Dẫn nhập

I. BẢN CHẤT TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

1. Lệnh truyền của Chúa Giêsu

2. Một Giáo hội truyền giáo

3. Các Kitô hữu là những thừa sai

II. ƠN GỌI THỪA SAI CỦA NGƯỜI NỮ TU MẾN THÁNH GIÁ

1. Say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh

2. Khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh

3. Loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh

III. NGƯỜI NỮ TU MẾN THÁNH GIÁ SỐNG ƠN GỌI THỪA SAI

1. Nơi nguyện đường

2. Trong cuộc sống

3. Sự đồng điệu giữa việc chuyển cầu trong nguyện đường và trong cuộc sống

Kết luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dẫn nhập

Trong Sứ điệp ngày Thế giới truyền giáo năm 2025, Đức Giáo hoàng Phanxicô viết: “Những nhà truyền giáo của niềm hy vọng giữa muôn dân. Khẩu hiệu này nhắc nhở mỗi Kitô hữu và toàn thể Giáo hội – cộng đoàn những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội – về ơn gọi nền tảng của chúng ta, là những người bước theo Chúa Kitô, trở thành sứ giả và người kiến tạo hy vọng”.[1] Từ lời của vị cha chung khả kính, theo bậc sống của mình, các Kitô hữu một lần nữa được nhắc nhở về ơn gọi trở thành những nhà thừa sai mang niềm vui, niềm hy vọng của Tin Mừng đến cho mọi người. Như thế, dù là giám mục, linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ, chủng sinh hay các tín hữu sống giữa đời, cũng đều được thôi thúc làm sao sống một cách trọn hảo ơn gọi thừa sai trong môi trường sống thường ngày.

Để làm cho muôn dân trở thành môn đệ, Giáo hội luôn cần những người con nhiệt thành dấn thân, trong số đó phải kể đến các nữ tu, những người âm thầm góp phần mình vào trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Cách riêng, đối với các nữ tu Mến Thánh giá, là những người nữ đã quảng đại đáp lại lời mời gọi tình yêu của Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh, dâng hiến cuộc đời của mình để loan báo tình yêu cứu độ cho mọi người. Có thể khi tiếp xúc với các nữ tu Mến Thánh giá hoặc tìm hiểu về Dòng Mến Thánh giá, có người sẽ đặt vấn đề: ơn gọi thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá là gì? Và các nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai đó như thế nào?

Để trả lời cho những câu hỏi này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về “bản chất truyền giáo của Giáo hội”, để rồi trong đó, chúng ta sẽ hiểu được nét đặc biệt nơi “ơn gọi thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá”. Một khi đã nhận ra những nét chính yếu, chúng ta đi đến việc tìm hiểu “người nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai” này như thế nào để có thể trổ sinh hoa trái cho Thiên Chúa, và cho Giáo hội.

I. BẢN CHẤT TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

Hiến chế Lumen Gentium khẳng định: “Thiên Chúa quy tụ tất cả những ai trọn niềm tin kính tìm đến Đức Kitô là tác giả của ơn cứu rỗi và là nguồn mạch sự hợp nhất và bình an, và thiết lập họ thành Giáo hội để trở nên bí tích hữu hình của sự hợp nhất mang lại ơn cứu rỗi cho mọi người và từng người”.[2] Như thế, bản chất của Giáo hội gắn liền với sứ mạng mang ơn cứu độ đến cho muôn dân bởi chính “lệnh truyền của Chúa Giêsu”. Từ nền tảng này, Giáo hội luôn được mời gọi sống căn tính truyền giáo của mình trong mọi thời, để trở thành “một Giáo hội truyền giáo”, nghĩa là không ngừng vươn ra, đối thoại và làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa giữa lòng thế giới. Sứ mệnh này không phải là trách nhiệm của một số người, nhưng tất cả “các Kitô hữu là những thừa sai” cần góp phần vào công cuộc loan báo Tin Mừng bằng lời nói, việc làm và chính đời sống hằng ngày.

1. Lệnh truyền của Chúa Giêsu

Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,18-20). Đây không chỉ là một lời khuyên, mà là một mệnh lệnh thiết yếu, phát xuất từ tình yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại. Vì vậy, sứ mạng của Giáo hội phát sinh từ lệnh truyền của Đấng Phục Sinh, nghĩa là không phát sinh từ ý muốn của con người, nhưng từ sự vâng phục thánh ý của Thiên Chúa. Thật vậy, trong sắc lệnh Ad Gentes, Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta về cội nguồn sâu xa sứ mạng của Giáo hội bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi: “Trong cuộc lữ hành trần gian, Giáo hội tự bản chất là truyền giáo, bởi vì chính từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần mà Giáo hội bắt nguồn, theo kế hoạch của Thiên Chúa Cha”.[3]

Khi trao sứ mạng, Đấng Phục Sinh không để các Tông đồ cô đơn, nhưng Người khẳng định: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chính sự hiện diện và quyền năng của Đấng Phục Sinh, cùng sự hoạt động của Chúa Thánh Thần là đảm bảo chắc chắn cho việc thực thi lệnh truyền của Chúa Giêsu trong Giáo hội. Nhờ thế, các Tông đồ cũng như các tín hữu thời sơ khai đã mạnh dạn lên đường, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ để Tin Mừng được loan báo từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất.

