Chúa Nhật XIII Thường Niên, Năm B (CN 30.06.2024) – Lòng Tin Cứu Chữa

Bài đọc 1: Kn 1,13-15 ; 2,23-24

Chính vì quỷ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian.

Bài trích sách Khôn ngoan.

113Thiên Chúa không làm ra cái chết,
chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong.
14Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu,
mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh,
chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại.
Âm phủ không thống trị địa cầu.
15Quả vậy, đức công chính thì trường sinh bất tử.
223Phải, Thiên Chúa đã sáng tạo con người
cho họ được trường tồn bất diệt.
Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người.
24Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị
mà cái chết đã xâm nhập thế gian.
Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết.

Đáp ca: Tv 29,2 và 4.5-6.11-12a và 13b (Đ. 2a)

Đ.Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,
vì đã thương cứu vớt.

2Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,
vì đã thương cứu vớt,
không để quân thù đắc chí nhạo cười con.4Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên,
tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.

Đ.Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,
vì đã thương cứu vớt.

5Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa,
cảm tạ thánh danh Người.6Người nổi giận, giận trong giây lát,
nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.
Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống,
hừng đông về đã vọng tiếng hò reo.

Đ.Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,
vì đã thương cứu vớt.

11Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con,
lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ.12aKhúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu.13bLạy Chúa là Thiên Chúa con thờ,
xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu.

Đ.Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài,
vì đã thương cứu vớt.

Bài đọc 2: 2 Cr 8,7.9.13-15

Anh em có được dư giả, là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu.

Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

7 Thưa anh em, cũng như anh em từng trổi vượt về mọi mặt : về đức tin, lời giảng, sự hiểu biết, lòng nhiệt thành trong mọi lãnh vực, và về lòng bác ái mà anh em đã học được nơi chúng tôi, thì anh em cũng phải trổi vượt về lòng quảng đại trong dịp lạc quyên này nữa. 9 Quả thật, anh em biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào : Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có. 13 Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều. 14 Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu, để rồi khi được dư giả, họ cũng sẽ giúp đỡ anh em, lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế, sẽ có sự đồng đều, 15 hợp với lời đã chép : Kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu.

Tung hô Tin Mừng: x. 2 Tm 1,10

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng: Mc 5,21-43 

Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

21 Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. 22 Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, 23 và khẩn khoản nài xin : “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống.” 24 Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

25 Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, 26 bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác. 27 Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người. 28 Vì bà tự nhủ : “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.” 29 Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. 30 Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi : “Ai đã sờ vào áo tôi ?” 31 Các môn đệ thưa : “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi ?’” 32 Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. 33 Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. 34 Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

35 Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo : “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?” 36 Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” 37 Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. 38 Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. 39 Người bước vào nhà và bảo họ : “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy ? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” 40 Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm. 41 Người cầm lấy tay nó và nói : “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là : “Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !” 42 Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc. 43 Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn.

(Nguồn: ktcgkpv.org)

—————————-

Suy niệm 1: TGM Giuse Vũ Văn Thiên

ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT

Những vấn nạn lớn nhất của con người mọi thời đại, đó là sự dữ và sự chết. Kể từ khi hiện hữu, con người không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho vấn nạn này. Tại sao có sự dữ? Tại sao con người phải đau khổ và phải chết? Sau khi chết con người sẽ về đâu? Bên kia sự chết là gì? Người ta tìm mọi cách can thiệp cho con người thoát khỏi cái chết, nhưng vô hiệu. Đối diện với đau khổ và sự dữ, nhiều người đã mất niềm tin vào Thiên Chúa, thậm chí phủ nhận sự hiện hữu của Ngài.

Thiên Chúa không làm ra cái chết. Ngài chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Thiên Chúa cũng không là tác giả của sự dữ. Sách Khôn Ngoan khẳng định với chúng ta như thế (Bài đọc I). Sách Khôn Ngoan được viết khá muộn, khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, tức là rất gần với Chúa Giê-su. Nội dung cuốn sách này là những suy tư về thân phận con người, khuyến khích lòng hiếu thảo và nhất là nhằm củng cố đức tin nơi người Do Thái. Ngài luôn yêu thương con người, và đã thể hiện tình yêu ấy bằng công cuộc sáng tạo cũng như bằng những điềm thiêng dấu lạ trong lịch sử. Khi khẳng định: Thiên Chúa không làm ra cái chết và sự dữ, tác giả nói với chúng ta: cái chết là nguyên nhân của quỷ dữ ghen tỵ; đau khổ nhiều khi đến từ chính con người.

