong một rừng cây ? Trước một khóm hoa hồng hay trước một cánh đồng lúa chín vàng ?

“Bánh và rượu, hoa màu của ruộng đất và lao công của con người.” Trong phần dâng lễ vật có lời đọc này diễn tả mối liên kết giữa Thiên Chúa và con người để làm nên bánh rượu. Thiên Chúa ban tặng sự sống, nhưng Người giao cho con người làm cho phát triển, làm chủ, bảo vệ và kiện toàn. Mỗi thánh lễ là nơi dâng lên Thiên Chúa mọi lao nhọc của ta. Nên nghĩ rằng Thiên Chúa đã chọn chúng ta không phải hoàn tất công trình tạo dựng của Người, nhưng để giao cho chúng ta làm cho vũ trụ thiên nhiên Chúa đã dựng nên ngày thêm tươi đẹp và hữu ích cho tất cả chúng ta.

Bài đọc 2 : Rm 8,18-23

Khởi đầu chương 8, thánh Phao-lô đã quả quyết rằng, nhờ sự phục sinh của Ðức Ki-tô, Thần Khí làm cho chúng ta trở thành nghĩa tử, nhờ đó chúng ta có thể được kêu lên : “Áp-ba, Cha ơi !” (Rm 8,15) và giải thoát chúng ta khỏi mọi nô lệ tội lỗi. Trong bài đọc 2 chúng ta vừa nghe, lời quả quyết về định mệnh hạnh phúc và vinh quang được nhấn mạnh hơn. Tuy nhiên, thánh Phao-lô nói rõ rằng việc đó chưa đến mà đang được thực hiện, nên hiện giờ ta vẫn còn gặp đau khổ trong cuộc lữ hành trần thế này. Một cơn đau đớn mà Kinh Thánh thường so sánh với cơn đau của người phụ nữ sắp sinh con (x. Mt 24,8) cần phải vượt qua vì chúng ta phải nhìn thấy đó là những dấu chỉ báo trước hạnh phúc trong tương lai. Điều thánh Phao-lô muốn nhấn mạnh là sự liên đới giữa thiên nhiên và nhân loại.

Con người và vũ trụ có cùng một số phận như nhau

Hiện nay khoa học về môi trường đạt tới thời hoàng kim rực rỡ, và từ nay về sau, việc bảo vệ môi trường sống của nhân loại luôn được đề cập tới trong các cuộc tranh luận xã hội, có lẽ người Ki-tô hữu của thế kỷ XXI nhạy cảm hơn tổ tiên chúng ta trước đây về sự liên đới giữa con người và vũ trụ mà thánh Phao-lô gợi ý. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Thông điệp Laudato Sí đã đưa ra một cái nhìn mới về mối liên hệ giữa Thiên Chúa, nhân loại và trái đất. Người trích dẫn chương 8 của thư Rô-ma, trong đó thánh Phao-lô phác hoạ một tạo vật đã lâm vào cảnh hư ảo. Theo ý muốn của Đấng Tạo Hoá, con cái A-đam phải làm chủ mọi loài thụ tạo, nhưng vì việc này khiến cho vũ trụ thiên nhiên trở nên nô lệ cho tính ích kỷ của con người và làm ngược lại ý muốn của Chúa, vì thế cùng chìm đắm trong đau khổ, bất hạnh với nhau. Ta nhớ lại lời Thiên Chúa đã nói với ông A-đam : “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng : ‘Ngươi đừng ăn’, nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra” (St 3,17). Tuy nhiên, đã tới lúc nhân loại và vũ trụ, từ lâu đã liên đới với nhau trong bất hạnh, sẽ đồng hành với nhau trên con đường đi đến vinh quang và tìm lại được sự tự do. Cựu Ước đã gợi lên hình ảnh một cộng đoàn tràn ngập hạnh phúc và niềm vui nối kết nhân loại với thiên nhiên, vào một ngày lành tháng tốt, như ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Phải, các ngươi sẽ ra đi mừng rỡ hân hoan, rồi lũ lượt kéo về bình an vô sự. Trước mặt các ngươi, đồi núi sẽ cất giọng reo hò, cây cỏ ngoài đồng sẽ vỗ tay” (Is 55,12).

Bài Tin Mừng : Mt 13,1-23 : Dụ ngôn người gieo giống

1. Những câu chuyện trong chương 13 này quen gọi là “những dụ ngôn ven Biển Hồ về Nước Trời”. Thánh Mát-thêu gom lại tất cả 7 dụ ngôn. Đây là những câu chuyện đặt ra, dựa theo phong tục và nếp sống trong xã hội Do-thái ngày xưa, nhằm trình bày một giáo lý nào đó trong lãnh vực siêu nhiên. Giữa hình ảnh tự nhiên và giáo lý siêu nhiên có một điểm nào đó giống nhau, người đọc phải tìm cho ra, mới nắm được ý nghĩa khách quan của dụ ngôn.