Từ lệnh truyền của Chúa Giêsu, Giáo hội luôn ý thức về ơn gọi truyền giáo của mình theo thánh ý cứu độ của Thiên Chúa, và việc Chúa Giêsu Kitô chịu chết và sống lại phải được công bố cho mọi người trên khắp thế giới. Thật vậy, sứ mạng thiết yếu của Giáo hội là loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo (x. Mc 16,15). Như thế, lệnh truyền của Chúa Giêsu không phải là một gánh nặng, nhưng là một vinh dự, một niềm vui, bởi Giáo hội được cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Khi trung thành sống lệnh truyền của Chúa Giêsu, Giáo hội trở thành dấu chỉ và khí cụ của ơn cứu độ cho thế giới, và luôn luôn được nhắc nhớ về căn tính của mình là một Giáo hội truyền giáo.[4]

2. Một Giáo hội truyền giáo

Giáo hội không hiện hữu cho chính mình, nhưng được sinh ra từ sứ mạng mà Chúa Giêsu trao ban qua lệnh truyền của Ngài. Lệnh truyền này hàm chứa ba chiều kích quan trọng. Trước hết là “ra đi”, những người đón nhận lệnh truyền này không được phép sống an toàn cách khép kín trong một cộng đoàn nhỏ bé, nhưng cần bước ra để đến với mọi dân tộc. Một Giáo hội truyền giáo “đi ra” khỏi sự an toàn của chính mình để đến với những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những vùng ngoại biên của cuộc sống. Đức thánh cha Phanxicô mời gọi toàn thể Giáo hội hãy trở nên một “Giáo hội đi ra” để có thể đem niềm vui Tin Mừng đến từng gia đình, từng cộng đoàn, và cả những môi trường dường như xa lạ với đức tin.[5]

Thứ đến là “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” bằng việc “dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; cộng đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác. Như vậy, các người loan báo Tin Mừng mang lấy ‘mùi của đàn chiên’ và đàn chiên sẵn sàng nghe tiếng của họ. Một cộng đoàn loan báo Tin Mừng cũng nâng đỡ, đồng hành với dân chúng ở mỗi bước đi trên đường, bất kể con đường này có thể dài hay khó đi bao nhiêu”.[6] Như thế, những ai chưa tin có thể đón nhận và sống gắn bó với Đức Kitô, trở thành môn đệ của Người.

Sau cùng là “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Điều này làm chúng ta nghĩ đến lời của Đức giáo hoàng Phanxicô: “Chúng ta không được nghĩ rằng sứ điệp Tin Mừng phải luôn luôn được trình bày bằng những công thức có sẵn mà chúng ta đã học thuộc lòng hay bằng những lời đặc biệt nào diễn tả một nội dung tuyệt đối không thể thay đổi. Việc truyền thông này diễn ra bằng rất nhiều cách thức khác nhau khiến chúng ta không thể mô tả hay liệt kê ra tất cả, và dân Thiên Chúa, với vô số cử chỉ và dấu hiệu, chính là chủ thể tập thể của việc truyền thông này”.[7]

Như thế, có thể nói rằng một Giáo hội truyền giáo chính là một cộng đoàn tín hữu luôn mang trong mình sự nhiệt thành để sẵn sàng “ra đi”, với lòng bừng cháy niềm vui Tin Mừng để làm cho muôn dân trở thành muôn đệ. Như thế, các thành phần của Giáo hội đều được mời gọi trở thành ánh sáng và muối men trong đời thường, để Tin Mừng có thể chạm đến trái tim con người hôm nay. Điều này đang được Giáo hội đặt để và phó thác nơi các Kitô hữu là những nhà thừa sai.

3. Các Kitô hữu là những thừa sai

Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, các Kitô hữu được tháp nhập vào Đức Kitô và trở nên chi thể sống động của Hội Thánh. Từ đó, các Kitô hữu cũng đón nhận ba chức năng: tư tế, ngôn sứ và vương đế để trở nên những nhà thừa sai của Tin Mừng,[8] nghĩa là những người được lãnh nhận một sứ vụ và được sai đi[9] theo lệnh truyền của Đức Kitô (x. Mc 16,15). Như thế, việc trở nên những thừa sai không chỉ là trách nhiệm của các linh mục, tu sĩ hay những nhà truyền giáo chuyên biệt, nhưng là sứ mạng chung của toàn thể Dân Chúa.[10] Các Kitô hữu, nhờ được thánh hiến trong nước và Thánh Thần, được sai đi vào chính môi trường sống hằng ngày của mình, bằng một đời sống thánh thiện để làm chứng cho Tin Mừng cứu độ,[11] như lời Đức giáo hoàng Phanxicô mời gọi: “Tôi muốn hướng đến mọi Kitô hữu Công giáo, mời gọi họ bước vào một giai đoạn mới của việc Phúc Âm hóa, được ghi dấu ấn của niềm vui”.[12]

Các Kitô hữu là những nhà thừa sai của niềm vui, bởi niềm vui Tin Mừng họ được đón nhận không phải là điều chỉ giữ cho riêng mình, nhưng là hồng ân cần được chia sẻ.[13] Thật vậy, nếu như Công đồng Vaticanô II khẳng định tự bản chất Giáo hội là truyền giáo, thì có thể nói rằng, sẽ không có Kitô hữu nào có thể sống đức tin trong sự khép kín. Niềm tin vào Đức Kitô luôn đồng nghĩa với việc loan báo về Ngài cho mọi người chưa tin. Từ đây, các Kitô hữu nhận ra rằng mình cần trở thành những nhà thừa sai cho thế giới, đặc biệt là cho những môi trường họ hiện diện. Trong hoàn cảnh và bậc sống riêng, các Kitô hữu đều có thể và cần làm chứng nhân của Đức Kitô, để qua lời nói và việc làm, mọi người chưa tin có thể nhận ra tình yêu cứu độ của Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động trong thế giới hôm nay.

Thánh giáo hoàng Phaolô VI đã từng nói: “Con người ngày nay mong nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ có lắng nghe các thầy dạy là bởi vì các vị thầy này là những chứng nhân”.[14] Thật vậy, thế giới ngày nay cần chứng tá của các Kitô hữu sống đạo cách vui tươi, chân thành, cởi mở và gần gũi. Giữa một xã hội tục hóa, nơi nhiều người và cả một vài Kitô hữu dần đánh mất cảm thức về Thiên Chúa, chứng tá âm thầm của các Kitô hữu lại càng trở nên lời rao giảng sống động. Nhiều người có thể nhận ra chứng tá âm thầm này nơi các thành phần của Giáo hội, một trong những thành phần đó là các nữ tu Mến Thánh giá, những người nữ dâng hiến cả cuộc đời mình để yêu mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh và nhận ra ơn gọi thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá.

