
Ông Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en.
Bài trích sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.
1b Thời đó, Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”
6 Khi ông Gie-sê và các con trai ông đến, ông Sa-mu-en thấy Ê-li-áp, ông nghĩ : “Đúng rồi ! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây !” 7 Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm : người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”
10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê : “Đức Chúa không chọn những người này.” 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : “Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?” Ông Gie-sê trả lời : “Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.” Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê : “Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.” 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !” 13a Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
1Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.2Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành3avà bổ sức cho tôi.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
3bNgười dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính
vì danh dự của Người.4Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
5Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
6Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên.
Đ.Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào ! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.
8 Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra ; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng :
Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ !
Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào !
Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !
Chúa nói : Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.
Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”
6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.
8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”
13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”
18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”
24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.
35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”
40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?” 41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”
(Nguồn: ktcgkpv.org)
—————————
Suy niệm 1: TGM Nguyễn Văn Thiên

Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người và muôn loài muôn vật. Ngài ở trên chúng ta. Cái nhìn của Ngài không giống như cái nhìn của chúng ta. Chúng ta thường quan sát bề ngoài, nhưng Thiên Chúa là Đấng thấu hiểu lòng dạ con người. Mùa Chay mời gọi chúng ta thanh tẩy cách quan sát, loại bỏ tính nhỏ nhen ích kỷ, mở rộng tầm mắt quan sát mọi biến cố, mọi con người với cái nhìn của Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn, và cũng là Đấng luôn nhìn chúng ta với ánh mắt yêu thương.
Tại nhà của ông Giê-sê, là cha của Đa-vít, ban đầu ông Sa-mu-en quan sát nhận định theo cái nhìn chủ quan của mình. Ông thấy những người con lực lưỡng và hùng mạnh và nghĩ đó là người sẽ được Chúa chọn làm lãnh đạo Ít-ra-en. Thiên Chúa đã nói với ông: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng”. Cuối cùng, Đa-vít là một chàng trai còn mải chơi với đàn chiên và cung nỏ, hầu như bị quên lãng bởi mọi người trong gia đình, lại được chọn làm vị vua tương lai của Ít-ra-en.
Chúng ta cần có cái nhìn sáng suốt để chiêm ngắm Thiên Chúa. Tin là nhận biết quyền năng cao cả và tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa, mặc dù mắt thường không thấy. Do ảnh hưởng bởi lối sống phàm tục, đôi khi người ta cố ý hay vô tình tạo dựng một hình ảnh méo mó và biến dạng về Thiên Chúa. Trong một xã hội tham nhũng và hối lộ, người ta nghĩ thế giới thần linh cũng thích nhận hối lộ theo kiểu “tốt lễ dễ kêu”. Mỗi khi mùa xuân về, nhiều người đi lễ đền này phủ kia, với những mâm lễ cầu kỳ đắt tiền, và nghĩ rằng các vị thần linh sẽ hài lòng và phù trợ cho họ trong công việc làm ăn. Không mấy khi những người này để ý đến việc làm của mình là gian trá hay lương thiện. Họ cũng chẳng để ý đến tư cách và đời sống cá nhân của mình như thế nào, đồng thời coi việc lễ lạt là điều kiện đủ để có một cuộc sống may mắn, phát tài.
Đức Giê-su đến trần gian để điều chỉnh quan niệm của con người về Thiên Chúa. Người phê phán nặng lời những luật sĩ và biệt phái. Họ vừa sống giả hình, vừa mị dân vì thói tham lam. Phép lạ chữa người mù bẩm sinh nhắc chúng ta nhìn lại quan niệm sáng-mù. Nội dung Phúc âm xây dựng các nhân vật một cách tài tình: anh mù từ bẩm sinh được chữa lành, tuy thân phận hèn kém, lại lý luận khôn ngoan, khiến những người luật sĩ phải cụt hứng. Anh đã lập luận: “Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo thánh ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy”. Trước đối đáp khôn ngoan này, những người biệt phái đuối lý và dùng quyền lực lấn át bằng “lý sự cùn”: “Mày sinh ra trong tội mà lại dạy chúng ta ư?”.