Ý nghĩa nguyên thuỷ của dụ ngôn người gieo giống hình như nằm trong hạt lúa giống. Chúa Giê-su muốn nhấn mạnh hiệu năng của ơn Chúa (Nước Trời, Lời Chúa), việc Chúa làm sẵn có một tiềm lực đem lại hiệu quả gấp trăm. Nếu hiệu quả (mùa màng) không có hay không được như ý, thì đó không phải tại ơn Chúa (hạt thóc giống). Như vậy, dụ ngôn là một lời mời gọi tin tưởng vào sức mạnh của ơn Chúa, của việc Chúa làm.

2. Tại sao Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói ?

Dụ ngôn là một cách hé mở mầu nhiệm và khơi lên trong lòng thính giả niềm mong ước tìm hiểu thêm. Nhưng dụ ngôn không trình bày hết mầu nhiệm. Cho nên với những người có thiện chí, biết theo dõi sự tò mò thánh thiện thì dụ ngôn khai mở con đường dẫn tới mặc khải trọn vẹn ; còn với những kẻ thiếu thiện chí thì mầu nhiệm vẫn mãi là mầu nhiệm (x. Mt 7,6), đồng thời trở nên cơ hội làm cho họ ra chai lì hơn. Sự khác biệt này không phải tại Chúa. Người giảng dụ ngôn cho mọi người, nhưng tại những người nghe : một bên đi theo sự gợi ý của dụ ngôn, một bên không.

“Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa ; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi” : Có lẽ phải hiểu về những người Ít-ra-en thời Chúa Giê-su là những kẻ đang có đức tin truyền thống – đức tin này hướng về Đấng Mê-si-a như đối tượng chính – nhưng trong số này có những người nghe theo Chúa Giê-su thì được cho thêmtức là được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn những người khác thì ngay cái đang có, tức là lòng tin truyền thống, cũng sẽ bị lấy mất.

Lời trích sách ngôn sứ I-sai-a cho thấy rằng tình trạng dân Ít-ra-en thời Chúa Giê-su cũng giống như thời ngôn sứ I-sai-a, cũng như sứ vụ của ông I-sai-a, lời giảng của Chúa Giê-su đã nên dịp cho dân Ít-ra-en cứng lòng và đổ vỡ (x. Lc 2,34). Thánh Mát-thêu thấy cách Chúa Giê-su giảng cho giới bình dân bằng dụ ngôn như thế đã được tiên báo trong lời sấm của thánh vịnh 78,2 : “Mở miệng ra, tôi sẽ nói đôi lời huấn dụ, công bố điều huyền bí thuở xa xưa.” Thật ra, tác giả thánh vịnh này có ý nói đến lịch sử Ít-ra-en từ khi ra khỏi Ai-cập cho đến triều đại vua Đa-vít, và đưa ra ánh sáng những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện trong thời kỳ đó, để khuyến khích mọi người thượng tôn luật pháp của Chúa và trung thành với vua. Thánh vịnh được áp dụng vào Chúa Giê-su theo nghĩa : những sự việc lịch sử xưa là hình bóng báo trước những thực tại Nước Trời, mà Chúa Giê-su trình bày qua các dụ ngôn, và việc thiết lập triều đại vua Đa-vít cũng báo trước việc Chúa Giê-su thiết lập Nước Trời.

* Giải thích dụ ngôn người gieo giống

Theo Mc 4,10 và Lc 8,9 thì các môn đệ hỏi Chúa về ý nghĩa dụ ngôn người gieo giống. Chúng ta có thể hiểu rằng lời giải thích là của Giáo Hội muốn biến dụ ngôn về lời Chúa thành dụ ngôn về thái độ khác nhau của những ai đón nghe lời Chúa. Một khi đã chấp nhận tiềm năng của lời Chúa (có thể sinh sôi nảy nở gấp trăm), mỗi tín hữu phải cộng tác tối đa để Lời ấy thật sự mang lại kết quả tối đa.

Kết : Lời Chúa có một tầm quan trọng vô cùng đặc biệt trong đời sống Hội Thánh cũng như trong đời sống đức tin của từng người tín hữu chúng ta, và vì sống đạo là sống theo lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong các Tin Mừng, vì khi siêng năng đọc lời Chúa, lắng nghe lời Chúa, suy niệm và đem ra thực hành trong đời sống đức tin thường ngày, người tín hữu chúng ta sẽ xây dựng ngôi nhà đức tin của mình trên nền đá tảng vững chắc, dù phong ba bão táp mạnh đến đâu, cũng không làm cho ngôi nhà đó sụp đổ.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Tổng Giu-se của chúng ta đã tặng cho mỗi gia đình tại Tổng giáo phận thành phố này một quyển Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, với ước mong tha thiết là anh chị em hãy đọc lời Chúa mỗi ngày trong gia đình, để lời Chúa thấm nhập và biến đổi mỗi người chúng ta ngày càng nên giống Chúa Giê-su hơn trong đời sống yêu thương và phục vụ.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ chúng con, chúng con dâng lời ca tụng Chúa, thật là điều phải đạo, vì nhờ Đức Ki-tô, Chúa đã viếng thăm trái đất này và cho thiên hạ được no đầy ơn phúc. Những nơi đã khô cằn vì tội lỗi, Chúa đổ mưa ân sủng chứa chan ; những nơi Giáo Hội đã dày công gieo vãi, Chúa cho một mùa gặt phong phú dồi dào. Ước chi mọi người trên thế giới, nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn, biết nhận ra những việc kỳ diệu Chúa đã làm, mà không ngừng cất tiếng ngợi khen.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, anh chị em có thường xuyên đọc lời Chúa và đem ra thực hành chưa ?