II. ƠN GỌI THỪA SAI CỦA NGƯỜI NỮ TU MẾN THÁNH GIÁ

Đối với người nữ tu Mến Thánh giá, lời đáp trả mãnh liệt trước tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả qua câu: “Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh là đối tượng duy nhất của lòng trí chúng ta”.[15] Đây không chỉ đơn thuần là một câu châm ngôn, mà còn là linh đạo của Dòng theo ý muốn của Đấng Sáng Lập. Từ nền tảng ấy, ơn gọi thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá được bắt đầu, khởi nguồn từ một tình yêu “say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh” trên thập giá. Nhờ đó, người nữ tu Mến Thánh giá được mời gọi có được một tinh thần “khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh” và hân hoan “loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh” cho mọi người, nhất là anh chị em chưa nhận biết Chúa.

1. Say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh

Chính Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,25). Như thế, có thể nói rằng việc yêu mến và vác Thánh Giá là điều kiện Chúa dành cho những ai muốn bước theo Người. Là người theo Chúa, Đức cha Pierre Lambert – Đấng Sáng Lập Dòng Mến Thánh giá cũng đã trở thành một người say Mến Thánh giá, đến nỗi khao khát trở nên đồng hoá với Đức Kitô trong mầu nhiệm Tử Nạn và sẵn sàng cho Người mượn thân xác, để tiếp nối những hy sinh lao nhọc của Người.[16] Không chỉ thế, ngài còn chuyển trao sự say Mến Thánh giá và trở nên một linh đạo đặc thù, một con đường nên thánh, một sứ mạng tông đồ cho các nữ tu, với một tên gọi nói lên điều chính yếu của cuộc đời họ là “Mến Thánh giá”.

Theo ước muốn của Đấng Sáng Lập, người nữ tu Mến Thánh giá, trước hết, phải là người say Mến Thánh giá, hay nói cách khác là say mến chính Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá. Ở điểm này, Đấng Sáng Lập đã nhấn mạnh rằng: “Mục đích của tu hội là đặc biệt chuyên chú suy niệm, tưởng nhớ và noi theo cuộc thương khó của Chúa Kitô mỗi ngày như phương thế đạt tới sự hiểu biết và yêu mến Người”.[17] Như thế, cả cuộc đời của người nữ tu, từ suy nghĩ đến tâm tư tình cảm, từ lời nói đến hành động, đều quy hướng về Đấng Chịu-Đóng-Đinh như là trung tâm của cuộc sống. Nhờ đó, người nữ tu ngày từng ngày sẽ có được sự hiểu biết về Đấng mình tôn thờ và đi theo. Một khi có được sự hiểu biết sẽ có sự mến yếu đến độ say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá, như lời Thánh Phaolô nói: “Chúng tôi điên dại vì Đức Kitô” (1Cr 4,10) và để Ngài là đối tượng duy nhất của lòng trí mình theo kiểu “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Đấng Chịu Đóng Đinh trên Thánh Giá là đối tượng duy nhất của lòng trí, và cũng là cốt lõi cuộc đời người nữ tu Mến Thánh giá. Trong cái nhìn đức tin, Thánh Giá không đơn giản là biểu tượng của đau khổ hay thất bại, nhưng là biểu tượng rõ nét của tình yêu cứu độ. Trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đã hiến dâng chính mình vì yêu thương nhân loại, để mở ra nguồn ơn cứu độ cho muôn người (x. Ga 12,32). Khi chọn Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh làm đối tượng duy nhất của lòng trí, là lúc người nữ tu Mến Thánh giá chọn tình yêu duy nhất và muốn say mến tình yêu của Đấng đã hiến dâng mạng sống vì người mình yêu (x. Ga 15,13). Một khi đã say mến, người nữ tu Mến Thánh giá như được cùng với Thánh Phaolô thốt lên rằng: “Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô Chịu-Đóng-Đinh vào thập giá” (1 Cr 2,2).

Để say mến Đấng Chịu Đóng Đinh, người nữ tu Mến Thánh giá được mời gọi “tập trung cái nhìn và trái tim vào Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh với một tình yêu phi thường mang đặc tính tri thức, cảm ái và thực tiễn”.[18] Khi thực hiện những điều này, không phải là việc người nữ tu đi tìm kiếm đau khổ cách vô ích, nhưng là để tình yêu của Đức Kitô ngày ngày lớn dần lên trong chính con người mình, đến độ sẵn sàng chia sẻ với Người trong những thử thách của đời dâng hiến và trong sứ vụ thừa sai Chúa trao phó. Đó là một tình yêu cụ thể muốn được trào tràn ra bên ngoài bằng những hành động yêu thương phục vụ và bằng những hy sinh khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh.

2. Khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh

Trên hành trình theo Đức Kitô – Đấng Chịu-Đóng-Đinh, người nữ tu Mến Thánh giá cần lưu giữ trong tâm trí mình lời hướng dẫn của Đấng Sáng Lập: “Chúng ta tiếp nối nơi bản thân cuộc đời đau khổ của Chúa Giêsu Kitô”,[19] để nhờ Thánh Giá, chúng ta cùng với anh chị em đồng loại đạt tới ánh vinh quang của Đấng Phục Sinh”.[20] Những lời này gợi nhớ cho người nữ tu Mến Thánh giá về hình ảnh những người nữ đã đi theo để trợ giúp Đức Kitô, từ lúc Người rao giảng (x. Lc 8,1-3) đến đỉnh đồi Gôngôtha (x. Mt 27,55-56; Mc 15,40-41; Lc 23,49), rồi đến mộ phần (x. Mt 27,57-61; Mc 15,42-47; Lc 23,50-56; Ga 19,38-42) và vinh quang phục sinh (x. Mt 28,1-7; Mc 16,1-7; Lc 24,1-7; Ga 20,1-10) . Khi bước theo Chúa, chắc hẳn những người phụ nữ này cũng gặp phải những khó khăn, gian khổ, nhưng họ vẫn một lòng trung thành theo sát Đức Kitô, ngay cả trên con đường Thánh Giá. Từ những hình mẫu này, người nữ tu Mến Thánh giá như có thêm sức mạnh và xác tín để bước theo Đức Giêsu Chịu-Đóng-Đinh bằng một đời sống khổ chế.

