Chúa Nhật 14 Thường Niên Năm A – Man-na Cho Người Lữ Hành

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Dcr 9,9-10

Đáp ca : Tv 144,1-2.8-9.10-11.13cd-14 (Đ. x. c.1)

Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13

Tung hô Tin Mừng : x. Mt 11,25

Tin Mừng : Mt 11,25-30

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Dcr 9,9-10

Đáp ca : Tv 144

Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13

Bài Tin Mừng : Mt 11,25-30

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Một lời nguyện không tách rời những câu Tin Mừng ở đoạn trước

2. Đức Giê-su, sự mặc khải của Chúa Cha cho những kẻ bé mọn

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Dcr 9,9-10

Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi : khiêm tốn ngồi trên lưng lừa.

Bài trích sách ngôn sứ Da-ca-ri-a. 

9 Đức Chúa phán như sau :

“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ !

Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi : Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.

10 Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im, và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem ; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ,

từ sông Cả đến tận cùng cõi đất.”

Đó là lời Chúa.

Đáp ca : Tv 144,1-2.8-9.10-11.13cd-14 (Đ. x. c.1)

Đ. Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,

xin chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

1 Lạy Thiên Chúa con thờ là Vua của con,
con nguyện tán dương Chúa
và chúc tụng Thánh Danh muôn thuở muôn đời.
2 Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa
và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời. Đ.

8 Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.
9 Chúa nhân ái đối với mọi người,
tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Đ.

10 Lạy Chúa, muôn loài Chúa dựng nên phải dâng lời tán tạ,
kẻ hiếu trung phải chúc tụng Ngài,
11 nói lên rằng : triều đại Ngài vinh hiển,
xưng tụng Ngài là Đấng quyền năng. Đ.

13cd Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.
14 Ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy,
kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên. Đ.

Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13

Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

9 Thưa anh em, anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô. 11 Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới.

12 Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. 13 Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết ; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng : x. Mt 11,25

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng : Mt 11,25-30

Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

25 Khi ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. 26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.

27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. 29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. 30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”

Đó là lời Chúa.

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Dcr 9,9-10

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ phần thứ hai của sách Da-ca-ri-a, thường được gọi là đệ nhị Da-ca-ri-a, không phải do chính ngôn sứ Da-ca-ri-a viết mà là tác phẩm vô danh của nhiều tác giả khác. Ngôn sứ Da-ca-ri-a đích thực sống vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên, vào thời kỳ tái thiết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem sau khi trở về từ chốn lưu đày ở Ba-by-lon (521–515 trước Công nguyên). Phần thứ hai của sách Da-ca-ri-a tuy mang tên vị ngôn sứ nhưng được sáng tác khoảng hai trăm năm sau. Tác phẩm là một tập họp nhiều bản văn khác nhau, vô danh và không ghi ngày tháng năm, và thuộc về một thời kỳ giữa chủ nghĩa ngôn sứ lụi tàn và xuất hiện văn chương Khải huyền. Lúc bấy giờ người ta đọc lại những tác giả của thời quá khứ, giải thích và làm mới sứ điệp của các tác giả đó. Trong bài đọc 1, chúng ta vừa nghe đầy dẫy những hoài niệm về các ngôn sứ I-sai-a, Xô-phô-ni-a, Mi-kha, sách các Vua …

Một sợi dây nối kết hai yếu tố khác biệt lại : đó là chủ đề Mê-si-a. Đấng Mê-si-a được tiên báo qua ba dung mạo mà các tác giả Tin Mừng đã nhắc lại khi trích dẫn :

– Dung mạo của vị Vua – Mê-si-a, khiêm tốn và hiền hoà.

– Dung mạo của một vị Mục Tử tốt lành, bị các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en tẩy chay.

– Cuối cùng là dung mạo của một Đấng bí nhiệm bị đâm thâu.

Bài đọc 1 hôm nay đề cập đến dung mạo thứ nhất : dung mạo của Đấng Mê-si-a khiêm tốn, hiền hoà.