Sự chết cũng gắn liền với kiếp sống nhân sinh. Con người đã có ngày sinh ắt có ngày tử. Chẳng ai sống mãi trên thế gian này. Nhìn theo khía cạnh nhân sinh, cái chết cũng là điều may mắn đối với con người. Bởi lẽ nếu mọi người từ tạo thiên lập địa mà không chết thì không biết thế giới sẽ ra sao?

Đã là con người hiện hữu trên trần gian, không ai tránh khỏi đau khổ. Con Thiên Chúa nhập thể làm người cũng đã trải qua đau khổ như chúng ta và đã phải chết. Chúa Giê-su đón nhận đau khổ trong tình yêu thương nhân loại. Tình yêu sẽ hóa giải đau khổ, hoặc ít ra sẽ giúp chúng ta nghị lực để vượt lên đau khổ. Một số người đã tự tìm đến cái chết khi đối diện với đau khổ. Họ đã không tìm được niềm hy vọng và ý nghĩa cuộc đời.

Đức Giê-su đến trần gian để khẳng định: Thiên Chúa làm chủ sự sống. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ không phải là của kẻ chết. Ngài tạo dựng con người không phải để trở về với cát bụi, nhưng để sống hạnh phúc mãi mãi. Như thế, nếu quỷ dữ ghen tương gây nên cái chết, thì Thiên Chúa tình yêu sẽ ban cho con người được sống. Để chứng minh Thiên Chúa có quyền năng trên sự chết, Chúa Giê-su đã làm cho bé gái 12 tuổi, con ông trưởng hội đường tên là Gai-ô, đã chết được sống lại. Thân nhân gia đình và hàng xóm của ông khi thấy bé gái đã chết, liền khuyên can đừng mời Chúa Giê-su đến nữa, vì họ không tin một người đã chết có thể sống lại. Đức Giê-su đã làm cho bé gái sống lại trước sự ngỡ ngàng của mọi người.

Thánh Mác-cô diễn tả ông trưởng hội đường như một người có đức tin vững vàng, qua lời van xin: “Con bé nhà tôi sắp chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống”. Lời van xin này cho thấy, ông tin chắc vào quyền năng của Chúa Giê-su, và dù con ông có chết, cũng sẽ được hồi sinh. Cùng một chủ đề đức tin, tác giả đan xen hai phép lạ trong một trình thuật. Đó là người phụ nữ bị bệnh đã mười hai năm, các thầy thuốc đều đã bó tay. Trong tình trạng đó, bà tin chắc rằng nếu bà chạm tới áo Chúa Giê-su, thì bà sẽ được chữa lành. Sự thể đã xảy ra như vậy. Bà đã được chữa lành ngay tức khắc. Cả hai người – ông trưởng hội đường và người phụ nữ – đều là những gương mẫu về đức tin cho chúng ta.

“Lòng tin của con đã chữa con”. Lời Chúa Giê-su cho thấy điều kiện duy nhất để đón nhận ơn Chúa là lòng tin. Liền sau đó, Chúa cũng nói với ông trưởng hội đường, khi người ta báo tin con ông đã chết: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”. Đức tin luôn là điều kiện cần thiết để ta đón nhận ơn Chúa, kể cả trong những lúc gian nan nhất của cuộc đời. Đức tin Ki-tô giáo khẳng định với chúng ta: sự chết thực ra chỉ là sự biến đổi trạng thái hiện hữu. Sự chết cũng là cánh cửa mở ra để ta bước vào thế giới mới. Những ai sống tốt lành thánh thiện, sau khi chết sẽ được hưởng vinh quang Chúa hứa cho những người công chính. Chỉ có hạnh phúc đời sau mới lý giải được sự công bằng trong đời sống con người. Như thế, dưới lăng kính Ki-tô giáo, sự dữ và sự chết bớt đi màu sắc ảm đạm thê lương, và bừng lên niềm hy vọng nơi tình thương nhiệm màu của Thiên Chúa.

Dù cắt nghĩa thế nào đi nữa, đau khổ và sự chết vẫn đè nặng trên mỗi chúng ta. Sự chết đến từ ghen tương của quỷ dữ, nhưng sự chết cũng đến từ chính chúng ta, hoặc do chính bản thân hoặc do người khác gây ra. Quả vậy, khi gieo rắc hận thù, bạo lực, chiến tranh là gieo rắc đau khổ sự chết. Thánh Phao-lô đưa ra lời khuyên: mỗi người góp phần giảm thiểu đau khổ bằng những nghĩa cử chia sẻ bác ái (Bài đọc II). Ngài khuyên giáo dân Cô-rin-tô, lúc đó khá ổn định về vật chất, hãy quan tâm đến những người đang lâm cảnh túng thiếu. Khi cùng nhau cổ võ những việc thiện, chắc chắn cái ác sẽ bị đẩy lui.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