Đức cha Lambert đã từng hướng dẫn người nữ tu Mến Thánh giá sống tinh thần khổ chế để “thông phần thực sự vào những đau khổ của Đức Giêsu Kitô[21] trong công cuộc cứu độ. Điều này có nghĩa là khi đón nhận khổ chế, là lúc người nữ tu Mến Thánh giá đang “hoàn tất điều duy nhất còn thiếu nơi hy tế bàn thờ là phải có sự đau khổ”.[22] Khi nói đến sự hy sinh hay khổ chế, không đơn thuần chỉ là những việc thực hành hy sinh bề ngoài, nhưng trước hết là một thái độ nội tâm, dám từ bỏ chính mình, dám vác thập giá hằng ngày để gắn bó mật thiết với Đấng Chịu-Đóng-Đinh (x. Mt 16,24-26). Khi chọn đời sống khổ chế, người nữ tu Mến Thánh giá muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong mầu nhiệm tự huỷ (x. Pl 2,6-8). Bên cạnh đó, nhờ khổ chế, người nữ tu Mến Thánh giá được thanh luyện khỏi tính ích kỷ, lòng tự mãn và những quyến luyến trần thế, để trái tim được tự do hoàn toàn dâng hiến cho Đức Kitô, là đối tượng duy nhất của lòng trí mình. Từ đây người nữ tu Mến Thánh giá được mời gọi từng bước sống lời của Thánh Phaolô xác quyết: “Hiện nay tôi vui sướng trong những đau khổ tôi phải chịu vì anh em. Tôi bổ khuyết nơi thân xác tôi những gì còn thiếu sót trong cuộc thương khó của Ðức Kitô, để Hội Thánh là thân xác của Người được nhờ” (Cl 1,24-25). Từ đây, người nữ tu Mến Thánh giá nhận ra giá trị của một đời sống khổ chế. Như hạt lúa mì mục nát đi để sinh nhiều bông hạt (x. Ga 12,24-26), thì đời sống khổ chế của người nữ tu Mến Thánh giá tuy âm thầm và nhỏ bé, nhưng lại mang giá trị cứu độ lớn lao, trở thành lời cầu nguyện sống động cho Giáo hội và thế giới.

Khổ chế còn giúp người nữ tu có khả năng mở lòng ra với Thiên Chúa, bởi “khổ chế làm cho thân xác phục tùng tinh thần cũng như tinh thần phục tùng Thiên Chúa nhờ cầu nguyện”.[23] Khi từ bỏ những thoải mái riêng tư, người nữ tu Mến Thánh giá học cách để cho thân xác này tùng phục tinh thần, để rồi có thể tùng phục Thiên Chúa và thân thưa lên tiếng “Xin vâng” như Đức Trinh Nữ Maria (x. Lc 1,26-38). Một khi đã biết phó trót đời mình cho Thiên Chúa thì đời sống của người nữ tu Mến Thánh giá cũng trở nên một thừa sai để mang tình yêu của Chúa đến với mọi người. Như vậy, khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh không phải là sự tự hành hạ, nhưng là một chọn lựa tự do, phát xuất từ tình yêu say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh. Khi thi hành được điều này cũng là lúc người nữ tu Mến Thánh giá đang bước đi trên con đường nên thánh, theo Chúa Giêsu trên đường Thánh Giá, để đời mình trở thành hiến lễ tình yêu cho Thiên Chúa và cho anh chị em. Khi cố gắng sống được như thế, người nữ tu Mến Thánh giá sẽ trở nên người loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh cho thế giới hôm nay, nơi con người đang khao khát tình yêu và niềm hy vọng.

3. Loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh

Một khi người nữ tu Mến Thánh giá đã say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh và muốn sống một đời sống khổ chế theo Ngài, vì Ngài và cho Ngài, thì người nữ tu sẽ khao khát điều mà Thánh Phaolô đã khao khát: “Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô Chịu-Đóng-Đinh” (1 Cr 1,23). Lời khẳng định này của Thánh Phaolô cho thấy tình yêu say mến của ngài dành cho Đấng đã khuất phục ngài trên đường Đamas (x. Cv 22,3-16), để rồi, cả cuộc đời sau đó của Thánh nhân đã chịu muôn vàn thử thách (x. 2Cr 11,24-27), với một mong ước duy nhất là “cuối cùng Đức Kitô được rao giảng là tôi vui mừng” (Pl 1,18). Từ kinh nghiệm cuộc sống của Thánh Phaolô, người nữ tu Mến Thánh giá tìm thấy căn tính và sứ vụ thừa sai của mình là loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh bằng cả cuộc đời.

Chính Đấng Sáng Lập Dòng đã mời gọi những người con tinh thần của mình hãy trở nên “người tông đồ theo sát tinh thần Phúc Âm, đến với mọi người trong thái độ kính trọng, hiền hoà, khiêm nhu và rao giảng Đức Kitô Chịu Đóng Đinh, không chỉ bằng lời nói mà còn bằng những công việc phục vụ thiết thực, nhất là bằng chính đời sống phù hợp với mầu nhiệm Thập giá của Đấng mình rao giảng”.[24] Điều này cho thấy Thánh Giá và Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá luôn là trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng và là sức mạnh cứu độ cho nhân loại. Như thế, người nữ tu Mến Thánh giá không chỉ chiêm ngắm Đức Giêsu trên Thánh Giá, mà còn để cho tình yêu tự hiến của Người thấm nhập vào tâm hồn, trở thành nguồn sức mạnh cho đời thánh hiến. Sự chiêm ngắm này tất yếu dẫn đến sứ mạng giới thiệu Đấng Chịu-Đóng-Đinh cho tha nhân, để mọi người nhận ra nơi Thập Giá kho tàng tình yêu cứu độ.

