Chúa Nhật XIV Thường Niên, Năm A (05.06.2026) – Hãy Đến Cùng Tôi (Mt 11,25-30)

 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. (Mt 11,28) 
Bài đọc 1: Dcr 9,9-10

Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi : khiêm tốn ngồi trên lưng lừa.

Bài trích sách ngôn sứ Da-ca-ri-a.

9 Đức Chúa phán như sau :

“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ !
Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò !
Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi :
Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng,
khiêm tốn ngồi trên lưng lừa,
một con lừa con vẫn còn theo mẹ.
10Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im
và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem ;
cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy,
và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân.
Người thống trị từ biển này qua biển nọ,
từ sông Cả đến tận cùng cõi đất.”

Đáp ca: Tv 144,1-2.8-9.10-11.13cd-14 (Đ. x. c.1) 

Đ.Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

1Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
con nguyện tán dương Chúa
và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.2Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa
và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

Đ.Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

8Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.9Chúa nhân ái đối với mọi người,
tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.

Đ.Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

10Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ,
kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài,11nói lên rằng : triều đại Ngài vinh hiển,
xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng.

Đ.Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

13cdChúa thành tín trong mọi lời Chúa phán,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.14Ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy,
kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên.

Đ.Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

Bài đọc 2: Rm 8,9.11-13

Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

9 Thưa anh em, anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô. 11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

12 Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. 13 Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết ; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

Tung hô Tin Mừng: x. Mt 11,25

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng: Mt 11,25-30

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————

 

Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

 

CON ĐƯỜNG KHIÊM NHU

 

Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2, 6-7). Những lời ngắn gọn này của Thánh Phao-lô tóm lược thân thế và sự nghiệp của Đức Giê-su. Khi nhập thể làm người, Chúa Giê-su đã trút bỏ vinh quang. Người đã sống thân phận con người. Mầu nhiệm Nhập thể không giống như những câu chuyện cổ tích chúng ta nghe kể thời thơ ấu. Đây là sự kiện lịch sử, là kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại. Đây là một mầu nhiệm của đức tin, nên chỉ có đức tin mới cảm nhận được. Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, cũng như các mầu nhiệm khác trong Ki-tô giáo, không thể lý luận và minh chứng theo những định luật của thế giới thụ tạo, vì tất cả loài thụ tạo chỉ là tác phẩm và công trình do Thiên Chúa dựng nên.

Vì “trút bỏ vinh quang”, nên những người đương thời không nhận ra Chúa Giê-su. Nhiều người đã chứng kiến phép lạ Chúa làm thì trầm trồ: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người” (Lc 7,16). Khi chứng kiến Chúa Giê-su tắt thở trên thập giá, viên sĩ quan Rô-ma đã thốt lên: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15,39). Ngôn sứ Da-ca-ri-a diễn tả việc Thiên Chúa đến với Dân Người bàng một hình ảnh sống động và khiêm nhu: Ngài cưỡi trên con lừa, mà là con lừa mẹ, có lừa con bám theo (Bài đọc I). Vào thời xa xưa, người ta dùng ngựa để chiến đấu, và dùng lừa để di chuyển và chở đồ. Thiên Chúa không đến với chúng ta bằng ngựa chiến, nhưng trên một con lừa, biểu tượng cho sự khiêm nhu và tình mẫu tử. Sau này, chúng ta thấy Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem cũng một cách thức ấy. Khi dân thành Giê-ru-sa-lem chứng kiến cảnh tượng này, họ liên tưởng đến lời ngôn sứ Da-ca-ri-a và hô lên: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!”.

Người tín hữu đích thực tin vào Chúa Giê-su mà không đòi bằng chứng. Họ cảm nhận được sự nâng đỡ của Chúa trong cuộc đời. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy sống như Người. Hãy học nơi người sự khiêm tốn và hiền lành. Chúa Giê-su không chinh phục thế giới bằng sức mạnh quân sự hay bằng của cải vật chất. Trên cây thập giá, Người trở nên người nghèo nhất trong số các người nghèo: trần trụi, đau khổ và cô đơn. Nhưng chính sự khiêm hạ của Chúa lại đánh động nhiều người. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (x. Ga 3,16). Cuộc sống trần gian, và nhất là cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá là minh chứng cho tình yêu ấy.