—————————-

Suy niệm 2: Lm. Lu-y Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

THIÊN CHÚA LÀ NGUỒN SỰ SỐNG

 

Đức Giêsu làm phép lạ chữa lành các bệnh tật, biểu thị rằng Thiên Chúa không liên minh với sự dữ, Người đứng về phía con người và bênh vực con người, đồng thời minh chứng rằng Người là tình yêu, một tình yêu chữa lành và cứu độ.  Bệnh tật và cái chết là mối đe dọa thườntg xuyên của con người, là kẻ thù của con người, con người luôn sống trong sự căng thẳng đó.  Cần phải đứng về phía Thiên Chúa và chạy đến với Thiên Chúa hằng sống để được cứu thoát khỏi sự chết, được tham dự sự sống vĩnh hằng.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy con người khởi đi từ một đức tin yếu kém đến một đức tin vững mạnh phó thác vào Đấng phục sinh.  Ông Gia-ia, ông trưởng hội đường và người đàn bà loạn huyết mười hai năm đều gặp phải bế tắc trong cuộc sống và đã chạy đến cầu cứu Đức Giêsu.  Ông trưởng hội đường xin Người đến đặt tay trên đứa con gái 12 tuổi của ông đang bệnh thập tử nhất sinh, còn người đàn bà tin rằng sự tiếp xúc vào áo choàng của Đức Giêsu cũng đủ làm cho bà khỏi bệnh.  Cả hai đều ở trong hoàn cảnh tuyệt vọng, ở giai đoạn cuối cùng của bệnh tật, giai đoạn ba! Giai đoạn hết thuốc chữa.

Cả hai đã tìm thầy chạy thuốc nhưng tiền mất tật mang, các lương y đều thúc thủ trước bệnh tật.  Họ tìm đến Đức Giêsu như lối thoát cuối cùng.  Và cho dù niềm tin của họ chưa hoàn hảo, Đức Giêsu cũng đã thi ân giáng phúc cho họ (x. Bài Tin Mừng. Mc 5, 21-43).  Đức tin là tình trạng sống động chứ không phải là cái đắc thủ bất di dịch, trong  trình thuật phúc âm hôm nay xem ra Thiên Chúa như ‘đầu hàng’ trước đức tin kiên vững của người khẩn thiết van nài Người.

Người phụ nữ băng huyết nhìn thấy Đức Giêsu là nguồn sự sống và sự chữa lành, bà coi Đức Giêsu như một pháp sư có phương dược ma thuật: “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa” (c. 28), nhưng Đức Giêsu bắt buộc bà phải đối diện với Người, Người truy cứu kẻ đã đụng chạm đến Người và người đàn bà đáng thương nầy không còn cách nào hơn là “đến phủ phục trước mặt Người và nói hết sự thật với Người” (c. 33).  Trích đoạn nầy cho chúng ta nhận thấy đức tin là cuộc đối thoại cá nhân với Thiên Chúa cho dù con người có chìm ngập trong đám đông.  Đức tin đòi tuyên xưng ra bên ngoài cho dù đức tin là thầm kín riêng tư cá nhân.

Đức tin còn là sự gặp gỡ con người với Đức Giêsu, là sự hiểu biết về Thiên Chúa và về chính mình.  Như thế đức tin thiết lập mối quan hệ giữa con người và Thiên Chúa: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con.  Hãy về và khỏi bệnh” (c. 34).  Đức tin không chỉ là tri thức thuần túy nhưng là sự tiếp xúc và đón nhận con người Đức Kitô, bắt đầu bằng một sự gặp gỡ và đối thoại. 

Còn ông Gia-ia, ông chỉ xin Đức Giêsu đến đặt tay trên con gái ông và cứu sống nó.  Người không chỉ làm như thế, Người còn nắm lấy tay em bé và  truyền lệnh cho em “hãy trỗi dậy” khỏi sự chết.  Đây là hình ảnh và cũng là dấu chỉ của bí tích: lời nói bên ngòai, ban hiệu năng bên trong, lời nói sinh tác động qua việc làm.  Tất cả các Bí tích đều là dấu chỉ vật lý bên ngoài ban ơn thiêng liêng bên trong.   Lời nói xác định việc làm và việc làm minh chứng hiệu năng của lời nói.