Nếu như Thánh Phaolô đã mạnh mẽ quả quyết: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16) thì dường như người nữ tu Mến Thánh giá cũng có thể suy nghĩ về điều tương tự, nghĩa là làm sao có thể là một người Mến Thánh giá nếu như không muốn say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá, không muốn sống khổ chế theo Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá và không muốn loan báo về Đấng Chịu-Đóng-Đinh trên Thánh Giá cho mọi người? Vì thế, có thể nói rằng: việc loan báo Đấng Chịu-Đóng-Đinh là căn tính và sứ vụ bất khả phân ly của người nữ tu Mến Thánh giá. Họ được mời gọi trở thành những người rao giảng về Đấng Chịu-Đóng-Đinh không chỉ bằng lời nói, nhưng nhất là bằng chính đời sống hằng ngày. Một đời sống gắn bó với Đấng Chịu-Đóng-Đinh vì Ngài là đối tượng duy nhất. Từ đó, người nữ tu có thể hạnh phúc và hân hoan trở thành người nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai giữa lòng đời.

III. NGƯỜI NỮ TU MẾN THÁNH GIÁ SỐNG ƠN GỌI THỪA SAI

Người nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai bằng cách sống “tinh thần trung gian” [25] của Đức Kitô. Thật vậy, Đức Kitô đã mạc khải cho các Tông đồ: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Như thế, Đức Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất giao hoà con người với Thiên Chúa (x. 1 Tm 2,5-6), mở ra con đường cứu độ cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên, Chúa Cứu Thế vẫn cần đến sự cộng tác của con người, để có thể đem tình yêu và ơn tha thứ của Ngài đến cho mọi nơi.[26] Như thế, người nữ tu Mến Thánh giá cũng được mời gọi thông dự vào tinh thần trung gian này, không phải để tái lập công trình cứu độ của Đức Kitô, mà là trở nên “cánh tay hữu hình và trung gian của Chúa Cứu Thế”,[27] là cộng tác và nối dài hoa trái ơn cứu độ của Đức Kitô, bằng cách sống tinh thần trung gian chuyển cầu “nơi nguyện đường” và “trong cuộc sống”, để rồi dẫn đến một một cuộc sống có “sự đồng điệu giữa việc chuyển cầu trong nguyện đường và trong cuộc sống”.

1. Nơi nguyện đường

Người nữ tu Mến Thánh giá cần khắc ghi lời nhắn nhủ của Đấng Sáng lập: “Trước khi gieo vãi hạt giống Phúc âm, hãy dùng lời cầu nguyện làm cho mưa móc sa xuống trên cánh đồng”.[28] Nếu không có mưa, không có nước nguồn thì hạt giống đã được gieo trong cánh đồng khó có thể đâm chồi nảy lộc. Nếu không có ơn Chúa, dù cách thức loan báo Tin Mừng có tuyệt vời đến mấy thì cũng trở nên vô hiệu, như Thánh Phaolô đã quả quyết về sứ vụ loan báo Tin Mừng của ngài: “Tôi trồng, Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới cho mọc lên” (1 Cr 3,6). Vì vậy, ý thức về vai trò trung gian của mình, người nữ tu Mến Thánh giá sống tinh thần trung gian chuyển cầu, qua việc dâng những hy sinh cùng với lời cầu xin tha thiết, cho lương dân được ơn nhận biết Đức Kitô[29] và tin vào Ngài. Bên cạnh đó, người nữ tu Mến Thánh giá cũng không ngừng dâng lên Thiên Chúa những lời kinh cầu cho các Kitô hữu đang sống xa lìa Chúa,[30] để họ được ơn hoán cải mà trở về với Ngài. Đồng thời, người nữ tu Mến Thánh giá liên lỉ nài xin Thiên Chúa cho những nhu cầu của Giáo hội hoàn vũ và Giáo hội địa phương.[31]

Qua lời kinh chuyển cầu, người nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai một cách âm thầm nhưng mãnh liệt, vì đó không chỉ là những tâm tình xuất phát từ trái tim thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá, mà còn chất chứa tâm tình của Đức Kitô, “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thật vậy, sức mạnh của lời cầu nguyện tuy âm thầm nhưng mãnh liệt đến độ một nữ tu nhỏ bé là Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, sống âm thầm trong bốn bức tường Đan viện, nhưng lại trở thành Bổn mạng của các xứ truyền giáo.[32]

Trong Sứ điệp ngày Thế giới truyền giáo năm 2025, Đức giáo hoàng Phanxicô đã nhắc đến Đấng đáng kính là Đức hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người đã giữ vững niềm hy vọng trong suốt những năm tháng tù đày, nhờ vào việc kiên trì cầu nguyện và sức mạnh từ Bí tích Thánh Thể. Đức giáo hoàng kết luận: “Chúng ta đừng quên rằng cầu nguyện là hành động truyền giáo đầu tiên và đồng thời cũng là sức mạnh đầu tiên của niềm hy vọng”.[33] Như thế, khía cạnh đầu tiên giúp người nữ tu Mến Thánh giá sống ơn gọi thừa sai của mình đó là cầu nguyện. Khi mỗi ngày người nữ tu Mến Thánh giá trung thành giữ và sống đời cầu nguyện kết hợp với Đấng Chịu-Đóng-Đinh, và chuyển cầu cho tha nhân, cũng chính là lúc người nữ tu Mến Thánh giá thực sự trở thành những thừa sai loan Tin Mừng, vượt ra khỏi biên giới của không gian và thời gian, để rồi, những hoa trái của cầu nguyện sẽ được gặt hái trong cuộc sống thường ngày.

2. Trong cuộc sống

Nếu lời kinh chuyển cầu trong nguyện đường được người nữ tu Mến Thánh giá thực hiện một cách thầm lặng, thì trong cuộc sống hằng ngày là nơi mà những lời nguyện đó được “nhập thể” ngang qua sự dấn thân phục vụ trong các lãnh vực văn hoá, xã hội, y tế, luân lý và đức tin. Trong các lãnh vực này, người nữ tu Mến Thánh giá thực hiện bốn nhiệm vụ cụ thể mà Đấng Sáng lập đã đề ra, đó là: giáo dục giới trẻ, phục vụ bệnh nhân, bảo vệ trẻ thơ và thăng tiến nữ giới. Thiết tưởng nên sơ lược một chút về công việc cụ thể của bốn lãnh vực này theo Hiến chương Dòng Mến Thánh giá, điều 76:

Giáo dục giới trẻ: làm việc trong những tổ chức của xã hội, cộng tác vào chương trình mục vụ của giáo xứ và giáo phận, quan tâm ưu tiên đối với trẻ em nghèo và thất học.