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Gieo Lời Chúa với lòng can đảm và hào phóng

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Ta có thể rút ra được một bài học nữa từ dụ ngôn người gieo giống. Thái độ của người có trách nhiệm loan báo Lời Chúa. Đức Giê-su cảnh báo họ trước một cám dỗ : chỉ lo phân tích đất đai, đoán xét lòng người và hoàn cảnh, chuẩn bị sao cho đất sinh hoa kết trái. Vì thế, họ có khuynh hướng dành hạt giống cho thửa đất tốt, loại trừ những thửa đất xem ra không xứng đáng hoặc không có khả năng đón nhận Lời Chúa … Sau cùng dụ ngôn nói rằng chính hạt giống bộc lộ phẩm chất của đất đai. Hạt giống không chỉ dành riêng cho đất tốt, cho những người lành, cho những người tốt, trong những hoàn cảnh rõ ràng, sau khi các vấn đề quân bình, công bằng, phát triển, lương thiện, luân lý … đã được giải quyết. Ta vẫn thường bị cám dỗ : “Làm thế có ích gì ?” “Với những người này, trong hoàn cảnh ấy, ta chẳng có gì để làm.” Không, phải tung gieo Lời Chúa với lòng can đảm và sự hào phóng. Chính Thiên Chúa chứ không phải ta, sẽ thăm dò các tâm hồn. Ta vẫn thường ngạc nhiên : Lời Chúa bộc lộ đáy lòng thầm kín của con người. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và các tiến sĩ luật.

2. Người gieo giống kỳ lạ, vừa là người gieo, vừa là người bị gieo

(H. Denis, “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer).

Dụ ngôn đưa vào cuộc một Thiên Chúa còn có nhiều điều để nói với ta, dù đã có nhiều bình luận, giải thích, để ta bắt đầu bằng những bình luận, giải thích của chính Tin Mừng.

Quả thật, người ta có khuynh hướng lái dụ ngôn ra khỏi ý nghĩa quan trọng nhất khi biến nó thành, không phải dụ ngôn Người gieo giống nữa, nhưng là dụ ngôn về chất đất. Điều đó hợp pháp vì đó là một lối đọc do tác giả Tin Mừng đề nghị, một lối đọc theo luân lý, cảnh báo về những thái độ của con người khi đón nhận Lời Chúa, để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào. Hãy nhớ lại lối giải thích và áp dụng do nhóm “Hành động Công Giáo” đề nghị, ứng vào những “cảnh vực đời sống”.

Nhưng ta hãy trở lại với Người gieo giống.

Tôi muốn rút ra từ hình ảnh người gieo giống, mà những con tem Pháp luôn minh hoạ bằng người phụ nữ, một vài đặc điểm của Thiên Chúa chúng ta.

Trước hết, Thiên Chúa của Đức Giê-su trao ban Lời của Người có lẽ như một “hơi thở mong manh”. Nhưng Người đã trao ban. Người không giữ Lời cho riêng mình. Người cho nó mặc lấy hình hài trong thửa đất của con người.

Kế đó, Thiên Chúa gieo lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện. Cũng cần thêm rằng, người gieo hào phóng đến độ chẳng cần nhìn chỗ hạt giống rơi : trên đường đi, trong đá sỏi, trong gai góc, trên đất mỏng … nghĩa là, gieo khắp nơi. Đương nhiên có nhiều hạt giống chết đi. Người gieo giống là kẻ đầu tiên thực hành câu nói thời danh : Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, ai liều mạng sống sẽ gặp được sự sống.

Thật kỳ dị, vì người gieo giống vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. Làm sao quên được rằng Đức Giê-su là hạt giống gieo vào lòng đất ? Làm sao tin vào sự phong nhiêu của Người nếu ta từ chối cái chết của Người ?

Đức Giê-su không chỉ là cánh tay Thiên Chúa tung gieo Lời Hằng Sống. Chính Đức Giê-su là hạt lúa mì đã chôn vùi vào thửa đất có cả cỏ lùng của ta và tan biến trong lòng đất, để phục sinh trong muôn ngàn bông lúa.

Chính vì thế mà mùa gặt đỏ ối dưới ánh mặt trời Tin Mừng sẽ được thu hoạch, khi Thiên Chúa muốn, vào những kho lẫm của tình yêu vĩnh cửu.

Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân

Nguồn: WHĐ (10/7/2026)