Dưới ngòi bút của tác giả Tin Mừng, có một sự đảo ngược về quan niệm: người mù chỉ tăm tối về con mắt thể lý, nhưng con mắt tâm hồn thì lại sáng suốt; trong khi những người biệt phái tự hào về tri thức, thì tâm hồn họ lại tăm tối, do ghen ghét và hận thù. Người mù đã nhìn thấy, không chỉ những vật xung quanh, mà còn thấy cả quyền năng của Thiên Chúa nữa. Khi dùng những biện pháp đe dọa anh mù cũng như cha mẹ anh, những người biệt phái cố tình ép người mù phải nói theo định hướng của họ, để bản thân anh và những người xung quanh không tin rằng Chúa Giê-su có khả năng chữa lành. Trong cuộc sống của chúng ta, có những khi, việc chứng minh về một sự thật hiển nhiên đã xảy ra cho bản thân mình lại là một điều không dễ, do những áp lực xung quanh.
Chúa Nhật thứ bốn Mùa Chay cũng được gọi là Chúa Nhật của niềm vui. Đây giống như một chặng nghỉ dưỡng sức để chuẩn bị bước vào những ngày cao điểm của Phụng vụ Ki-tô giáo, tức là Tam nhật Vượt qua và lễ Phục sinh. Chúng ta vui vì được Chúa mạc khải để nhìn thấy quyền năng của Ngài. Vui vì được làm con Chúa và được sống trong lòng Giáo Hội, với những anh chị em có cùng một đức tin và một lý tưởng trọn lành. Những khổ chế hãm mình, cùng với thiện chí sám hối của Mùa Chay nhằm đem lại cho chúng ta niềm vui của ân sủng và của tình người, niềm vui với Chúa và với anh chị em. Chúng ta cần tập cho mình thói quen tạ ơn Chúa vì những điều nhỏ bé mà Chúa thực hiện xung quanh ta mỗi ngày. Nếu mỗi buổi sáng chúng ta được thức dậy, mỗi ngày chúng ta có lương thực để ăn, chúng ta được đến trường hay công sở… là nhờ Thiên Chúa, và chúng ta cần tạ ơn Ngài về những điều đó. Đức Giê-su đang sai chúng ta đi “rửa mắt” để nhận ra những điều kỳ diệu xung quanh mình.
Niềm vui của Ki-tô hữu chỉ trọn vẹn, khi chúng ta thực sự rũ bỏ bóng tối. Ki-tô hữu là con cái của sự sáng. Chúng ta đang nỗ lực để vươn tới ánh sáng ngàn đời là Thiên Chúa. Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Ê-phê-xô (Bài đọc II): “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật”. Qua những lời này, chúng ta hiểu điều mà thánh Phao-lô muốn diễn tả qua khái niệm “ánh sáng”: đó là lương thiện, công chính, hài hòa, khoan dung và bác ái. Xin Chúa Giê-su mở mắt chúng ta, để chúng ta có cái nhìn của Thiên Chúa, đối với anh chị em và tất cả những gì đang xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Trình thuật Tin Mừng kết thúc ở cử chỉ thờ lạy, kèm theo lời tuyên xưng đức tin của người mù được chữa lành. Đó cũng là tâm tình của mỗi chúng ta, khi cử hành Mùa Chay hồng phúc này.
+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
(Nguồn: tonggiaophanhanoi.org)
—————————
Suy niệm 2: Lm. Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh

MỞ MẮT NGƯỜI MÙ
Hành trình đức tin của con người gặp gỡ Thiên Chúa được các Chúa nhật mùa Chay năm A trình bày. Chính Thiên Chúa đi bước trước trong các đối thoại với con người và làm cho con người nhận biết Thiên Chúa qua các biến cố phép lạ được thực hiện. Khi con người đứng trước những hoàn cảnh bế tắc thì chính Thiên Chúa có cách giải quyết thần thánh của Người. Các bài Tin mừng của Chúa nhật mùa Chay năm A là tiêu biểu cho các tiến trình thành hình đức tin nơi người mới đón nhận Đức Ki-tô. Đức tin là ân huệ Thiên Chúa trao ban và là sự đón nhận của người muốn tin.