Cả hai phép lạ được thực hiện, đều có sự gặp gỡ chứ không phải chỉ là việc làm ngoạn mục mà thôi, việc chữa lành làm cho người lãnh nhận phép lạ đi từ sợ hãi đến đức tin vững vàng, đức tin không phải là sợ hãi.  Đức tin là sự nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa đúng theo đạo làm người, đạo của tạo vật đối với Đấng Tạo Hóa.   Chữa lành và cứu sống là kết quả của đức tin, qua dấu chỉ nầy cho thấy Thiên Chúa là đấng ban sự sống, ban ơn cứu độ, việc chữa lành bệnh tật bệnh và cứu sống người chết minh chứng Đức Giêsu có sự sống nơi mình, Người là chủ quyền sự sống.

Sách Khôn Ngoan đã khẳng định rành mạch Thiên Chúa là chủ sự sống, Người không liên minh với văn minh sự chết và với sự dữ dưới mọi hình thức.  Thiên Chúa ban sự sống cho muôn loài muôn vật, Người cứu giúp con người chống lại bệnh tật và sự chết: “Người không làm ra cái chết.  Người sáng tạo ra mọi loài và cho chúng hiện hữu.   Cho họ được trường tồn bất diệt”.  Cái chết là do Xatan xâm nhập thế gian (x. Bài Đọc 1. Kn 1,13-15; 2, 23-24).  Những gì thuộc về văn minh sự chết đều đi ngược lại với Thiên Chúa của sự sống.

Lạy Chúa Giêsu, con tin thật Chúa là Đấng Sáng tạo vũ trụ và vạn vật, Chúa có quyền năng phục hồi sức sống cho con người; có khi con đã bỏ Chúa sự sống để chạy theo văn minh sự chết, xin cho con mau tìm về với nguồn sự sống đích thực là chính Chúa. Amen

—————————-

Suy niệm 3: Lm. Thái Nguyên

ĐỨC TIN CỨU CHỮA

Suy niệm

Chúa Giêsu đến trần gian không phải để làm nghề chữa bệnh, nhưng là để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho mọi người, để tất cả những ai tin vào Ngài thì được ơn cứu độ. Tuy nhiên, hiệu quả của đức tin không chờ đợi tới đời sau mới trọn vẹn, mà còn hữu hiệu ngay trong hiện tại, như trường hợp người phụ nữ bị băng huyết được chữa lành.

Băng huyết là thứ bệnh mà đối với người Do thái không chỉ ô nhơ về mặt thể lý mà họ còn coi nó là một thứ ô uế luân lý. Vì thế, có luật cấm những kẻ mắc bệnh đó không được chạm tới người khác, vì chạm tới ai thì người ấy cũng bị lây ô uế. Biết thế, nên người phụ nữ không dám công khai xin Đức Giêsu cứu chữa mình, nhưng chị âm thầm len lỏi vào trong đám đông, tìm cách lén chạm vào tua áo Ngài, vì tin rằng chỉ cần như vậy là được khỏi bệnh. Giữa đám đông chen lấn, có bao người chạm vào Đức Giêsu, nhưng cái chạm của người nữ này khiến Ngài cảm thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra. Vì đó là cái chạm của lòng tin mạnh mẽ, cái chạm này đã đụng tới sức thiêng, khiến người phụ nữ được giải thoát khỏi cơn bệnh ngặt nghèo đã 12 năm.

Tiếp theo là phép lạ thứ hai khi ông Giairô đến xin Đức Giêsu cứu chữa con gái ông bị bệnh gần chết. Ông là trưởng hội đường, một thành viên vị vọng thuộc hàng kỳ mục, thế mà ông lại sụp xuống dưới chân Đức Giêsu, dù Ngài chẳng có chức sắc gì, chỉ là một ông thầy giảng thuyết nay đây mai đó, mà còn bị giới lãnh đạo nghi kỵ và tìm cách loại trừ. Điều khá lạ lùng là ông đích thân đến với Đức Giêsu chứ không sai người nhà. Có lẽ ông ta phải đi vì chẳng còn ai khác chịu đi, khi thấy tình trạng cô bé đã vô vọng. Thế nhưng ông vẫn hy vọng và đến cầu cứu Đức Giêsu. Ngài đi với ông về nhà, bất ngờ người nhà đến báo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?”. Thấy ông hốt hoảng, nên Đức Giêsu trấn an: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.”.

Khi đến nơi, Đức Giêsu chỉ đưa riêng ba môn đệ thân tín vào nhà với Ngài. Thấy người ta khóc lóc kêu la ầm ĩ, Ngài nói: Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” Nghe vậy, họ chế nhạo Ngài. Rồi Ngài đến, cầm tay em bé và truyền cho em chỗi dậy. Em bé đứng dậy và đi lại trước sự kinh ngạc sững sờ trước sự chứng kiến của mọi người xung quanh.