“Hãy đến với tôi. Hãy học cùng tôi…”. Ki-tô hữu là người đến với Chúa, ở lại với Người và để cuộc đời được biến đổi. Lý tưởng của người tín hữu là học với Chúa Giê-su để nên giống như Người. Mẫu mực của Ki-tô hữu không phải là một nhân vật trần thế, dù nhân vật ấy có tài giỏi và đức độ đến đâu chăng nữa, nhưng là chính Chúa Giê-su, Thiên Chúa làm người.

Nên giống Chúa Giê-su, đó là điều không tưởng! Có thể nhiều người trong chúng ta suy nghĩ như thế. Thánh Phao-lô nói với chúng ta: điều ấy có thể thực hiện được, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. “Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô thì không thuộc về Đức Ki-tô”, thánh nhân khẳng định như thế. Cuộc giao tranh giữa Thần Khí và xác thịt diễn ra ngay trong nội tâm của mỗi chúng ta. Sống theo Đức Ki-tô tức là cố gắng để giành chiến thắng trong cuộc giao tranh ấy. Nhờ tác động của Thần Khí, mà chúng ta luôn có sự sống mới nơi chúng ta. Đó là sự sống trong Chúa Giê-su phục sinh.

Chúa đang hiện diện trong cuộc đời chúng ta, dẫu rằng còn nhiều gian nan và cám dỗ thử thách. Ngôn sứ Da-ca-ri-a mời gọi chúng ta hãy vui sướng reo hò, vì Chúa đến để ban hòa bình cho muôn dân. Cuộc đời tín hữu phải luôn tỏa lan niềm vui và những năng lượng tích cực trong mọi môi trường và hoàn cảnh sống. Niềm vui của người tin Chúa cũng được diễn tả trong Thánh vịnh ở phần Đáp ca. Đó không phải là những niềm vui chóng qua, nhưng là niềm vui thiêng liêng của người đón nhận ân sủng từ Thiên Chúa. Niềm vui ấy, chúng ta đạt được khi đi theo con đường khiêm nhu mà Chúa chúng ta, Đức Giê-su, đã đi. Hãy đến với Chúa Giê-su để được Người hướng dẫn, và để trở nên giống như Người.

(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)

—————————

 

Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

 

NƯỚC TRỜI là ĐIỀU BÍ MẬT

 

 Đức Vua khiêm tốn ngồi trên lưng lừa” (x. Bài Đọc 1. Dc 9,9-10) đó là tin vui mà tiên tri Da-ca-ri-a loan báo cho toàn thể dân Ít-ra-en vào thời đại mới, thế giới mới.  Đã có một lần xuất hiện một vị Cứu tinh kỳ lạ có nguồn gốc nghèo hèn, hiền hậu có tâm hồn khiêm hạ như thế đến với Nhà Ít-ra-en.  Một ông vua như thế chưa bao giờ thiên hạ được nghe nói tới!  Thông thường người ta quan niệm hễ chiến thắng trên bề mặt xã hội là thành công và thành công đem lại vinh quang và ân phúc cho con người.  Ngay nay có nguy cơ thiên hạ đồng hóa quyền bính thế gian, thế lực chính trị với  ơn cứu độ từ Thiên Chúa mang đến.  Hoàn toàn không phải như vậy!

Còn thánh Phao-lô, ngài nhắc lại cho tín hữu Rôma là một khi họ trở nên người  Ki-tô hữu thì họ “không bị tính xác thịt chi phối nữa”, tức là họ không sống dưới sức mạnh của thế gian, nhưng họ sống dưới sự chi phối của sức mạnh Thần khí (x. Bài Đọc 2. Rm 8,9.11-13).  Như thế Thần khí chi phối và hướng dẫn từ bên trong và hướng dẫn con người đến những chiến thắng khác với chiến thắng của sức mạnh quyền lực và trần thế theo quan niệm dân gian. 

Thần khí có khả năng biếngươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái”, biến chiến trường thành nguồn suối bình an cho mọi dân tộc.  Tiên tri Da-ca-ri-a ý thức được điều đó khi loan báo cho dân thành Giê-ru-sa-lem vị Vua đang  đến, không giống các vị vua trần thế khác. Người đến bằng cử chỉ rất biểu tượng, Người “khiếm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (x. Bài Đọc 1). 

Lừa là con vật hiền lành dùng chuyên chở đồ vật.  Vị vua nầy đến bẻ gãy sức mạnh địa ngục liên minh với quyền lực, Người là Vua tòan năng nhờ khiêm nhu và đầy tình yêu.  Lời sách Xuất Hành vọng lại : “Người đã quăng chìm đáy biển ngựa xe chiến mã và kỵ binh”, đó là lời đáp ca sau bài đọc thứ 3 đêm canh thức phục sinh (Xh 15, 1b),  là lời cao rao Thiên Chúa chiến thắng của dân Do thái sau khi họ vượt qua biển Đỏ, và họ nhìn thấy xác quân thù Ai-cập bị chôn vùi trong lòng biển thẳm sâu.