Chúa nhật thứ Ba, chúng ta đọc trình thuật đối thoại giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri đầy tai tiếng, Chúa nhật thứ Năm là trình thuật La-da-rô sống lại dù đã chết ba ngày; và hôm nay Chúa nhật thứ Tư chúng ta đọc trình thuật chữa mắt người mù từ thuở mới sinh. Cả ba trình thuật đều nói đến hoàn cảnh bế tắc mà nhân loại không có thuốc chữa.
Nơi giếng Gia-cóp các môn đệ ngạc nhiên thấy Đức Giê-su nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri, đó là điều cấm kỵ theo não trạng Do thái. Trước nấm mồ của La-da-rô, người Do thái soi mói, quan sát Đức Giê-su và truyền miệng nhau về sự xúc động của Đức Giê-su trước người bạn thân. Hôm nay đứng trước người mù từ thuở mới sinh, các môn đệ lên tiếng hỏi như bao nhiêu người khác suy nghĩ trong riêng tư: “Tại sao nó sinh ra như thế? Lỗi tại ai, tại nó hay tại cha mẹ của nó?” (x. Bài Tin Mừng. Ga 9,1-38). Họ tra cứu nguyên nhân của sự dữ từ đâu mà đến ?
“Sinh ra như thế đó” là đầu đề của quyển sách do De-ni-se Le-gris xuất bản, một cô gái sinh ra không tay, không chân, cô viết và vẽ bằng cái miệng. Cô đã khắc phục số phận bằng vượt lên trên sự kém may mắn, vượt lên khuyết tật để dành lấy cuộc sống. Dĩ nhiên trong đời thường cũng đã có biết bao nhiêu người “sinh ra như thế đó”, mà điển hình là anh chàng mù từ thuở mới sinh được nói đến trong Tin Mừng Gio-an hôm nay, anh ta như là biểu tượng cho sự thiếu công bình từ thuở mới sinh: Tại sao như thế? Đó là vấn nạn thường được nêu lên trước đau khổ và sự dữ.
Người ta thường tìm nguyên nhân nhằm thỏa mãn tính hiếu kỳ khi đối diện với sự dữ. Đức Giê-su trả lời bằng liên đới sự kiện với vinh quang của Thiên Chúa: “Không phải anh ta cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”(câu 3). Nghĩa là gương mặt của Thiên Chúa được tỏ lộ ra nơi việc nầy đối với mọi con người, như thánh I-rê-nê nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sinh động”.
Lời giải thích của Đức Giê-su được minh chứng qua đời sống của ông Nick Vu-ji-cic, một thanh niên Úc cũng nằm trong số hẩm hiu đó, anh qua Việt Nam năm 2013 diễn thuyết tại Sài-gòn và tại Hà nội, anh lạc quan nói: “Tôi sinh ra không có chân tay không phải vì tôi bị Chúa trừng phạt. Bây giờ tôi hiểu rõ điều đó. Tôi đã hiểu ra rằng “khuyết tật” của tôi thực sự là để nâng cao khả năng tôi phục vụ cho những mục đích mà Đấng Sáng tạo dành cho tôi trong vai trò của một diễn giả và một nhà truyền giáo”[1]. Anh rất nổi tiếng trên thế giới vì sự lạc quan yêu đời, anh có vợ và một con.
Vài tuần nữa đây, các đau khổ và nhục hình sẽ được bản thân Đức Giê-su đón nhận, chính Người sẽ mặc khải một Thiên Chúa câm lặng, không nhiều lời cắt nghĩa, không kết án, nhưng đón lấy tội lỗi của nhân loại, liên đới với nhân loại trong thân phận “Sinh ra như thế đó”. Văn sĩ công giáo người Pháp Paul Clau-del suy niệm về sự dữ đã viết: “Đức Giê-su không đến giải thích hay hủy diệt đau khổ mà Người đến lấp đầy đau khổ bằng sự hiện diện của Người. Thiên Chúa đứng về phía chúng ta để đương đầu với đau khổ và tội lỗi, và Người chấp nhận đau khổ để biến nó thành chất liệu làm nên ơn cứu chuộc”.