* Vua – Mê-si-a tiến vào Giê-ru-sa-lem

“Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò ! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi.” Bài ca vui mừng này báo cho dân Ít-ra-en biết vị Vua – Mê-si-a đang ngự đến với những tiếng tung hô trong Phụng vụ ca ngợi vương quyền của Chúa. Các thánh vịnh cung cấp cho chúng ta nhiều mẫu gương về vấn đề này, chẳng hạn như thánh vịnh 46 : “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi ! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo ! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu” (Tv 46,2-3), hay thánh vịnh 95 : “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, hát lên mừng Chúa hỡi toàn thể địa cầu. Chúa thật cao cả xứng muôn lời ca tụng, khả tôn khả uý hơn chư thần, vì chư thần các nước thảy đều hư ảo” (Tv 95,1-2.3-4). Ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng đã đề cập đến vấn đề này trong các thánh thi Phụng vụ : “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on ! Hò vang dậy đi nào, nhà Ít-ra-en hỡi ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy nức lòng phấn khởi ! Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi, chính là Đức Chúa” (Xp 3,14). Đấng Mê-si-a tiến vào Giê-ru-sa-lem trong vẻ bề ngoài khiêm tốn nhất.

* Vị Vua khiêm nhường

Vị Vua tương lai này sẽ là “Đấng chính trực và toàn thắng”. Tác giả lấy lại những đức tính quen thuộc trong thuyền thống Mê-si-a : “Người sẽ mở rộng quyền bính và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời.” Trong bài đọc 1 vừa nghe, ta thấy tác giả nhấn mạnh đến đức tính cốt lõi của vị Vua – Mê-si-a, đó là khiêm tốn. “Người khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ.” Tất cả vị vua đầu tiên của Ít-ra-en đều cỡi lừa, rồi sau đó là con la, rồi ngựa không thể thiếu cho một chiến binh. Lừa là con vật các người nghèo vẫn dùng để cỡi. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe là bản văn duy nhất trong Cựu Ước mô tả Đấng Mê-si-a như là một nhân vật đầy lòng khiêm tốn. Lời sấm của ngôn sứ được áp dụng cho Đức Giê-su, khi vào Giê-ru-sa-lem cỡi trên một con lừa con với đám đông nhiệt liệt tung hô.

* Vị Vua hoà bình

“Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Ép-ra-im (vương quốc phía Bắc) và chiến mã khỏi Giê-ru-sa-lem (vương quốc phía Nam).” Tác giả muốn nói rằng thời đại Mê-si-a sẽ là thời đại tái thống nhất hai vương quốc Ép-ra-im và Giê-ru-sa-lem. Toàn thể bộ máy chiến tranh đều bị huỷ bỏ. Từ ngữ “dùng” được nhắc lại nhiều lần trong bản văn Kinh Thánh : “Trong ngày đó, Ta sẽ bẻ gãy cung nỏ, gươm đao, chấm dứt chiến tranh trên toàn xứ sở, và Ta sẽ cho chúng được sống yên hàn” (Hs 2,20). “Nhưng nhà Giu-đa thì Ta sẽ chạnh lòng thương và sẽ cứu chúng nhờ Đức Chúa, Thiên Chúa của chúng. Ta sẽ không dùng cung nỏ, gươm đao và chinh chiến mà cứu chúng, cũng chẳng dùng chiến mã và kỵ binh” (Hs 1,7), hay ngôn sứ Mi-kha : “Ta sẽ cho ngựa của ngươi biến khỏi xứ, sẽ huỷ diệt xe trận của ngươi” (Mk 5,9). Hoà bình là quà tặng tuyệt vời nhất của Đấng Mê-si-a. Chính Vua Mê-si-a sẽ công bố điều đó cho các quốc gia : “Bình an ! Bình an cho khắp xa gần” (Is 57,19). Thánh vịnh 72 : “Triều đại Người đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn” (Tv 72,7). Tuy mang vẻ bề ngoài là vị Vua khiêm tốn và hiền hoà, yêu chuộng hoà bình, nhưng Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng trái đất.

Đáp ca : Tv 144

1. Thánh vịnh 144 là thánh vịnh ca ngợi Chúa uy linh. Người Do-thái đọc thánh vịnh này mỗi ngày vào giờ kinh Sáng : “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa.” Đức Giê-su chắc cũng đọc thánh vịnh này hàng ngàn lần. Từ ngữ diễn tả tâm tình ca tụng thật súc tích : tán dương, chúc tụng, ca ngợi, ca tụng, tuyên bố, kể lại rằng, xưng tụng. Tác giả thánh vịnh không thể không chúc tụng Thiên Chúa. Đức vua của ông chính là Thiên Chúa. Ông kể ra vinh quang của Người : vinh hiển, kỳ công, uy quyền … là những phẩm tính vương giả. Ông còn ca tụng lòng nhân ái, từ bi, nhân hậu, đầy tình thương, thành tín, công minh, gần gũi … những phẩm tính của một người cha. Thiên Chúa là Vua nhưng không phải là một vị vua với quyền năng bá chủ và xa cách, nhưng Người luôn nhìn đến thụ tạo mà Người đã dựng nên và thông ban sự sống cho mọi loài.