Cũng như ba môn đệ thân tín, người Kitô hữu là người được Đức Giêsu tách riêng ra để trải nghiệm quyền lực của Ngài qua những hoàn cảnh gay go. Chắc chắn Đức Giêsu không muốn chúng ta nhắm mắt khi đứng trước các giới hạn của khả năng con người, hoặc chao đảo giữa ảo tưởng và thất vọng. Chúng ta sẽ phản ứng thế nào trước những tình trạng ngặt nghèo? Mời gọi người ta bình tĩnh giữ vững niềm tin hay lại hùa theo số đông, buông xuôi theo hoàn cảnh như một định mệnh khắc nghiệt? Đừng quên, với Chúa mọi sự đều có thể. Dù không được ngay theo ý mình nhưng tình huống sẽ được xoay trở cách nào đó.

Cả hai phép lạ xảy ra nhờ lòng tin. Đức tin làm nên phép lạ. Thiếu đức tin, Chúa chẳng thể làm gì cho ta. Đức tin là ơn Chúa ban, nhưng cũng là nỗ lực của ta qua việc nối kết với Chúa từ chính trái tim mình, nhờ việc chạm đến: người phụ nữ chạm đến Chúa, và để Chúa chạm đến em bé. Trái tim tạo nên nhịp sống, và phép lạ là khơi dậy sự sống. Sự sống vốn là một phép lạ, từng hơi thở con người là một phép lạ, mỗi ngày là một phép lạ, mỗi phút giây là một phép lạ. Chỉ có đôi mắt sáng của tâm hồn mới cho ta nhận ra phép lạ liên tục. Ta sống đích thực và dồi dào khi biết tiếp nhận sự sống từ nơi Chúa như một phép lạ.

Thông điệp của bài Phúc Âm không chỉ mời gọi ta sống đức tin sâu xa vào Chúa mà còn mời gọi sống như Chúa. Nghĩa là hãy tiếp nối sự hiện diện của Chúa để xoa dịu những nỗi đau khổ cho anh chị em mình. Chúng ta không có quyền năng như Chúa, nhưng nếu chúng ta sống thân thiết với Chúa và có được tấm lòng của Chúa, thì chắc chắn Chúa sẽ hành động qua chúng ta để đem lại ơn phúc cho người khác.

Trong hành trình phục vụ, nếu ta tin tưởng tuyệt đối vào Đức Giêsu, Đấng luôn khai mở và kiện toàn lòng tin của mọi người, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bước, dù con đường trước mắt có vẻ đã khép lại. Ngoài ra, trong trăm công ngàn việc nhằm phục vụ cho hạnh phúc của con người, chúng ta vẫn được mời học lấy cái nhìn tinh tế và ân cần của Đức Giêsu: “cho con bé ăn”. Ngài thấy nhu cầu nhỏ bé của từng con người trong những nhu cầu thực tế của họ. Ngài không bao giờ vì số đông mà quên từng cá nhân, để đem lại cho mỗi người niềm vui sống.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu!
Nếu chỉ đặt hy vọng ở đời này,
thì con sẽ là người bất hạnh nhất,
vì cuối cùng cũng chỉ là bụi đất,
ngoài Chúa ra chẳng có gì hy vọng.

Xin cho con một đức tin sâu thẳm,
để thấy Chúa đang ẩn mình trong con,
đang ẩn thân trong mọi người mọi sự.

Xin cho con một đức tin sống động,
để thấy Chúa vẫn yêu thương hành động
đang chữa lành và giải phóng nhân tâm.

Xin cho con một đức tin vững vàng,
để chuyển thông một sức sống bình an,
khiến lo âu sợ hãi dần tan biến.

Xin cho con một đức tin vô chấp,
không động lòng cao thấp trước lợi danh,
không màng chi địa vị với quyền hành.

Xin cho con một đức tin tinh ròng,
để thấy được những gì Chúa ước mong,
và hiểu được những gì con phải sống.

Xin cho con một đức tin sáng suốt,
biết phân định và phán đoán khôn ngoan,
giữa sáng tối và vàng thau lẫn lộn.

Xin cho con một đức tin kiên cường,
dám can trường làm chứng tá tình thương,
không sợ gì những nhiễu nhương thế sự.

Xin cho con một đức tin lên đường,
dám đến với mọi người khắp bốn phương,
đi gieo rắc Tin Mừng về muôn hướng. Amen.

Lm. Thái Nguyên

WGPKT(27/06/2024) KONTUM