Thánh Giá vẫn được trồng cao trên đỉnh đồi Can-vê cho đến tận thế, đây không phải là sự ô nhục hay thất bại nhưng là sự phản kháng sự độc ác mà nhân loại dành cho Con Thiên Chúa, Đấng gánh lấy tội lỗi trần gian; và điều kỳ diệu xảy ra, Thánh Giá trở nên vinh quang trên những gì nhân loại cho là hạ bệ con người. Người đã lấy độc trị độc. Từ việc mở mắt người mù sẽ dẫn chúng ta đến sự mở mắt cho con người đón nhận ánh sáng đức tin. Ánh sáng nầy chiếu soi người phụ nữ Sa-ma-ri cũng như mở mắt cho La-da-rô tin vào Đức Giê-su. Cách làm ngược đời nầy như được tiên báo trong việc tư tế Sa-mu-en đổ dầu trên đứa con út của nhà Gie-sê phong ông làm vua, một đứa nhỏ chăn cừu mà người ta cho là không phù hợp và thiếu khả năng làm vua, sau nầy sẽ là vua Đa-vít tài trí lừng danh (x. Bài đọc 1.1Sm 16,1b.6-7.10-13a). Lấy nhu thắng cương, lấy nhược thắng cường thường xảy ra trong Kinh thánh, như Đa-vít thắng tướng quân Gô-li-át. Việc Chúa làm thật là mầu nhiệm! Thiên Chúa luôn luôn làm chủ lịch sử nhân loại, cách hành xử của Người vượt hẳn suy tưởng của chúng ta.
Lạy Chúa Giê-su, Chúa nhìn thấu tận đáy tâm hồn con người và không phê phán theo dáng vẻ bên ngoài, xin mở mắt cho con biết tôn trọng các anh em thiểu năng vì họ cũng được máu Chúa Ki-tô cứu chuộc. Amen
[1] Nick Vujicic, Đừng Bao Giờ Từ Bỏ Khát Vọng, Nxb TH HCM, tr.18.
Lm Luy Gonzaga Nguyễn Quang Vinh, Giáo xứ Đức An, Pleiku
______________________
Suy niệm 3: Lm. Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ
“Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được” (Ga 9:25).
Quý ông bà và anh chị em thân mến,
Hôm nay chúng ta được nghe câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành một bệnh nhân bị mù từ thuở mới sinh. Câu chuyện này khá dài và có nhiều đoạn đối thoại khác nhau giữa các nhân vật khác nhau. Vì thế, chúng ta hãy chiêm ngắm từng mẩu đối thoại ấy và xin Chúa giúp chúng ta nhận ra lời mời gọi của Người trong đời sống đức tin của mình.
Trước tiên là đoạn đối thoại giữa thầy trò Đức Giêsu về đề tài Tội Lỗi. Các môn đệ thắc mắc về tội riêng và tội di truyền (x. Rm 5:12). Đức Giêsu giải đáp sự tội bằng việc chữa lành cho người mù để giúp các môn đệ nhận ra tình yêu của Thiên Chúa vượt thắng mọi thứ tội. Tuy nhiên, có một thứ tội khác làm cho con người không thể nhận ra công trình cứu chuộc của Thiên Chúa nơi họ, đó là tội xã hội, tội “văn hóa”. Những đoạn đối thoại tiếp theo bày tỏ cho chúng ta nhận thấy các loại tội này.