2. Tin Mừng chứng minh rằng Đức Giê-su luôn quy hướng về Thiên Chúa. Người là Đấng Chúa Cha sai đến để thực thi thánh ý Chúa Cha. Lòng nhân ái của Thiên Chúa mà thánh vịnh 144 nói đến, Đức Giê-su chính là hiện thân sống động. Nhờ Người mà “ai quỵ ngã, Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên”. Của ăn ban cho các sinh vật ăn thoả thuê chính là bánh mỗi ngày mà Đức Giê-su khuyên ta xin Chúa Cha, và cũng chính là bánh hằng sống nhiệm mầu trong bí tích Thánh Thể.

Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13

1. Vấn đề lớn trong bài đọc 2 hôm nay nằm trong từ “xác thịt” : đối với thánh Phao-lô, “xác thịt” không có nghĩa như chúng ta nghĩ ngày nay đâu. Cái mà thánh Phao-lô gọi là xác thịt không phải là thân xác đâu, cái mà thánh Phao-lô gọi là Thần Khí cũng không phải là tâm hồn. Đàng khác, nhiều lần thánh Phao-lô nói về Thần Khí của Thiên Chúa, hay “Thần Khí của Đức Ki-tô”. Và nếu đọc cho kỹ, ta thấy thánh Phao-lô không có ý đối chọi hai từ “xác thịt” và “Thần Khí”, nhưng là cách sống, “sống theo xác thịt” và “sống theo Thần Khí”. Thánh Phao-lô đề nghị người tín hữu phải chọn một trong hai cách sống.

Đối với thánh Phao-lô, “sống theo xác thịt” là sống xa cách Thiên Chúa, đóng khung trong tâm trí và sức lực giới hạn của con người. Từ “xác thịt” thường trở nên đồng nghĩa với tội lỗi, nghĩa là đối nghịch với Thiên Chúa, hoặc ít ra là nghi ngờ Người, thiếu lòng tin vào Thiên Chúa. Trước những thử thách hằng ngày trong sa mạc, cách riêng khi bị khát, dân Ít-ra-en nghi ngờ Thiên Chúa bỏ rơi họ, nên họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê ; chúng ta biết câu chuyện ở tại Ma-xa và Mơ-ri-va mà sách Xuất hành đã kể lại. Cũng thế, ông A-đam nghi ngờ Thiên Chúa và không vâng lời Người. Đó là câu chuyện sa ngã tại vườn Ê-đen, vườn địa đàng.

2. Trái lại, “sống theo Thần Khí” là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn cách sống của chúng ta. Thánh Phao-lô cho ta biết : “Anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em.” Từ “Thần Khí” được lặp lại 3 lần trong bản văn hôm nay, cho thấy tầm quan trọng thánh Phao-lô đặt vào đó. “Ta sẽ đặt Thần Khí Ta vào lòng các ngươi và các ngươi sẽ được sống.” Ngôn sứ Ê-dê-ki-en nói như vậy. Từ nay về sau, nghĩa là từ khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thánh Phao-lô cho biết : “Thần Khí Thiên Chúa ngự trong anh em.” Chúng ta trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, vì thế, chính Người điều khiển chúng ta.