Tư tưởng ‘nhu thắng cương, nhược thắng cường’, mềm mại thắng cứng cõi, yếu đuối thắng mạnh mẽ, thì hoàn toàn xa lạ đối với quan niệm thời bấy giờ và cũng xa lạ với cả hôm nay nữa, làm sao có thể xảy ra ơn cứu độ từ nơi con tim hèn yếu, nơi thất bại ê chề, nhất là khi phải đi qua sự chết ?

Đây không phải là tư tưởng của nhân loại mà là của Thiên Chúa, tư tưởng nầy được ví như trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa cũng  cách xa tư tưởng loài người bấy nhiêu (I-sa-i-a).  Đức Giê-su đã có một lần khải hoàn vào Giê-ru-sa-lem ngồi trên lưng lừa mẹ.  Người làm thế không phải để mỵ dân, nhưng cử chỉ của Người mang tính tiên tri và biểu tượng để mặc khải giá trị mới của một thế giới mới do chính Người lãnh đạo. Thế giới mà tiên tri Da-ca-ri-a đã loan báo, cũng như các mối phúc thật đã minh nhiên nói đến: Phúc thay ai nghèo khổ, phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai bị bách hại, phúc thay ai yếu thế …

Khác với quan niệm của hạng trí thức và thông tuệ, Đức Giê-su lên tiếng ca ngợi ơn mặc khải mà Thiên Chúa dành cho những kẻ bé mọn: “Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.  Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (x. Bài Tin Mừng Mt 11, 25-30). 

Như vậy một tôn giáo mới ra đời, một quan niệm đạo đức mới hình thành, làm đảo lộn bậc thang giá trị xã hội.  Đó là điều bí mật mà chỉ những ai được Cha kêu gọi mới hiểu mà thôi.   Bí mật này là lời mời gọi con người đi vào hiệp thông với Thiên Chúa, đối thoại với Thiên Chúa, sống làm con Thiên Chúa, và sống sự sống của Thiên Chúa, đi về với Thiên Chúa, đó là bí mật của “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai” tôi trở thành thần thánh.  Chính Đức Giê-su Con Thiên Chúa sẽ dạy cho chúng ta về Cha vì không ai biết Chúa Cha, trừ người Con, như thế Đức Giê-su bảo mật chân lý về Cha và mặc khải cho chúng ta.

Lạy Chúa Giê-su, hạnh phúc cho kẻ bé mọn được biết ý định của Cha, xin Chúa hãy tiếp tục mặc khải cho nhiều người bé mọn biết đón nhận ý định bí mật của Thiên Chúa, để danh Chúa ngày được lan rộng. A-men

Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku

______________________

 

Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ

 

“Cha Tôi đã trao phó mọi sự cho Tôi” (Mt 11:27).

Quý ông bà và anh chị em thân mến,

Đoạn Lời Chúa của ngày Chúa Nhật hôm nay có thể chia làm hai phần: Chúa Giêsu tự mặc khải về chính Người (Mt 11:25-27) và Chúa mời gọi mọi người hãy chọn Người làm điểm tựa (Mt 11:28-30).

Ở đoạn văn mặc khải, Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Sau đó, Người đã mặc khải chính mình cho các môn đệ, để các môn đệ vừa biết Chúa Giêsu là ai vừa hình dung khuôn mặt Chúa Cha như thế nào. Sau khi đã tự mặc khải về mình, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy chọn Người làm chỗ dựa tinh thần, làm điểm tựa cho đời môn đệ của Chúa.

Đặt mình vào khung cảnh của thời điểm này, chúng ta có hiểu được lời mặc khải của Chúa? Hiểu Lời Chúa và Biết Chúa là ai, chúng ta mới dám trao phó đời mình cho Chúa?

Chúa Giêsu nói với Chúa Cha cách xác tín, thân thương và thắm đượm tình Cha Con: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha…. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. Sau đó, Người nói với các môn đệ: “Cha tôi đã trao phó mọi sự cho tôi”, và mời gọi: “Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng”. Với những lời lẽ này, chúng ta có cảm thấy đủ tin tưởng vào Chúa Giêsu, hiểu được tình yêu của Chúa Cha không?

“Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha…. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”. Chúa Giêsu biểu lộ mối tương quan Cha Con thân tình giữa Người với Chúa Cha cho các môn đệ hiểu về mầu nhiệm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và giúp các môn đệ cảm nhận sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai Ngôi Vị, cũng như sứ mạng Chúa Cha trao phó cho Chúa Con: “Cha Tôi đã trao phó mọi sự cho Tôi” (Mt 11:27). Với sự liên kết mật thiết này, lời mời gọi “Hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” là một lời khả tín.

Như thế, nếu hoài nghi về thần tính của Chúa Giêsu, người môn đệ sẽ khó tìm gặp chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cuộc đời lữ hành trần thế cũng như sứ mạng được trao ban. Hơn nữa, đôi khi trong cuộc sống người Kitô hữu, chúng ta cần dùng đức tin hơn là lý trí để đảm bảo cho bản thân một sự an toàn và một điểm tựa tinh thần mạnh mẽ. Có như vậy, chúng ta mới có thể bước đi và vượt thắng mọi chông gai, thách đố trên đường sứ mạng. Chính Chúa Giêsu cũng đã chọn điều này: Ngài tin vào Chúa Cha, xác tín sứ mạng Chúa Cha trao phó, cũng là lúc Ngài biết mình là ai để sống đúng với căn tính của bản thân và thi hành sứ mạng được trao phó cách sung mãn nhất! Ngài là ai?

Ngài là người có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Ách của Ngài êm ái và gánh của Ngài nhẹ nhàng. “Hiền hậu” có vẻ dành cho phái yếu, diễn tả sự mềm mại và khoan nhân, nhưng thực tế, sự hiền hậu của Chúa Giêsu đến từ nguyên ngữ Hy Lạp là “praus” (Latin là “mitis”) lại diễn tả một sức mạnh không thể kiểm soát (strength under control) tựa như sự hiền hậu của Chúa Giêsu khi Ngài vào Đền Thờ và bắt gặp những kẻ buôn bán nơi đó, những kẻ đã biến Nhà Cha thành chỗ ở của bọn điếm, và Ngài đã tỏ rõ sức mạnh khôn lường khi dũng cảm đánh đuổi và lên án những con buôn, dẹp sạch nạn “buôn thần bán thánh” của các thượng tế thời bấy giờ. Sự hiền hậu này là sức mạnh giúp biết mình là ai, chứ không nhằm áp đảo người khác, nên nó là một nhân đức cao vời, là một trong những hoa trái của Thần Khí (Gl 5:22-23). Khiêm nhường cũng tương tự như thế. Khiêm nhường trong tiếng Latin là “humilis” nghĩa là thấp kém, mong manh… có gốc từ chữ “humus” nghĩa là “bùn, phân, đất” (tiếng Hy Lạp là “khamalós”). Khiêm nhường là trở nên thấp bé như bùn phân dưới đất cho người khác giẫm đạp lên. Khiêm nhường cũng diễn tả thái độ biết mình là ai, đón nhận chính mình, sống cái mình là. Chúa Giêsu đã sống sự khiêm nhường này mà chính thánh Phaolô đã kinh nghiệm trong Pl 2:6-8. Sự hiền hậu và khiêm nhường của Chúa có đáng để chúng ta học và bắt chước sống như Ngài không? “Ách” là dụng cụ đeo cổ bằng gỗ cho bò lừa để kéo xe, kéo người. Ách được đục đẽo khéo léo và vừa vặn thì khi đeo vào cổ sẽ thấy nhẹ nhàng và dễ chịu, gánh vác đồ vật gì cũng không bị đau nhức hoặc khó chịu. Chúa Giêsu vô tình giới thiệu bản thân Ngài là một thợ mộc rất khéo tay và tinh tường. Liệu chúng ta có sẵn sàng mang lấy cái ách của Ngài và tin rằng ách đó rất vừa vặn với cổ của chúng ta để có thể thoải mái vác thập giá theo Ngài không?

Chúng ta hãy xin Chúa ban thêm lòng tin và niềm hy vọng vào Chúa để giữa những bộn bề của cuộc sống, những băn khoăn của công việc, những lo âu của trách nhiệm…, chúng ta luôn biết tìm đến Chúa để nghỉ ngơi và ở lại với Người, từ đó học được “sự hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” của Ngài và sống điều đó trong từng khoảnh khắc và nhịp đập của con tim mình.

Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!

Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ, giáo xứ Hoa Lư, Pleiku

WGPKT(04/07/2026) KONTUM