Phục vụ bệnh nhân trong những tổ chức của xã hội, hoặc dùng phương pháp y học dân tộc.

Bảo vệ trẻ thơ: đem ơn cứu độ cho những trẻ em lâm cơn nguy tử; gây ý thức cho mọi người, đặc biệt các phụ nữ, biết tôn trọng sự sống và quyền lợi trẻ thơ.

Thăng tiến nữ giới bằng cách hướng nghiệp, hướng dẫn đời sống phụ nữ, giáo dục lương tâm luân lý, phục hồi nhân phẩm cho phụ nữ lỡ bước.

Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu của Giáo hội địa phương và hoàn cảnh thực tế của xã hội, người nữ tu Mến Thánh giá được mời gọi dấn thân phục vụ trong nhiều lãnh vực khác nhau như: đi truyền giáo ở các giáo điểm ngoại biên; thăm tù nhân; chăm sóc và nuôi dạy trẻ khiếm thị; dạy học mầm non, phục vụ trong các mái ấm, trại mồ côi, trại phong; thăm viếng lương dân và người nghèo; giúp những phụ nữ lỡ lầm và trẻ em sơ sinh; nhặt và chôn cất thai nhi. v.v… Tất cả những hoạt động này nhằm mục đích “phục vụ hạnh phúc trọn vẹn cho con người, giúp mỗi người phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần”.[34] Như Đức cha Lambert nói: “Điều quan trọng nhất là các con phải thực hành mọi việc thay cho Chúa Giêsu Kitô, Người muốn đích thân làm những việc ấy mà không thể được, nên dùng một số linh hồn được Người tuyển chọn mà ban đầy tinh thần của Người là tinh thần trung gian, để tiếp nối cuộc đời lữ thứ và hy sinh của Người cho đến tận thế”.[35]

Như vậy, sự dấn thân phục vụ của người nữ tu Mến Thánh giá là lời chuyển cầu sống động và là hy tế thập giá được nối dài trong cuộc sống. Nhờ sự dấn thân này, người nữ tu Mến Thánh giá sống trọn vẹn mầu nhiệm Thập Giá trong vai trò trung gian của Đức Kitô, hầu tiếp nối sứ mạng cứu độ của Người ngay giữa lòng thế giới hôm nay. Tuy nhiên, khi các nữ tu Mến Thánh giá hăng say làm cho lời chuyển cầu được hiện thực trong đời sống thì vẫn cần nhớ đến lời của các Nghị phụ Công đồng Vaticanô II: “Giáo hội có đặc tính vừa nhân loại vừa thần linh, vừa hữu hình vừa chứa đựng những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành hoạt động vừa sốt sắng chiêm niệm”.[36] Như thế, để sống và thực thi ơn gọi thừa sai của người nữ tu Mến Thánh giá một cách bền vững, cần phải lưu ý đến sự đồng điệu giữa việc chuyển cầu trong nguyện đường và trong cuộc sống.

3. Sự đồng điệu giữa việc chuyển cầu trong nguyện đường và trong cuộc sống

Cầu nguyện không đặt người nữ tu Mến Thánh giá vào một khung khép kín, nhưng mở rộng cõi lòng, thúc đẩy các nữ tu sống Lời Chúa và đem ra thực hành. Chính lời cầu nguyện dẫn đưa người nữ tu Mến Thánh giá bước đi trên trần gian với niềm tin vững vàng, bén rễ sâu trong Đức Kitô (x. Cl 2,6-7), đồng thời giúp họ dấn thân cách hiệu quả trong sứ vụ thừa sai.

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống thường nhật, người nữ tu Mến Thánh giá không tránh khỏi những thách thức phát sinh. Các công việc khẩn cấp hoặc bất ngờ đôi khi khiến họ bỏ qua thời gian cầu nguyện riêng hoặc cầu nguyện cộng đoàn. Vấn đề đặt ra là: làm thế nào để dung hòa giữa đời sống cầu nguyện và các hoạt động thừa sai? Làm sao để không đánh mất chiều kích thiêng liêng trong khi thi hành sứ vụ?

Theo chương trình sống hằng ngày của cộng đoàn, thời gian dành cho cầu nguyện và thời gian dành cho hoạt động tông đồ thường được cân đối hài hòa. Tuy nhiên, nơi đây tiềm ẩn một nguy cơ : một số người bằng lòng với việc đặt cầu nguyện song song với hoạt động, ngỡ rằng như thế là đã đủ để đạt đến sự hòa hợp. Cách tiếp cận này dễ dẫn đến sự tách biệt giữa hai chiều kích[37] vốn cần được liên kết mật thiết, khiến đời sống nội tâm thiếu sự cân bằng và thiếu chiều sâu hiệp thông.

Trong bối cảnh công việc quá tải hoặc khẩn cấp, một giải pháp được đề xuất là cầu nguyện ngay trong công việc, ngay trong khi thi hành sứ vụ. Cần lưu ý rằng cầu nguyện trong khi làm việc không đồng nghĩa với việc thực hiện các giờ kinh Phụng vụ hay đọc sách Tin Mừng giữa lúc lao động. Cách hiểu này không mang tính chữ nghĩa, mà hàm chứa một chiều kích nội tâm sâu xa: lời cầu nguyện tuôn chảy từ thẳm sâu trái tim người nữ tu, hướng về Thiên Chúa, sống trong sự hiệp thông với Ngài – dù chỉ là vài phút ngắn ngủi hay lâu hơn – nhưng luôn để bản thân được chìm đắm trong sự hiện diện của Thiên Chúa.[38] Thời lượng cầu nguyện rất quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định; điều cốt yếu là tâm hồn biết để cho Thiên Chúa chiếm lấy. Chính sự hiện diện nội tâm ấy giúp người nữ tu Mến Thánh giá tìm được những giây phút sâu lắng trong cầu nguyện, từ đó định hướng cho mọi hành động. Khi trở thành thói quen, đây là một thực hành thiêng liêng có giá trị, giúp củng cố sứ vụ và biến đổi thái độ nội tâm trong các hoạt động thừa sai cũng như trong tương quan với tha nhân. Một khi đạt được thói quen này, người nữ tu Mến Thánh giá hình thành một phong cách sống mang nét căn tính riêng.[39]