Nói rằng Thần Khí ngự trong chúng ta, là xác nhận Người hành động nơi chúng ta để thực hiện điều Người đã thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô : “Nếu Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chêt, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới.” Lời hứa cho sống lại là nhắm đến tương lai, nhưng vì thánh Phao-lô đang nói về sự lệ thuộc của chúng ta vào Thần Khí, nên chắc chắn ngài cũng nghĩ đến đời sống thiêng liêng là hoa quả sự phục sinh của Đức Ki-tô mà chúng ta đã liên kết vào. “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Ki-tô khi chịu phép rửa, lại cùng được trỗi dậy với Người, vì tin vào quyền năng của Thiên Chúa, Đấng làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết. Trước kia anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Ki-tô” (Cl 2,12-13). Ngay khi còn sống trong thân xác hay chết, chúng ta đã có thể sống theo Thần Khí của Đức Ki-tô, ta có thể thay từ “Thần Khí” bằng từ “tình yêu”. Thánh Phao-lô đã viết cho tín hữu Rô-ma ở chương 5,5 : “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô cho ta biết hoa quả của Thần Khí là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22). Tắt một lời, tình yêu mang những sắc thái khác nhau của đời sống thường ngày. Về vấn đề này, thánh Phao-lô là người thừa kế đích thực của toàn bộ truyền thống của các ngôn sứ : tất cả đều xác nhận rằng mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa được kiểm chứng qua các liên hệ của chúng ta với tha nhân ; và trong các bài ca về “Người Tôi Tớ”, I-sai-a quả quyết rằng, sống theo Thần Khí của Thiên Chúa là yêu thương và phục vụ anh em mình.

Bài Tin Mừng : Mt 11,25-30

1. Lời Chúa trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe gợi lại chuyện các thiếu niên Do-thái trong sách Đa-ni-en, giải thích ý nghĩa giấc chiêm bao của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo mà tất cả các nhà thông thái Ba-by-lon đều không giải thích được, nhờ ơn mặc khải của Thiên Chúa. Nhà vua nhìn thấy trong giấc chiêm bao một pho tượng kỳ quái : Đầu pho tượng ấy bằng vàng ròng, ngực và hai cánh tay bằng bạc, bụng và hai bắp đùi bằng đồng, hai bắp chân bằng sắt, hai bàn chân nửa sắt nửa sành. Ngài đang mải nhìn thì bỗng có một tảng đá tách ra, dù không có bàn tay nào đụng tới, nó đập vào pho tượng trúng hai chân nửa sắt nửa sành khiến hai bàn chân vỡ tan ra. Bấy giờ tất cả cùng vỡ tan : cả sắt, sành, đồng, bạc lẫn vàng, giống như rơm rác trên sân phơi lúa mùa hè bị gió cuốn đi không để lại dấu vết gì. Còn tảng đá làm vỡ pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn, choáng hết mặt đất. Và đây là ý nghĩa của giấc chiêm bao : Đức Chúa Trời đã ban cho vua vương quốc, quyền hành, thế lực và vinh quang, và cho ngài làm chúa tể muôn loài. Cái đầu bằng vàng chính là ngài. Sau triều đại của ngài, sẽ xuất hiện một vương quốc khác kém hơn ngài. Rồi một vương quốc thứ ba nữa, vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị cả mặt đất. Còn vương quốc thứ tư vững như sắt. Cũng như sắt nghiền nát và đập tan tất cả, thì vương quốc thứ tư này sẽ đập tan tất cả các vương quốc trước đó. Trong giấc chiêm bao, chúng ta thấy bốn loại kim khí được kể theo thứ tự giảm dần : vàng, bạc, đồng, sắt, chỉ bốn vương quốc : Ba-by-lon (đầu bằng vàng) ; Mê-đi-a (ngực và hai cánh tay bằng bạc – một vương quốc khác) ; vương quốc thứ ba là Ba Tư (bụng và bắp đùi bằng đồng) ; Hy-lạp (hai bắp chân bằng sắt). Còn hai bàn chân nửa sắt nửa sành (= nửa bằng đất sét) chỉ vương quốc Hy-lạp sẽ bị phân chia sau khi vua A-lê-xan-đê đại đế băng hà, từ năm 305 trở đi, vương quốc Hy-lạp chia làm hai : vương quốc do nhà Xê-lêu-cô cai trị, gọi là vương quốc mạnh, và vương quốc do nhà La-gô cai trị được gọi là vương quốc yếu. Vương quốc đập tan tất cả các vương quốc khác, đó là vương quốc Mê-si-a, vương quốc cánh chung.