Đoạn đối thoại kế tiếp là đoạn đối thoại giữa người mù và bà con làng xóm. Những người láng giềng của người đã từng bị mù không thể nhận ra anh ta, và khó đón nhận sự thật về sự lành bệnh của anh. Họ từ những người đang sáng mắt trở nên đui mù, vì không thể nhận ra sự thật trước mắt họ, như lời khẳng định của Chúa Giêsu: “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!” (Ga 9:39)
Kế đến là đoạn đối thoại giữa người đã từng bị mù với những người Pharisêu. Những người Pharisêu cũng không thể đón nhận phép lạ đã xảy ra trên anh này, vì họ bị luật sa-bát kìm hãm và tự giam mình trong bóng tối của tội lỗi do văn hóa xã hội gây ra. Đoạn đối thoại này cũng chứng minh việc Đức Giêsu “vi phạm luật ngày Sa-bát” không phải mang tội. Đối với người Pharisêu, một người có tội không thể làm được những việc phi thường và những phép lạ trên người khác. Hơn nữa, lời chứng và lời biện luận của người mù được chữa lành càng giúp chúng ta hiểu thứ tội người Pharisêu đang mang trên thân xác họ: “Xưa nay chưa hề nghe nói có ai mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9:32-33). Nếu chúng ta để ý, cứ mỗi lần người ta đối thoại với người được chữa lành, thì anh này lại có dịp làm chứng về người đã chữa lành cho anh.
Đối thoại với người mù được chữa lành không xong, người Do Thái đối thoại với cha mẹ anh ta để tìm cách trả thù, nhưng sự khôn ngoan của ba mẹ anh này giúp họ thoát khỏi thứ tội xã hội sắp gây hại cho họ. Điều đó cũng chứng minh rằng nguyên nhân bệnh tật không phải do tội lỗi riêng của người mang bệnh, cũng không phải do di truyền. Bệnh mù lòa nơi thân xác phản ánh bệnh mù lòa của tâm hồn, do lịch sử xã hội gây ra dưới sự chỉ đạo của sự dữ và chỉ có uy quyền và tình thương của Thiên Chúa mới giúp con người chiến thắng và được giải thoát khỏi thứ tội này.
Chứng kiến và hưởng nhờ một phép lạ siêu nhiên, người mù được chữa lành gặp và đối thoại với Đức Giêsu và anh ta thể hiện niềm tin son sắt vào Đấng đã chữa lành cho anh. Qua cuộc gặp gỡ này, anh ta không chỉ được chữa lành bệnh mù thể xác, nhưng còn được chữa lành con mắt tâm hồn. Anh đã nhận ra Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa và phủ phục tôn thờ Người. Còn những người Pharisêu, họ là những người bị giam cầm trong tội bởi vì sự sáng mắt của họ: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn!” (Ga 9:41) Như thế, tội của người Pharisêu là tội cứng lòng không chịu tin vào Con Thiên Chúa và những gì các ngôn sứ đã nói về Người.
Không tin Thiên Chúa là sống trong sự tội. Nguyên nhân của sự tội này là do các nền văn hóa và xã hội gây ra, cũng như do sự bướng bỉnh nơi tâm trí của con người. Sự Tội này gây ra tội ác cho người khác, làm cho thế giới này thiếu vắng nền văn minh tình thương và sự sống. Đối diện với thực trạng này, chúng ta phải làm gì để cộng tác vào công trình cứu chuộc còn dang dở của Con Thiên Chúa? Chúng ta nên làm gì cách cụ thể để giúp những người chưa tin Thiên Chúa được tin vào Thiên Chúa, nhờ đó họ được giải thoát khỏi sự tội?
Mùa Chay là mùa thay đổi, mùa sống chậm lại để xét mình kỹ hơn, và đã đi qua một nửa đoạn đường. Đã đến lúc chúng ta cần chiêm nghiệm sâu hơn về bản thân để được nên đồng hình đồng dạng với Chúa: Chúa Giêsu không ngại va chạm với người chống đối, không sờn lòng nản chí khi thi hành sứ mạng, không để bả vinh hoa phú quý hay sự sống đời tạm làm chùn chân hoặc thay lòng đổi dạ, nhưng vững bước đi ra gặp gỡ và nâng đỡ những người cần đến Ngài. Ngài đã đạt tới cảnh giới “vô vi” và “vô ngã” nên Ngài chu toàn sứ mạng được trao phó; phần chúng ta, chúng ta đang ở mức độ nào?
Chúc quý vị cầu nguyện sốt sắng!
(Lm Giuse Đỗ Cao Bằng, SJ – Giáo xứ Hoa Lư, Pleiku)
![]()