Cũng như cành nho không thể tồn tại nếu tách rời khỏi cây nho (x. Ga 15,4), người nữ tu Mến Thánh giá không thể sống trọn vẹn ơn gọi thừa sai nếu thiếu sự gắn bó mật thiết với Đấng Chịu-Đóng-Đinh. Chính sự kết hiệp này được nuôi dưỡng và duy trì qua đời sống cầu nguyện. Vì thế, cầu nguyện không chỉ diễn ra trong nguyện đường, mà còn có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào, bằng chính cuộc sống thường nhật của người nữ tu.

Nếu không biết hòa hợp giữa cầu nguyện và hoạt động thừa sai, người nữ tu dễ rơi vào tình trạng mất cân bằng: chú trọng hoạt động mà lơ là đời sống thiêng liêng. Nếu cho rằng những đòi hỏi của sứ vụ chiếm trọn không gian dành cho cầu nguyện, khi đó, đời sống sẽ thiếu vắng tình yêu dành cho Đấng Chịu-Đóng-Đinh. Có thể nhận diện hai nguy cơ cụ thể: Thứ nhất, khi các hoạt động thừa sai trở nên quá tải, người nữ tu có thể đánh mất nhịp sống nội tâm, dẫn đến não trạng chạy theo hiệu quả và thành tích, khiến sự toàn vẹn bản thân bị đe dọa.[40] Thứ hai, là lối sống kiểu “sạc pin” – lao mình vào công việc tông đồ, rồi sau đó mới tìm đến cầu nguyện như một phương tiện phục hồi năng lượng để tiếp tục hoạt động.[41] Cả hai đều là biểu hiện của sự thiếu hòa hợp giữa chiêm niệm và hành động.

Để đạt đến sự hòa hợp giữa cầu nguyện và hoạt động thừa sai, cần rất nhiều nỗ lực từ phía con người, bởi bản tính nhân loại vốn giới hạn.[42] Không phải lúc nào người nữ tu cũng có thể tiến hành một cách hoàn toàn hài hòa và thống nhất giữa hai chiều kích này.[43] Trong tình trạng giới hạn ấy, không thể đòi hỏi sự hoàn hảo tuyệt đối. Điều cần thiết là có những nỗ lực khắc phục và tìm ra giải pháp thích hợp để dung hòa.

Dù ý thức rõ những giới hạn của mình, các nữ tu Mến Thánh giá vẫn luôn hướng đến sự hòa hợp giữa đời sống thiêng liêng và đời sống tông đồ, giữa chiêm niệm và hoạt động, giữa cầu nguyện và sứ vụ thừa sai. Do đó, điều cốt yếu là luôn khởi đi từ Đức Kitô, nghĩa là “tìm lại tình yêu thuở ban đầu, ngọn lửa khởi hứng từ đó hành trình theo Chúa bắt đầu. Đó là ưu tiên của tình yêu. Việc theo Chúa chỉ là lời đáp trả của tình yêu trước tình yêu của Thiên Chúa”.[44]

Kết luận

Ngày nay, người nữ tu Mến Thánh giá được mời gọi làm cho lời dạy của Công đồng Vaticanô II vang vọng trong tâm trí và cư ngụ nơi trái tim mình: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm nhận trong đáy lòng họ. Thật vậy, đây là cộng đồng gồm những con người được quy tụ trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi được trao ban cho mọi người. Vì thế, cộng đồng này thực sự cảm nghiệm được mối dây liên kết mật thiết với con người và lịch sử nhân loại”.[45] Thật vậy, người nữ tu Mến Thánh giá, khi mang trong tâm hồn mình tình yêu của Đấng Chịu-Đóng-Đinh, cũng nhận ra rằng cuộc đời mình được hiến dâng cho Thiên Chúa và cho tha nhân. Các nữ tu thao thức mang ơn cứu độ của Chúa đến với mọi người, để từ đó hân hoan loan báo Tin Mừng và sẵn sàng lên đường đến “vùng ngoại biên”.

Trong việc thi hành sứ vụ ấy, chắc chắn một điểm then chốt không thể thiếu là lòng say mến Đấng Chịu-Đóng-Đinh. Chính lòng mến ấy giúp người nữ tu Mến Thánh giá đón nhận những hy sinh khổ chế, những gian nan khốn khó trong hành trình trung thành sống ơn gọi thừa sai. Tất cả chỉ có thể được thực hiện cách tốt đẹp khi, từng ngày, người nữ tu Mến Thánh giá sống một cách hài hòa giữa việc chuyển cầu nơi nguyện đường và chuyển cầu nơi hoạt động nơi đời thường.

Dẫu còn đó những khó khăn, người nữ tu Mến Thánh giá vẫn luôn vững tin rằng: “Ơn của Đấng Chịu-Đóng-Đinh đủ cho mình” (x. 2Cr 12,9), và Ngài “luôn ở cùng với mình mọi ngày cho đến tận thế” (x. Mt 28,20).

Nt. Maria Lê Thị Bích Phượng

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)

Nguồn: WHĐ (08/6/2026)

————

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, trong AAS 58 (1966), tr. 1025-1115.

Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, trong AAS 57 (1965), tr. 5-64.

Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, trong AAS 56 (1964), tr. 97-134.

Công Đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Ad Gentes, trong AAS 58 (1966), tr. 947-990.

Công Đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, trong AAS 58 (1966), tr. 991-1024.

Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, trong AAS 68 (1976), tr. 5-76.

Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, trong AAS 83 (1991), tr. 249-340. 

Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles laici, trong AAS 81 (1989), tr. 393-521.

Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudiumtrong AAS 105 (2013), tr. 1019-1137.

Congregazione Per Gli Istituti Di Vita Consacrata E Le Società Di Vita Apostolica, Ripartire da Cristo. Un rinnovato impegno della vita consacrata nel terzo millennio, Paoline, Milano 2002.

Hiến Chương Bảy Hội Dòng Mến Thánh giá, Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, Lưu hành nội bộ, 2000.

Grün A. – Ruppert F., Prega e lavoro, Queriniana, Brescia 2004.

Martinelli P., “La persona consacrata di vita apostolica. Una riflessione teologia”, trong Vita consacrata 48 (2012) 5.

Montanari M., Il cuore della preghiera, Rinnovamento nello Spirito Santo, Roma 2007.

Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tiểu sử – Bút tích Đức cha Phêrô Maria Lambert de la Motte, Đấng Sáng Lập Dòng Mến Thánh giá, Lưu hành nội bộ, 1998.

Nhóm nghiên cứu linh đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Lưu hành nội bộ, 2017.

Floristán A., “Missione del cristiano”, trong Dizionario sintetico di pastorale, edd. Casiano Floristan – Juan Josè Tamayo, Libreria Editrice Vaticana, 2018.

Phanxicô, “Bài giáo lý về loan báo Tin Mừng: Gương của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu”, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-ly-loan-bao-tin-mung-07-06-2023-bai-16-guong-cua-thanh-teresa-hai-dong-giesu-51008 [truy cập 24.9.2025].

Phanxicô, Sứ điệp ngày Thế giới truyền giáo năm 2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-giao-nam-2025—nhung-nguoi-truyen-giao-cua-niem-hy-vong-giua-muon-dan [truy cập ngày 24.9.2025].

—————

[1] Phanxicô, Sứ điệp ngày Thế giới truyền giáo năm 2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-giao-nam-2025—nhung-nguoi-truyen-giao-cua-niem-hy-vong-giua-muon-dan [truy cập ngày 25.9.2025].

[2] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 9.

[3] Công Đồng Vaticanô II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 2.

[4] X. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudiumsố 112.

[5] X. Ibid.số 20-23.

[6] Ibid.số 24.

[7] Ibid., số 129.

[8] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles laici, số 14; Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudiumsố 119.

[9] A. Floristán, “Missione del cristiano”, trong Dizionario sintetico di pastorale, edd. Casiano Floristan – Juan Josè Tamayo, Libreria Editrice Vaticana, 2018.

[10] Công Đồng Vaticanô II, sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, 2; Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudiumsố 119.

[11] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Christifideles laici, số 17.

[12] Phanxicô,Tông huấn Evangelii Gaudiumsố 1.

[13] X. Ibid., số 21.

[14] Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 41.

[15] Pierre Lambert de la Motte, “Thư thứ nhất gửi tín hữu Đàng Trong”trong Nhóm nghiên cứu linh đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 144. 

[16] X. Pierre Lambert de la Motte, “Bài tự sự, trong Nhóm nghiên cứu linh đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 58. 

[17] Pierre Lambert de la Motte, “Luật tiên khởi, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 28. 

[18] Hiến Chương Bảy Hội dòng Mến Thánh giá, Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000, điều 54.

[19] Pierre Lambert de la Motte, “Bức tâm thư”, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 41. 

[20] Hiến Chương Bảy Hội dòng Mến Thánh giá, Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000, điều 65.

[21] Pierre Lambert de la Motte, “Bài Tự sự, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển Tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 59. 

[22] Ibid., tr. 64. 

[23] Hiến Chương Bảy Hội dòng Mến Thánh giá, Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000, điều 65.

[24] Ibid., điều 69.

[25] X. Pierre Lambert de la Motte, “Bức tâm thư”, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 41. 

[26] X. Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Lumen Gentium, số 33; Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 14; Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 36.

[27] Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, “Tiểu sử – Bút tích Đức cha Phêrô Maria Lambert de la Motte, Đấng Sáng Lập Dòng Mến Thánh giá”, tái bản năm 1998, số 31.

[28] Ibid.

[29] X. Pierre Lambert de la Motte, “Luật tiên khởi, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển Tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 29. 

[30] X. Pierre Lambert de la Motte, “Bài Tự sự, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển Tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 66. 

[31] Ibid.

[32] X. Phanxicô, “Bài giáo lý về loan báo Tin Mừng: Gương của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu”, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-ly-loan-bao-tin-mung-07-06-2023-bai-16-guong-cua-thanh-teresa-hai-dong-giesu-51008 [truy cập 24.9.2025].

[33] Phanxicô, Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-truyen-giao-nam-2025—nhung-nguoi-truyen-giao-cua-niem-hy-vong-giua-muon-dan [truy cập ngày 24.9.2025].

[34] Hiến chương Bảy Hội dòng Mến Thánh giá, Tổng Giáo Phận Thành Phố Hồ Chí Minh, 2000, điều 76.

[35] Pierre Lambert de la Motte, “Bức Tâm Thư”, trong Nhóm Nghiên Cứu Linh Đạo Mến Thánh giá, Tuyển Tập Bút tích, Tái bản lần 1, 2017, tr. 41. 

[36] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 2.

[37] x. M. Montanari, Il cuore della preghiera, Rinnovamento nello Spirito Santo, Roma 2007, tr. 176.

[38] x. A. Grün – F. Ruppert, Prega e lavoro, Queriniana, Brescia 2004, tr. 67.

[39] x. Ibid., tr. 70.

[40] x. P. Martinelli, «La persona consacrata di vita apostolica. Una riflessione teologia», in Vita consacrata 48 (2012) 5, tr. 407.

[41] x. Ibid., tr. 408.

[42] x. M. Montanari, Il cuore della preghiera, tr. 176.

[43] x. Ibid.

[44] Congregazione Per Gli Istituti Di Vita Consacrata E Le Società Di Vita Apostolica, Ripartire da Cristo. Un rinnovato impegno della vita consacrata nel terzo millennio, Paoline Milano, Số 22.

[45] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 1.