Cũng thế, Chúa Giê-su ngợi khen Thiên Chúa như Cha đã tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn, tức là những kẻ tin theo và chỉ biết lệ thuộc vào người lớn. Ở đây, Chúa Giê-su cũng cho thấy Thiên Chúa đã giao phó mọi sự cho Người, nhất là cho Người biết Cha để rồi Người mặc khải cho người ta, nghĩa là để làm cho người ta được sống đời đời. Như thế, chính Chúa Giê-su là Con Người của sách Đa-ni-en, ở đây xuất hiện dưới danh xưng Con Thiên Chúa, là Vua và là Đấng mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Những người này cũng là những kẻ vất vả, mang gánh nặng nề mà Chúa Giê-su kêu gọi đến với Người. Trước tiên, đây hiểu về những người Do-thái sống dưới ách của Lề Luật cũ và vô vàn vô số những tập tục nặng nề mà các kinh sư và nhóm Pha-ri-sêu đã đặt ra. Nhưng cũng hiểu rộng ra về kiếp sống con người trên trần gian này nói chung.

Mang lấy ách của tôi là một kiểu nói bóng các thầy Ráp-bi xưa quen dùng, hàm ý nhìn nhận ai làm Thầy. Ách / gánh của Chúa Giê-su là đạo lý Tin Mừng. Có thể nói đạo lý này tổng hợp trong ba điểm : tin (trở thành môn đệ, thụ giáo với Chúa), khiêm nhường (thái độ đối với Chúa), hiền lành (thái độ đối với tha nhân) như Chúa Giê-su.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con hiểu rằng ách của Chúa luôn êm ái và gánh của Chúa luôn nhẹ nhàng.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có noi gương Chúa Giê-su hiền lành và khiêm nhường chưa ?

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Một lời nguyện không tách rời những câu Tin Mừng ở đoạn trước

(L. Monloubou, “Evangile de Matthieu”, Salvator).

Lời cầu nguyện của Đức Giê-su được trích dẫn ở đây không tách rời những câu Tin Mừng ở đoạn trước. Vì quen chia cắt chương này, ta hay coi thường mối liên hệ chặt chẽ nối kết Lời của Đức Giê-su với sự thất bại khi Người rao giảng tại Ga-li-lê. Thất bại này giải thích tại sao Đức Giê-su kết án những thành thị bất tín.

Điểm lý thú trong lời kinh nguyện của Đức Giê-su là, sau khi cảm nhận sự thất bại trong chuyến đi vòng quanh Ga-li-lê, Đức Giê-su “chúc tụng” Chúa Cha.

Trong Cựu Ước không thiếu gì những bản văn miêu tả phản ứng hiếu chiến rất nhân loại của các ngôn sứ. Sau khi bị tổn thương vì gặp thất bại, họ quy trách nhiệm cho Thiên Chúa về những thất bại đó. Bài tự thuật của ngôn sứ Giê-rê-mi-a tường thuật lại mối thất vọng nặng chất người – trừ Đức Giê-su, ai dám kết án một sự thất vọng như thế ? – của vị ngôn sứ bất hạnh, bị các thính giả mà Người kết án vây hãm tứ bề. Những câu nói của một vị ngôn sứ tuyệt vọng vì thất bại, muốn nghi ngờ Thiên Chúa đã được ngôn sứ Giê-rê-mi-a thuật lại (15,15-18 hoặc 15,19-21) có thể dùng trong bài đọc 1 ; những lời ấy cho thấy sự yếu đuối của tín hữu, và của chính vị ngôn sứ đã muốn nghi ngờ Thiên Chúa, chúng cho thấy sức mạnh vô song của Đức Giê-su, và, thay vì phản loạn, nghi ngờ, Người đã “chúc tụng”. Người nói : “Vâng, lạy Cha, đó là ý định của Cha.”

Đức Giê-su chúc tụng. Chúc tụng phát xuất từ sự ngưỡng mộ. Ta chúc tụng vì ngưỡng mộ một tác phẩm, một nhân vật có những dấu hiệu của sự hoàn hảo, toàn bích. Như thế Đức Giê-su nghĩ rằng kết quả của chuyến rao giảng tại Ga-li-lê, tuy bề ngoài có vẻ bi quan, vẫn có cái gì tích cực. Để thẩm định sự vật như thế, phải vượt qua những lý do tự nhiên. Vì tiếng kêu thán phục thốt lên trong lời chúc tụng không chỉ phát xuất do sự vật mà ta nhìn ngắm, ngưỡng mộ, tiếng kêu ấy phát xuất từ việc đối chiếu với Thiên Chúa. Một sự ngất ngây phát sinh khi ta thoáng thấy Thiên Chúa ; tình trạng đó là kết quả của một hành vi của Thiên Chúa, như một tác phẩm thần linh. Vậy ta ngưỡng mộ Thiên Chúa hơn là tác phẩm của Người, và ta chúc tụng Người.

Đức Giê-su chúc tụng Thiên Chúa vì, tuy không quên trách nhiệm đối với những kẻ bất tín trong thất bại của Người (sự kết án những thành thị minh chứng điều đó), Người đã nhận ra một mầu nhiệm thần linh ; Người biết rằng Thiên Chúa có mặt trong tấn kịch. Nó đã hầu như phá huỷ nỗ lực rao giảng Tin Mừng của Người. Người ngưỡng mộ sự hiện diện này, công trình của Thiên Chúa này.

Chính Thiên Chúa đã che mắt những kẻ bất tín, cũng chính Thiên Chúa mặc khải cho “những ai đơn sơ” : vì tất cả những điều đó, Người phải được chúc tụng. Người tỏ ra là một Thiên Chúa hiện diện còn hơn cả hiện diện : một Thiên Chúa “là Cha”. Đức Giê-su nói : “Lạy Cha, Con chúc tụng Cha.”

2. Đức Giê-su, sự mặc khải của Chúa Cha cho những kẻ bé mọn

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Lời nguyện của Đức Giê-su : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn …”. Không có ý nói Thiên Chúa phân biệt đối xử ; Đức Giê-su không tuyên bố cửa Nước Trời vĩnh viễn khép chặt đối với một vài loại người. Nhưng mỗi người chúng ta đều bị đe doạ vì thói tự mãn, kiêu căng về kiến thức, về sự khôn ngoan phàm trần … Để đón nhận Thiên Chúa và ơn cứu độ, con người phải diệt trừ thói tự mãn. Đó không phải là hạ mình. Ngược lại, đó là sự cao cả của con người : năng lực của họ mở ra vô biên và do đó đạt đến viên mãn. Vì thế Đức Giê-su có thể ca ngợi Chúa Cha đã ban cho con người được đi vào mầu nhiệm của Người : “Con xin ngợi khen Cha … vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn.” Đó không phải là một lựa chọn cứng nhắc, nhưng là sự quan tâm yêu thương của Người. “Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”

Điều mà Chúa Cha che giấu những người khôn ngoan thông thái, nhưng mặc khải cho những kẻ bé mọn, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa, đời sống thân mật của Thiên Chúa. Thiên Chúa Tình Yêu tỏ mình ra trong mầu nhiệm đời sống của Người, mầu nhiệm sự thân mật của Người, là Thiên Chúa Ba Ngôi : “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Vì đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa, của tình yêu là sức sống Thiên Chúa mà Người muốn ta chia sẻ, sự khôn ngoan thông thái loài phàm trần chúng ta không tài nào hiểu được. Ta không thể phán đoán Thiên Chúa theo chuẩn mực nhân loại. Ta không thể tiến vào mối thân mật thâm sâu với Thiên Chúa bằng những nỗ lực hay bằng lý luận của loài người. Ta chỉ có thể mấp mé ở ngưỡng cửa nơi lý trí còn có thể phiêu lưu, nơi lòng muốn có thể vươn tới nhưng không bao giờ đạt được đối tượng. Các triết thuyết lý luận về Thiên Chúa, các nhà thần bí hướng dẫn cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng sau cùng Thiên Chúa vẫn là “Đấng vượt trên tất cả”. Ta chỉ nhận biết Người nếu để Người dạy dỗ. Ta chỉ gặp được Người nếu để Người dẫn ta đi. “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho …”. Đức Giê-su là con đường duy nhất. Người là Con Thiên Chúa làm người để nói lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ loài người và để tỏ ra tình yêu Thiên Chúa trong cử chỉ của con người …

Người đã trở nên anh em của ta, để dẫn đưa ta về với Cha qua những nẻo đường quanh co của kiếp nhân sinh. Mắt ta ngây ngất chiêm ngưỡng nơi Người một sự khôn ngoan và một tình yêu đích thực. Tim ta bốc lửa vì lời Người trao ban cho ta bí mật của bụi gai cháy đỏ. Ta chỉ biết được Chúa Cha và Chúa Con nhờ thờ lạy, chiêm ngắm trong ngọn lửa của Thánh Thần.

 

Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân

Nguồn: WHĐ (03/7/2026)